phần Mở đầu, phần Kết luận – đề xuất, luận văn gồm 3 chƣơng chính: Chƣơng 1: Cơ sở lí luận và cơ sở thực tiễn Chƣơng 2: Bài tập mở rộng vốn từ theo hƣớng đa giác quan cho học sinh mắc chứng khó đọc. Chƣơng 3: Thử nghiệm BTMRVT theo hƣớng đa giác quan. Bên cạnh những trang chính văn, báo cáo còn có phụ lục gồm mẫu phiếu khảo sát giáo viên, phụ huynh; mẫu phiếu khảo sát khả đọc của học sinh; BTMRVT theo hƣớng đa giác quan cùng số lƣợng giáo án minh họa các hoạt động dạy học tƣơng đƣơng; và hình ảnh ghi nhận trong quá trình thực nghiệm hệ thống BTMRVT theo hƣớng đa giác quan cho học sinh lớp 1 mắc chứng khó đọc ở hai trƣờng Tiểu học trên địa bàn Tp. CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN 1.
Khái niệm về đọc và chứng khó đọc 1. Đọc Kỹ năng đọc là kỹ năng sống cơ bản của mỗi cá nhân, là công cụ quan trọng giúp con ngƣời mở rộng hiểu biết, nâng cao giá trị sống, giá trị văn hóa của mình. Hoạt động đọc luôn là đối tƣợng của nhiều nghiên cứu trên thế giới. Trong giới hạn những tài liệu hiện có, ngƣời nghiên cứu giới thiệu hai quan niệm về hoạt động đọc mà ngƣời nghiên cứu sử dụng quan điểm này trong toàn bộ Luận văn: Đọc là hoạt động mà ngƣời đọc sử dụng những kiến thức về ngôn ngữ và hiểu biết liên quan để giải mã kí tự của văn bản viết và truy tìm ý nghĩa của nó nhằm trao đổi, giao tiếp với ngƣời viết, để mở rộng vốn hiểu biết và phát triển nhân cách cá nhân [26, tr.
Đọc là một dạng hoạt động lời nói, là quá trình chuyển dạng thức chữ viết sang lời nói có âm thanh và thông hiểu nó (hoạt động đọc thành tiếng), là quá trình chuyển trực tiếp từ dạng thức chữ viết thành các đơn vị nghĩa không có âm thanh (hoạt động đọc thầm) [26, tr. Chứng khó đọc Chứng khó đọc là một dạng khuyết tật học tập, một dạng rối loạn về đọc dễ nhận ra với những biểu hiện nhƣ khó khăn trong việc giải mã từng chữ, đánh vần, đọc đúng, đọc lƣu loát. Chứng khó đọc là một thuật ngữ đƣợc sử dụng khi ngƣời ta gặp khó khăn trong việc học đọc hoặc viết, mặc dù họ có đủ thông minh và có động lực học tập. Những ngƣời bị chứng khó đọc không ngu ngốc hay lƣời biếng.
Chứng khó đọc tác động trƣớc hết đến khả năng đọc và viết, tuy nhiên, những khó khăn khác cũng đã đƣợc tìm thấy nhƣ thiểu năng trong ngôn ngữ nói cũng nhƣ những khó khăn phi ngôn ngữ khác [49]. 16 “Khó khăn về đọc là một trong số những khuyết tật về học. Đây là một rối loạn cục bộ có gốc thuộc vấn đề ngôn ngữ và đƣợc biểu hiện ra thành những khó khăn trong việc giải mã từng chữ, phản ánh sự thiếu khả năng xử lý âm vị. Nhƣ vậy, Orton Dyslexia Society (1994) đã đƣa ra quan điểm nhấn mạnh đặc điểm của chứng khó đọc đƣợc kết nối với giải mã từ, và những khó khăn với giải mã là do sự thiếu hụt về khả năng âm vị học.
