CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 1. Tổng quan vấn đề nghiên cứu 1. Dạy môn khoa học bằng tiếng Anh ở nước ngoài Tại Mỹ, nhiều học sinh có chủng tộc, ngôn ngữ khác nhau. Sự đa dạng về ngôn ngữ của học sinh đã được tăng lên nhanh chóng trong tất cả các vùng của nước Mỹ.
Hơn 5,5 triệu, hoặc 11%, học sinh các trường công lập hiện nay được phân loại như những người học tiếng Anh (NCES 2006), và các Trường, Tỉnh, và các Bang gặp nhiều khó khăn trong dạy học các môn học cho học sinh (NSF 2006). Cùng với việc giảm số lượng thời gian lớp học dành cho việc giảng dạy môn khoa học, nhiều sinh viên không được hướng dẫn đầy đủ và không được tiếp cận với các chương trình học môn khoa học có chất lượng. Hiệp hội Khoa học Giáo viên Quốc gia Mỹ (NSTA) khẳng định rằng tất cả học sinh, kể cả những người được xác định là người học tiếng Anh (ELL), có thể và cần phải có mọi cơ hội để học hỏi và thành công trong học môn khoa học. Giáo viên đóng một vai trò quan trọng và trung tâm trong quá trình này và sẽ nhận được hỗ trợ cần thiết.
Tương tự như vậy, điều quan trọng cho các trường học và hệ thống trường học để dành thời gian và nguồn lực để phát triển chuyên nghiệp hiệu quả cho tất cả giáo viên môn học, kể cả những người dạy cho người học tiếng Anh (NSTA 2006). [14] Dự án nghiên cứu TESOL (Teachers of English to Speakers of Other Languages) chỉ ra rằng: Điều quan trọng mà các nhà giáo dục, người dạy môn khoa học cho học sinh được xác định là có tiếng Anh thành thạo trong nội dung khoa học và phương pháp sư phạm, có kĩ năng cao trong phương pháp sư phạm tích hợp dạy tiếng Anh và môn khoa học. Việc tích hợp này và thúc đẩy năng lực sử dụng ngôn ngữ học thuật tiếng Anh trong các lĩnh vực của môn học khoa học (TESOL 2006). Nghiên cứu về giảng dạy đáp ứng về mặt văn hóa, hướng dẫn tìm tòi và hướng dẫn bằng tiếng Anh cải thiện kết quả 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com học tập học sinh đạt được trong cả khoa học và văn hóa, cũng như thu hẹp khoảng cách thành tích học tập cho học sinh được xác định là người học tiếng Anh (Amaral, Garrison, và Klentschy 2002; Lee et al 2005;.
Lee et al 2008;. Thomas và Collier 2002). [13] Một số nhà nghiên cứu đưa ra giả thuyết: việc học một ngôn ngữ thứ hai cũng như học ngôn ngữ đầu tiên, họ cho rằng bộ não có thể có thói quen hoặc lập trình để tìm hiểu ngôn ngữ, do đó, bất kể đó là ngôn ngữ đầu tiên hoặc sau này được học, quá trình học ngôn ngữ là tương tự. Do đó, giống như một đứa trẻ sẽ học ngôn ngữ đầu tiên của mình trong bối cảnh bắt gặp hàng ngày trong thế giới thực và giao tiếp với người khác.
Vì thế sẽ một học sinh học một ngôn ngữ thứ hai tốt nhất khi họ có thể tìm hiểu nó trong một môi trường thực tế và giao tiếp (Radford, Netten, & Duquette, 1997). [12] Hai loại ngôn ngữ trong lớp học: ngôn ngữ xã hội và ngôn ngữ học thuật. Ngôn ngữ xã hội là theo ngữ cảnh, cho phép học sinh dựa vào ngôn ngữ mẹ đẻ để suy ra ý nghĩa và giải thích các dấu hiệu và ngôn ngữ cơ thể. Ngôn ngữ học thuật là trừu tượng hơn và việc hiểu ngôn ngữ học thuật theo nghĩa thông thường có thể mất ý nghĩa của thuật ngữ khoa học.
