Chương 1. Cơ sở lý luận và thực tiễn cho việc vận dụng quan điểm hoạt động trong dạy học Giải tích ở THPT. Vận dụng quan điểm hoạt động của PPDH trong việc dạy học Giải tích 11 THPT. Thực nghiệm sư phạm.
9 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CHO VIỆC VẬN DỤNG QUAN ĐIỂM HOẠT ĐỘNG VÀO DẠY HỌC GIẢI TÍCH Ở THPT 1. Quan đ ểm hoạt động trong dạy học Toán Dựa trên thuyết hoạt động của Vưgotxki, A. Lenochiepv nhà tâm lí học kiệt xuất, đã nghiên cứu và đi đến kết luận quan trọng là “Hoạt động là bản thể của tâm lí”, nghĩa là HĐ có đối tượng của con người chính là nơi sản sinh ra tâm lí con người.Bằng hoạt động mỗi người tự tạo dựng và phát triển ý thức mình. HĐ tâm lí dùng để giải quyết hàng loạt các vấn đề lí luận chủ yếu là việc hình thành HĐ học tập cho người học.
Xung quanh vấn đề này trước hết c n hình thành cho người học các đơn vị chức năng của HĐ học tập: Động cơ mục đích học tập để qua đó hình thành thao tác hành động và HĐ học. Trong quá trình đó hình thành hành động học là khâu trung tâm. Sau khi đã có HĐ học c n chuyển từ HĐ thứ yếu lên mức HĐ chủ đạo trong quá trình phát triển của người học. Hoạt động của người học đóng vai trò quan trọng trong quá trình dạy học.
Mỗi nội dung dạy học đều liên hệ với những HĐ nhất định. Trước hết đây là những HĐ đã được tiến hành trong quá trình lịch sử hình thành và ứng dụng những tri thức được bao hàm trong nội dung này cũng chính là những HĐ để người học có thể kiến tạo và ứng dụng những tri thức trong nội dung đó. Trong quá trình dạy học ta còn phải kể tới cả những HĐ có tác dụng củng cố tri thức rèn luyện những kỉ năng và hình thành những thái độ liên quan. Quan điểm này thể hiện rõ nét mối liên hệ giữa mục đích nội dung và PPDH.
Nó hoàn toàn phù hợp với những luận điểm cơ bản của giáo dục học cho rằng con người phát triển trong HĐ và học tập diễn ra trong HĐ phương pháp dạy học mới là phương pháp tỏ chức HĐ có đối tượng. Do việc xác minh các đối tượng HĐ dựa trên cơ sở tổ chức HĐ của người học là nền tảng cơ bản để tiến hành giáo dục hiệu quả. Việc thiết kế các HĐ tạo môi trường cho HS được học tập trong HĐ và bằng HĐ là yêu c u quan trọng của việc định hướng đổi mới PPDH hiện nay. Khái niệm hoạt động - Hoạt động là quá trình tác động qua lại tích cực giữa con người với thế giới khách quan mà qua đó mối quan hệ thực tiễn giữa con người với thế giới khách quan được thiết lập.
10 - Trong mối quan hệ có hai quá trình diễn ra đồng thời bổ sung cho nhau, thống nhất với nhau là quá trình đối tượng hóa và quá trình chủ thể hóa. Quá trình đối tượng hóa là quá trình chủ thể chuyển năng lực của mình thành sản phẩm của hoạt động, hay nói khác đi tâm lí người được bộc lộ, được khách quan hóa trong quá trình làm ra sản phẩm. Quá trình chủ thể hóa là quá trình chuyển từ phía khách thể vào bản thân chủ thể những quy luật, bản chất của thế giới để tạo nên tâm lý, ý thức nhân cách của bản thân bằng cách chiếm lĩnh thế giới. Như vậy, trong hoạt động con người vừa tạo ra sản phẩm về phía thế giới, vừa tạo ra tâm lý của mình, hay nói khác đi tâm lý, ý thức, nhân cách được bộc lộ và hình thành trong hoạt động.