Những khó khăn của HS mắc chứng khó đọc đƣợc gắn với khả năng đọc từ riêng lẻ. “Những khó khăn trong việc giải mã các từ rời nhƣ vậy thƣờng không liên quan đến độ tuổi hay các khả năng về nhận thức hay học vấn; không phải là hệ quả của khuyết tật trí tuệ hay giác quan”. Nghĩa là khả năng đọc và khả năng trí tuệ không có liên quan với nhau. Một số nhà nghiên cứu đã chứng minh ý kiến trên bằng cách so sánh kết quả đọc hiểu với nghe hiểu, HS mắc chứng khó đọc không hiểu văn bản HS đọc vì HS không giải mã đƣợc các từ rời, nhƣng nếu ngƣời khác đọc cho HS nghe, họ có thể hiểu văn bản đó.
Sự khác biệt giữa hai điểm này chỉ ra rằng HS mắc chứng khó đọc không bị khuyết tật trí tuệ. Cách tiếp cận này, hợp lý khi áp dụng đối với cả thanh thiếu niên và ngƣời lớn [44]. Phương pháp đa giác quan 1. Khái niệm Phƣơng pháp đa giác quan Orton - Gillingham là một phƣơng pháp giảng dạy nhằm mục đích chủ yếu áp dụng với những ngƣời gặp khó khăn trong việc đọc, đánh vần; luôn tập trung vào nhu cầu học tập của cá nhân học sinh.
Phƣơng pháp này thƣờng đƣợc kết hợp với mô hình giảng dạy "một giáo viên-một học sinh" [36]. Phƣơng pháp này đƣợc sử dụng để giảng dạy HS mắc chứng khó đọc có các loại của các vấn đề xử lý ngôn ngữ đọc, chính tả, và văn bản. Phƣơng pháp đa giác quan đòi hỏi sử dụng đồng thời tất cả giác quan chính cho việc học nhƣ thính giác, thị giác, xúc giác, bằng lời nói cũng nhƣ 17 nhận thức. Phƣơng pháp này quan trọng đối với học sinh mắc chứng khó đọc, các kỹ thuật học tập đa giác quan cải thiện năng lực đọc cho phần lớn các em học sinh cũng nhƣ những ngƣời mắc chứng khó đọc.
Một vài tiếp cận khác về đọc cho rằng nếu HS em nhìn thấy một một từ đủ thời gian cần thiết và trong hoàn cảnh nhất định họ sẽ nhớ từ và học cách sử dụng nó, phƣơng pháp đa giác quan cho học sinh cơ hội sử dụng các giác quan khác nhau của họ để ghi nhớ. Do đó, nếu họ không thể nhận diện đƣợc một từ, thính giác hoặc các vận động của họ có thể giúp đỡ họ. Chẳng hạn, khi giới thiệu từ mới, học sinh đƣợc dạy để viết dòng chữ lớn tƣởng tƣợng trong không khí, sử dụng vận động của cánh tay đồng thời đọc to từ ấy. Về mặt lý thuyết, một khi có các vận động có liên quan đến học tập, bộ nhớ vận động sẽ giúp học sinh ghi nhớ từ khi họ không thể hình dung từ trong tâm trí của họ.
Tƣơng tự nhƣ vậy, nếu học sinh không thể nhớ một từ, nhƣng họ bắt đầu "viết" nó với bàn tay và cánh tay của họ, các cơ bắp sẽ tự động tạo các kí hiệu một cách chính xác. Đặc điểm của phương pháp đa giác quan Kích thích hứng thú của ngƣời học. Ngƣời học đƣợc khuyến khích sử dụng một số hoặc tất cả các giác quan trong quá trình học tập: thính giác, thị giác, xúc giác/vận động nhằm cải thiện khả năng tìm hiểu và ghi nhớ. Phƣơng pháp đa giác quan đƣợc sử dụng nhằm mục đích giúp HS mắc chứng khó đọc cải thiện năng lực đọc dựa vào sự hỗ trợ của các giác quan.
Phƣơng pháp này khai thác triệt để kiến thức của ngƣời học để tích hợp với nội dung giảng dạy của GV. Nội dung giảng dạy đƣợc thực hiện toàn diện, giúp ngƣời học kiểm soát và duy trì khả năng ngôn ngữ của mình. Nội dung bài học đƣợc xây dựng, sắp xếp rõ ràng, có cấu trúc giúp ngƣời học hệ thống đƣợc những kiến thức cần hỗ trợ. Nội dung bài học đƣợc mô tả rõ ràng, trực tiếp và theo trình tự.