Trong bài học, học sinh thường xuyên phải xây dựng kiến thức dựa vào sự hiểu biết riêng của họ về cả ngôn ngữ và các khái niệm liên quan. Chúng đều quan trọng để học sinh học tập và phát triển trong xã hội, học sinh có thể tương đối thành thạo ngôn ngữ xã hội, họ vẫn phải được dạy để sử dụng ngôn ngữ học thuật (Kang & Pham, 1995; Laplante, 1997; Lee & Fradd, 1996). [10] Nhiều tranh luận nên chọn sử dụng ngôn ngữ giảng dạy chính, tiếng Anh hoặc ngôn ngữ mẹ đẻ của học sinh. Nghiên cứu cho thấy rằng ngôn ngữ mẹ đẻ của học sinh có thể đóng một vai trò quan trọng trong khoa học và toán học của họ học tập.
Khi học sinh được phép sử dụng tiếng mẹ đẻ trong lớp học, thành tích học tập cũng như phát triển ngôn ngữ tiếng Anh thường xuyên cải thiện (Kang & Pham, 1995; Latham, 1998). Nó có thể đặc 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com biệt hữu ích cho học sinh sử dụng ngôn ngữ của họ trong việc học. Điều này có thể cho phép họ xây dựng một nền tảng của khái niệm toán học và khoa học trước khi vào lớp cao hơn (Rupp, 1992). Nghiên cứu cho thấy rằng "kỹ năng trong các lĩnh vực nội dung như toán học và khoa học xã hội, một khi đã học trong các ngôn ngữ đầu tiên, được giữ lại khi chuyển sang ngôn ngữ thứ hai (James Crawford (1995).
Một hội nghị năm 1999 của Bộ Ngoại giao Mỹ và Văn phòng Giáo dục song ngữ và Ngôn ngữ thiểu số tổ chứckhảo sát thực tiễn dựa trên nghiên cứu thành công cho sinh viên ngôn ngữ thiểu số kết luận rằng học sinh đạt được tốt hơn trong toán học và đọc khi ngôn ngữ mẹ đẻ của họ được đưa vào chương trình giảng dạy (Viadero, 1999). [14] Trong học tập Toán học và khoa học tự nhiên, việc tìm tòi và giải quyết vấn đề bằng tiếng Anh là thách thức cho học sinh. Nghiên cứu khoa học và giải quyết vấn đề toán học đòi hỏi đặt câu hỏi, mô tả, giải thích, đề xuất giả thuyết, tranh luận, chứng minh và trình bày kết quả. Việc đòi hỏi sử dụng ngôn ngữ là rất lớn, học sinh sẽ được học các kỹ năng tiếng Anh quan trọng cũng như kiến thức Khoa học và toán học (Buxton, 1998; Crawford, 1995; Kang & Pham, 1995; Kessler, Quinn, & Fathman, 1992; Laplante, 1997).
Cách tiếp cận dạy học các môn khoa học bằng tiếng nước ngoài CLIL (Language Integrated Learning) được đề xuất bởi David Marsh, Đại học Jyväskylä, Phần Lan (1994): "CLIL đề cập đến cách dạy học mà các nội dung khoa học, hoặc các bộ phận của nội dung khoa học, đều được dạy bằng tiếng nước ngoài với mục đích kép cụ thể là việc học tập nội dung khoa học và học tập đồng thời một ngôn ngữ nước ngoài ". [10] Các hình thức tổ chức dạy học CLIL giảng dạy đã được thực hiện trong nhiều năm, từ những năm sáu mươi khi giáo dục song ngữ đã được giới thiệu tại nhiều trường học trên khắp thế giới. Thậm chí có thể giáo viên không nhận thức được CLIL đã được sử dụng phương pháp CLIL trong nhiều năm. Giáo 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com viên khoa học trong các chương trình CLIL cần phải biết ngôn ngữ học thuật cụ thể mà học sinh cần để truyền đạt kiến thức của họ về các khái niệm khoa học, quy trình, chức năng và mục đích.