- Về phương diện tâm lí học: Lí thuyết lịch sử - văn hóa về các chức năng tâm lí của A. Leonchiepv về các bước hình thành hành động trí tuệ có thể nói là những cơ sở tâm lí học cho việc xác định QĐHĐ trong dạy học. Vưgotxki đã đưa ra khái niệm về vùng phát triển g n nhất, tạo cơ sở khoa học cho dạy học tương tác và dạy học phát triển,. Về hình thức tổ chức dạy học, có thể hiểu dạy học là sự hợp tác giữa người dạy và người học.
Đồng thời, HĐ dạy và HĐ học là HĐ hợp tác giữa GV và học sinh. Theo đó, GV thiết kế các tình huống dạy học sao cho các HĐ tương tác giữa GV và HS trong vùng phát triển g n nhất của HS, từ đó giúp HS tự mình chiếm lĩnh tri thức, hình thành và rèn luyện kĩ năng. Leonchiepv đã giải thích được bản chất của HĐ và cơ sở tâm lí của việc hình thành nó trong dạy học. Theo ông, “HĐ là một quá trình thực hiện sự chuyển hóa, sự tác động qua lại giữa hai cực: chủ thể - khách thể.
Theo nghĩa rộng, nó là đơn vị phân tử, chứ không phải là đơn vị cộng thành của đời sống chủ thể nhục thể. Đời sống của con người là một hệ thống (một dòng) cá HĐ thay thế nhau. HĐ theo nghĩa hẹp hơn, tức là cấp độ tâm lí học, là đơn vị của đời sống, mà khâu trung gian phản ánh tâm lí, có chức năng hướng dẫn chủ thể trong thế giới đối tượng”. Trong đó, con người là chủ thể, thế giới xung quanh là khách thể.
Như vậy, HĐ là tiến hành những việc làm có quan hệ chặt chẽ với nhau nhằm một mục đích nhất định trong một chỉnh thể, vận động cử chỉ nhằm một mục đích nhất định. HĐ là toàn bộ hành vi của một sinh thể. - Theo từ điển giáo dục: HĐ là hình thức biểu hiện quan trọng nhất của mối liên hệ tích cực, chủ động của con người đối với thực tiễn xung quanh. Còn đối với từng khía cạnh thực tiễn, HĐ là quá trình diễn ra một loạt các hành động có liên quan chặt 11 chẽ với nhau tác động vào đối tượng nhằm đạt được những động cơ nhất định trong đời sống xã hội.
HĐ của con người luôn xuất phát từ những động cơ nhất định trong đời sống xã hội. HĐ của con người luôn xuất phát từ những động cơ nhất định do sự thôi thúc của nhu c u, hứng thú, tình cảm, ý thức trách nhiệm, cả động cơ và mục đích cùng thúc đẩy con người tích cực và kiên trì khắc phục khó khăn để đạt được kết quả mong muốn. Tuy nhiên, với cùng một mục đích HĐ như nhau có thể có những động cơ khác nhau. Ngoài các yếu tố mục đích và động cơ nêu trên, HĐ còn có đặc trưng là phải biết sử dụng các phương tiện nhất định mới thực hiện được như: công cụ và cách sử dụng công cụ, phương tiện ngôn ngữ và các tri thức chứa đựng trong ngôn ngữ, cách thức làm việc bằng trí óc và chân tay.
Nghĩa là hoạt động đòi hỏi phải có kĩ năng, kĩ xảo sử dụng các phương tiện. Hình thức cơ bản trong HĐ của con người là lao động nhằm tạo ra những giá trị vật chất và tinh th n để thỏa mãn các nhu c u của mỗi người và toàn xã hội. Trong quá trình phát triển lịch sử, HĐ lao động đã phân hóa dưới hai hình thức là tri óc và chân tay, nhưng vẫn luôn gắn bó chặt chẽ với nhau. Xã hội càng văn minh, càng phát triển thì thành ph n trí tuệ trong hoạt động của con người càng tăng và lấp d n khoảng cách giữa HĐ trí tuệ và HĐ cơ bắp trong quá trình tạo ra các giá trị cho xã hội.
