Chương 1. Cơ sở lí luận và thực tiễn 1. Một số khái niệm t. Đa phương tiện Da phương tiện thiết kế hệ thống dựa trên cách tiếp cận đa giác quan, đa truyền thông, đa nhiệm và đa người dùng.
Theo đó, đa phương tiện cho phép mọi người trải nghiệm bằng nhiều giác quan, kết hợp các hình thức và phương thức đẻ thực hiện đa nhiệm vụ trong cùng một thời gian (Marmolin, H. Dạy học đa phương tiện được thiết kế bằng việc lựa chọn các văn bản, âm thanh, hình ảnh và sử đụng nó một cách có mục đích nhằm hỗ trợ quá trình giáo dục (Iqbal, $. Vì vay, khái niệm đa phương tiện có thẻ hiểu là sự kết hợp của âm thanh, văn bản, hình ảnh, video, nghệ thuật. được truyền tải bang các nên tảng Kĩ thuật sé (Vaughan, T.
Đồng thời, dạy học đa phương tiện can có sự hỗ trợ của các phương tiện dạy học hiện nay, từ đơn giản (video, hình ảnh,.) đến phức tạp (công nghệ thực tế áo - VR, công nghệ thực tế tăng cường - AR) (Santos, M. Từ những định nghĩa đã thu thập, đa phương tiện được nhìn dưới góc độ là một phương tiện hỗ trợ quá trình dạy học. Nó thường bao gồm tối thiêu hai trong số các yếu tô như âm thanh, hình ảnh, văn bản, video,. Từ đó, hỗ trợ giáo viên và học sinh tiếp cận với thông tin một cách đa chiều, đa giác quan.
Day cũng là định nghĩa được nhóm sử dụng dé lên ý tưởng và thiết kế sản phẩm. Flashcard va flashcard đa phương tiện Flashcard được xem là một công cu hỗ trợ giáo viên, học sinh trong quá trình tô chức và tham gia vào các hoạt động day học. Theo đó, flashcard là “những tam thẻ nhỏ bao gồm văn bản, hình ảnh hoặc kí hiệu nhằm khơi gơi, định hướng học sinh về những vấn đề liên quan; từ đó, kích thích người học nảy ra những ý tưởng theo mong đợi của giáo viên ” (Sudrajat, A. Qua từng bước phát triển của xã hội, các phương tiện dạy học đều được cải tiền và thường được trang bị thêm yêu tô kĩ thuật số, đặc biệt là trong thdi đại 4.
Từ đó, flashcard đa phương tiện ra đời như một hình thức học tập phối hợp giữa truyền thong va hiện đại. Day là một công cụ trực quan giúp các sự kiện, thông tin đẻ cập tới được nhìn đưới nhiều góc độ và khía l§ cạnh (Utami, E. Flashcard đa phương tiện là sự ứng dụng của yếu tố công nghệ vào phương tiện dạy học, từ đó làm cho hiệu quả sử dụng của flashcard trở nên tốt hơn (Sudrajat, A. Tóm lai, flashcard đa phương tiện có thê hiểu là sự kết hợp giữa hình thức của những tâm thẻ và sự hỗ trợ của đa phương tiện.
Nói cách khác, flashcard đa phương tiện là bộ thé truyền tải thông tin bang tối thiêu hai yêu tô (hình anh, âm thanh, vidco,.), trong đó đảm bảo có một yeu tố là văn ban. Việc lựa chọn các yeu tố dé đưa vào sản phẩm phụ thuộc hoàn toàn vào thông tin và mục đích tổ chức hoạt động của giáo viên. Dạy học tích hợp Dạy học tích hợp được hiểu là một quá trình tư duy, trong đó, các mối liên kết giữa các kiến thức vả hiện tượng được khám phá. phát hiện và hình thành.