Họ cũng cần phải đặt câu hỏi khoa học, để phân tích những ý tưởng khoa học, để đánh giá các bằng chứng thực nghiệm và đưa ra kết luận và biện minh cho họ. Để đạt được năng lực trong ý tưởng giao tiếp, giáo viên sẽ giúp học viên nhận thấy các mẫu ngữ pháp quan trọng cũng như từ vựng nội dung quan trọng. Dạy học các môn khoa học bằng tiếng Anh ở Việt Nam Dạy học các môn toán - khoa học tự nhiên bằng tiếng Anh là một trong những nhiệm vụ trọng tâm của Đề án “Dạy và học Ngoại ngữ trong hệ thống giáo dục quốc dân giai đoạn 2008-2020” và Đề án “Phát triển hệ thống trường THPT chuyên giai đoạn 2010 -2020” do Thủ tướng Chính phủ phê duyệt. Mục đích của đề án dạy toán và các môn khoa học bằng tiếng Anh là nâng cao năng lực ngoại ngữ của học sinh.
Tuy nhiên, vẫn còn những bất cập, những khó khăn, đặc biệt là đối với công tác bồi dưỡng đội ngũ giáo viên dạy các môn toán - khoa học tự nhiên đạt chuẩn Tiếng Anh. Đã có một số công trình nghiên cứu về dạy các môn khoa học như Hóa học bằng tiếng Anh. Trong các nghiên cứu tập trung xây dựng hệ thống từ vựng, thuật ngữ môn học bằng tiếng Anh. Các nghiên cứu cho rằng: thứ nhất, trong dạy và học tiếng Anh, từ vựng là một trong ba thành tố tạo thành hệ thống kiến thức ngôn ngữ và đóng vai trò là phương tiện, điều kiện hình thành và phát triển kỹ năng giao tiếp.
Như vậy, việc học từ vựng và rèn luyện kĩ năng sử dụng từ vựng là yếu tố hàng đầu trong việc truyền thụ và tiếp thu một ngôn ngữ nói chung và tiếng Anh nói riêng. Thứ hai, cần tập trung xây dựng hệ thống mẫu câu tiếng Anh sử dụng trong dạy học môn học, ở mỗi ngành khoa học đều có mẫu câu chung và mẫu câu riêng được sử dụng trong quá trình dạy học. Để thuận lợi trong việc dạy học hoá học bằng tiếng Anh, cần phải xây dựng hệ thống các loại mẫu câu chung và riêng cho mỗi chương, mỗi 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Trước hết cần phải xây dựng được hệ thống mẫu câu bằng tiếng việt, sau đó giáo viên thực hiện việc phân loại mẫu câu và chuyển mẫu câu tiếng Việt thành tiếng Anh.
Trong quá trình soạn giáo án lên lớp, giáo viên sử dụng mẫu câu đã xây dựng để hoàn thiện giáo án mà không cần phải vừa soạn giáo án vừa xây dựng mẫu câu và chuyển mẫu câu thành tiếng Anh. Một thực tế là nhiều học sinh các trường chuyên có tư duy tốt, đặc biệt là các môn khoa học tự nhiên nên khả năng tiếp thu môn học này bằng tiếng Anh khá tốt. Nhiều em có quá trình học ngoại ngữ nhiều năm ở các lớp học dưới nên kiến thức của các em về môn học lẫn ngoại ngữ đều rất phong phú. Trước thực tế này, nhiều giáo viên tỏ ra e ngại khi trình bày bài giảng với các học sinh.
Về chương trình các môn khoa học ở phổ thông còn nặng về tính toán trong khi nhiều kiến thức lý thuyết nên việc đảm bảo vừa nâng cao chương trình vừa đáp ứng nhu cầu thi đại học với số đông học sinh. Hơn nữa, các vấn đề chuyên môn khó thì nếu sử dụng tiếng Anh để giảng dạy HS sẽ không thể hiểu được khi ngoại ngữ vẫn còn là rào cản. Từ 23 tháng 11 đến 25 tháng 12 năm 2015, Hội đồng Anh tại Việt Nam vừa tổ chức khóa học Phương pháp Giảng dạy môn chuyên ngành bằng tiếng Anh (ATE) lần đầu tiên tại Việt Nam.