Phƣơng pháp đa giác quan đƣợc áp dụng trong việc mở rộng vốn từ thông qua những BT dạy nghĩa của từ, hệ thống hóa vốn từ, tích cực hóa vốn 18 từ. yêu cầu HS phải vận dụng các giác quan trong quá trình học tập: thính giác, thị giác, xúc giác, vận động. Hệ thống BTMRVT theo hƣớng đa giác quan đƣợc xây dựng ở chƣơng 2 là những minh chứng cụ thể. Vốn từ của HS mắc chứng khó đọc 1.
Vốn từ "Vốn từ của cá nhân là toàn bộ các từ và các đơn vị tƣơng đƣơng từ của ngôn ngữ đƣợc lƣu giữ trong trí óc của cá nhân và đƣợc cá nhân đó sử dụng trong hoạt động giao tiếp" [20]. Từ vựng giữ một vai trò rất quan trọng trong việc đọc và viết vì nếu không có vốn từ, HS sẽ gặp khó khăn trong việc hiểu nội dung mà ngữ liệu muốn truyền tải. Thêm vào đó, nếu có vốn từ nghèo nàn, HS sẽ khó có thể diễn đạt trọn vẹn điều mình muốn bằng ngôn ngữ nói và ngôn ngữ viết. Vốn từ của HS mắc chứng khó đọc có thể nghèo nàn hơn HS cùng trang lứa, thƣờng đảo đổi âm, chữ, thêm bớt âm, chữ, từ khi đọc, viết, đọc chậm, không nhất quán giữa đánh vần và đọc trơn, đọc lƣu loát kém,… HS mắc chứng khó đọc gặp khó khăn trong việc tiếp thu và sử dụng ngôn ngữ nói; khó khăn trong học và nhớ những từ có nhiều âm tiết; khó khăn trong nhận thức âm vị học, bao gồm cả phân tách, kết hợp và điều khiển âm thanh trong các từ; khó khăn trong việc đạt đƣợc kĩ năng nhìn nhận từ đúng với độ tuổi (sự mã hoá hình ảnh); khó khăn trong việc tiếp thu và sử dụng ngôn ngữ nói.
Rõ ràng về trí nhớ cũng nhƣ tƣ duy về từ ngữ của HS mắc chứng khó đọc sẽ chậm hơn hoặc khó khăn hơn HS bình thƣờng. Do gặp nhiều trở ngại trong học tập khiến HS thiếu tự tin trong các hoạt động giao tiếp nên việc tiếp thu, phát triển, luyện tập vốn từ qua sinh hoạt, giao tiếp cũng bị hạn chế. Bài tập mở rộng vốn từ BT MRVT hay BT làm giàu vốn từ chia thành ba nhóm: BT dạy nghĩa, BT hệ thống hóa vốn từ; BT dạy sử dụng từ (tích cực hóa vốn từ) là dạng bài 19 tập thực hành nhằm giúp HS phát triển vốn từ, nắm vững nghĩa của từ, rèn luyện các kĩ năng ngôn ngữ. Nhờ đó, vốn từ của học sinh ngày càng phong phú, khả năng sử dụng ngôn ngữ chính xác, sinh động và linh hoạt hơn [15].
Các bài tập này thƣờng đƣợc chia thành 3 nhóm lớn: BT dạy nghĩa từ: là dạng bài tập làm cho học sinh nắm nghĩa từ bao gồm việc thêm vào vốn từ của HS những từ mới những nghĩa mới của từ đã biết, làm cho các em nắm đƣợc tính nhiều nghĩa và sự chuyển nghĩa của từ. BT hệ thống hóa vốn từ: là dạng bài tập giúp HS biết cách sắp xếp các từ một cách có hệ thống trong trí nhớ của mình để tích lũy từ nhanh chóng và tạo ra tính thƣờng trực của từ, tạo điều kiện cho các từ đi vào hoạt động lời nói đƣợc thuận lợi. BT tích cực hóa vốn từ: giúp HS có kĩ năng sử dụng từ chính xác trong các kết hợp từ, đặt câu, viết đoạn văn, đƣa từ vào trong vốn từ tích cực đƣợc HS dùng thƣờng xuyên.