Điều nay làm cho việc học trở nên chân chính và có ý nghĩa hơn (Hoàng Thị Tuyết, 2012). Nó yêu cầu người học sử dụng những kiến thức, kĩ năng dé giải quyết một vẫn dé cụ thé (Lê Ngọc Tường Khanh, 2017). Dạy học tích hợp yêu cầu giáo viên định hướng, đặt ra các nhiệm vụ nhằm tạo cơ hội cho học sinh huy động thông tin, cách xử lí từ nhiều lĩnh vực khác nhau dé giải quyết các van đẻ thực tiễn (Đậu Thị Thu Hiên, Trịnh Công Son, 2018). Ngoài ra, day học tích hợp còn là quá trình giáo viên định hướng cho học sinh cách ứng xử và tương tác với xã hội.
Để đáp ứng được các yêu cầu vừa nêu, các hoạt động dạy học tích hợp cần bộc lộ được nhiều khía cạnh của van dé. Qua đó, học sinh có thê tiếp cận đa chiêu và liên kết chúng với những kiến thức đã học (Huber, M. Với các nội dung đã thu thập, có thé xem day học tích hợp là một quan điểm giáo dục phô biến và được nhiều người quan tâm. Trong đó, mục tiêu chính là giúp học sinh giải quyết các tình huống do bản thân hoặc giáo viên đặt ra từ các kiến thức của nhiều lĩnh vực khác nhau.
Đây chính là hướng tiếp cận của nhóm nghiên cứu về dạy học tích hợp khi xây dựng kế hoạch bài dạy trong đề tài này. Van hóa Văn hóa là khái niệm được nhìn nhận dưới da góc dé, tùy thuộc vào từng lĩnh vực khác nhau như dan tộc học, nhân loại học, văn hóa học, xã hội học,. Theo thống kê năm 1952, có đến 164 công trình nghiên cứu đề cập đến định nghĩa về văn hóa (Trịnh Thị Phan Lan, Nguyễn Thùy Linh, 2010)., văn hóa là những biéu tượng được đúc kết và truyền đạt thông qua hành vi, mang những đặc trưng của cộng dong sinh sống. Nó là kết quả độc đáo do con người tạo ra, bao gồm cả những món đồ tạo tác (Tran Quốc Vượng et al., 2006, Chu Hồng Thanh, 2019).
Văn hóa được nhà nhân loại học định nghĩa là các yếu tô trong một xã hội phức tạp cho môi liên hệ mật thiết với bản than con người như các truyền thống, tập quán, thói quen hay nhận thức,. Văn hóa bao gồm cả những trải nghiệm, tưởng tượng, mã hóa (có thé được hiểu dưới dạng biêu tượng hay kí hiệu). ít nhiều được tô chức, học hỏi hoặc tạo ra bởi một cá nhân trong cộng đồng. Những yếu té này thường được lưu giữ, truyền tải từ các thé hệ đi trước, từ các thé hệ hiện tại hoặc từ một nhóm người cụ thể (Schwartz, T.
Văn hóa có thé được xem là một hệ thống của tư tưởng nhằm định hình những nhóm người trong cùng một cộng đông với các nhóm cộng đông khác (Hofstede, 1994). Do đó, văn hóa mang những ánh hướng của nhu cầu và mục đích của con người trong xã hội. Theo Chủ tịch Hồ Chi Minh, “Vi lẽ sink ton cũng nh mục dich của cuộc song, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, dao đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ sinh hoạt hằng ngày về mặc. ăn, ở và các phương thức sử dụng.
Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hóa ” (Hồ Chí Minh). Tổng hợp những điểm chung của các định nghĩa, có thé thay văn hóa bao gồm các giá trị vật chat va tinh than do con người ké thừa, học hỏi tạo nên dựa trên bối cảnh xã hội thực tế. Từ đó, nền văn hóa của mỗi quốc gia déu mang những nét đặc trưng và khăng định sự độc đáo vẻ truyền thông dân tộc. Học liệu điện tử Học liệu điện tử đã xuất hiện từ rất lâu trước đây.