Để tham gia vào các hoạt động, con người phải có những năng lực HĐ nhất định. Năng lực này là một ph n phụ thuộc vào tố chất bẩm sinh của mỗi người, tuy nhiên nó chủ yếu phụ thuộc các điều kiện hoàn cảnh, cụ thể là phụ thuộc vào các yếu tố giáo dục. HĐ là phương thức tồn tại của cuộc sống chủ thể. Cuộc sống là “tổ hợp, hay nói một cách chính xác hơn là hệ thống những HĐ thay thế nhau”.
- Theo triết học: Trong lí luận nhận thức của triết học Mác - Lênin, phạm trù hoạt động được đề cập đến như là cơ sở để bàn về vấn đề nhận thức. HĐ là phương tiện để sản sinh và phát triển và định vị chính bản thân mình. Mác đã tạo nền móng triết học cho một phương hướng tổ chức dạy học hiện đại: Dạy HS hành động sáng tạo để qua đó hiểu và cải tạo thế giới. Cơ sở triết học này cho ta ý nghĩa phương pháp luận rằng, nhiệm vụ của GV là tổ chức cho HS học tập thông qua hoạt động.
Hoạt động là quá trình diễn ra giữa con người với giới tự nhiên, một quá trình trong đó, bằng hoạt động của chính mình, con người làm trung gian, điều tiết và kiểm tra sự trao đổi chất giữa họ với tự nhiên. Lí thuyết hoạt động trong tâm lí học hiện đại Dựa trên quan điểm duy vật lịch sử về con người: “trong tính hiện thực của nó, bản chất con người là tổng hòa các mối quan hệ xã hội”. Mô hình lí luận xây dựng trên phạm trù HĐ đã trả lại cho tâm lí học con người cụ thể, con người xã hội - lịch sử, con người hành động, con người hoạt động. HĐ trở thành khái niệm then chốt trong bộ máy khái niệm của tâm lí học kiểu mới, tâm lí khách quan, khoa học.
Vận dụng sáng tạo phương pháp tiếp cận lịch sử vào công trình nghiên cứu tâm lí của mình A. Leonchiepv đã xây dựng nên tâm lí học HĐ. Đó là tâm lí học với phương pháp tiếp cận lấy HĐ có đối tượng làm mô hình nghiên cứu, lí giải, hình thành phát triển tâm lí, nhân cách con người. Toàn bộ lí thuyết về tâm lí học HĐ, cấu trúc vĩ mô của đối tượng HĐ được A.
Leonchiepv trình bày tóm tắt trong “Hoạt động - Ý thức - Nhân cách”. Cống hiến lớn nhất của ông là xây dựng nên PP tiếp cận HĐ. “Đối tượng của HĐ là động cơ thật sự của HĐ. Dĩ nhiên nó có thể là vật chất hay tinh th n, là có trong tri giác hay chỉ có trong tưởng tượng, trong ý nghĩ.
Điều chủ yếu là: “Đằng sau nó bao giờ cũng là nhu c u này hay nhu c u khác”. Khái niệm HĐ bao giờ cũng gắn liền một cách tất yếu với khái niệm hoạt động cơ. Không có HĐ nào không có động cơ, HĐ không động cơ không phải là HĐ. Đỗ Ngọc Đạt đã mô hình hóa cấu trúc của HĐ như sau: Thành ph n cơ bản hợp thành những HĐ riêng lẻ của con người là những hành động thực hiện HĐ ấy.
Chúng ta gọi hành động là quá trình nhằm một mục đích được ý thức.