Nhưng với thời đại mà công nghệ thông tin, khoa học kĩ thuật phát triển rất nhanh như hiện nay, việc chuyền các học liệu truyền thống sang học liệu số hoặc thiết kế thêm các học liệu điện tử là vô cùng cần thiết. Về định nghĩa, “học liệu điện tứ là các tài liệu học tập được số hóa theo một cau trúc, định dạng và kịch bản nhất định được lieu trữ trên may tính nhằm phục vụ việc dạy và học qua máy tinh” (Trịnh Lê Hồng Phương, 2012). Hay trong tai liệu “Các yéu tổ tác động đến việc sử dụng học liệu điện tử trong dạy học ”, Tran Duong Quốc Hỏa (2016) dé cập đến học liệu điện tử (e-courseware) “được xem nhự một tài liệu học tập được 20 cung cap dưới định dạng điện tứ, la sự tích hợp của các dang thức da phương tiện được số hóa khác nhau như: Văn ban (text), âm thanh (sounds), hoạt hình (animations) ”. Dựa vào các khái niệm trên, ta có thể hiểu học liệu điện tử là một công cụ được số hóa từ các học liệu có sẵn hoặc được thiết kế dé phù hợp với mục tiêu dạy học hoặc nhiều mục đích học tập khác nhau.
Học liệu sẽ được xử lí, lưu trữ trên đám mây điện tử, bộ nhớ máy tính và truyền tải qua mạng Internet. Học liệu điện tử cho phép tích hợp đa phương tiện dé người day và người học được khám pha tri thức một cach sâu sắc nhất. Một số phương tiện số hóa được sử dụng như văn bản, hình ảnh, âm thanh, hoạt hình, slide,. hoặc có thé kết hợp nhiều phương tiện vào một học liệu.
Lợi ích của ứng dụng đa phương tiện trong day học Dựa trên các công trình nghiên cứu từ trước, mỗi học sinh đều có những cách tiếp cận khác nhau đối với các kiến thức trong lớp học. Đó có thé là học thông qua ghi chép, quan sát, lắng nghe,. Điều nay dan đến các tiết học hiện nay thường được tô chức ở đa dang các hình thức (Eltahir, M. Chính vi thé, đa phương tiện với khả năng cung cap những trải nghiệm đa giác quan, giúp người học đạt được mục tiêu học tập một cách tốt nhất.
Bang cách học tập thông qua đa giác quan, học sinh sé dé dang tiếp cận và ghi nhớ các nội dung, kiến thức tại lớp học. Nó giúp người học chuyên dan từ trí nhớ ngắn hạn sang trí nhớ dai hạn (Pashler, H. Tuy nhiên, ứng dụng đa phương tiện trong học tập chỉ thật sự có hiệu quả khi giáo viên tạo ra được những hoạt động đa dạng dé các em có cơ hội tiếp cận sâu hơn với kiến thức. (2013), ứng dung đa phương tiện trong dạy học giúp học sinh nâng cao và phát triển năng lực của ban thân theo thang nhận thức Bloom.
Việc sử dụng đa phương tiện giúp cho quá trình học tập trở nên dé dang hon, học sinh cũng ghi nhớ và hiểu kiến thức nhanh hơn (Guan, N. Bằng cách sử dụng yếu tô đa phương tiện, vai trỏ của người học trong các tiết học chuyên từ việc thu thập thông tin sang phân tích, tông hợp và trình bày. Điều này giúp cho các em nhúng sâu hơn vao quá trình học tập. Lúc nay, mục tiêu chính không còn là khối lượng kiến thức học sinh ghi nhớ được ma là khối lượng kiến thức học sinh có thé hiệu, phân tích va sử dụng được (Andresen, B.
(2015) cho rằng bên cạnh những lợi ích ma đa phương tiện mang lại, giáo viên cần có cái nhìn khách quan hơn đối với việc sử dụng các yếu tô này trong dạy học.