Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1. Định nghĩa về tư duy Trong triết học duy vật biện chứng, tư duy là một trong các đặc tính của vật chất rèn luyện đến trình độ tổ chức cao. Về lý thuyết, Karl Marx cho rằng: "Vận động kiểu tư duy chỉ là sự vận động của hiện thực khách quan được di chuyển vào và được tái tạo trong não bộ con người dưới dạng một sự phản ánh". Tư duy chỉ những hoạt động của tinh thần, đem những cảm giác của người ta sửa đổi và cải tạo thế giới thông qua hoạt động vật chất, làm cho người ta có nhận thức đúng đắn về sự vật và đưa ra các ứng xử với các sự vật, hiện tượng đó.
Theo [15], "tư duy là kết quả của hoạt động sinh lý, là sản phẩm cao nhất của bộ não con người. Tư duy phản ánh tích cực hiện thực khách quan dưới dạng các khái niệm, sự phán đoán, lý luận,… Trong triết học duy tâm khách quan, tư duy là sản phẩm của "ý niệm tuyệt đối" với tư cách là bản năng siêu tự nhiên, độc lập, không phụ thuộc vào vật chất. Theo Georg Wilhelm Friedrich Hegel: "Ý niệm tuyệt đối là bản nguyên của hoạt động và nó chỉ có thể biểu hiện trong tư duy, trong nhận thức tư biện mà thôi" [3]. Karl Max nhận xét: "Đối với Hegel, vận động của tư duy được ông nhân cách hóa dưới tên gọi "ý niệm", là chúa sáng tạo ra hiện thực; hiện thực chỉ là hình thức bề ngoài của ý niệm" [22].
Dưới góc độ sinh lý học, tư duy được biết đến là một hình thức hoạt động của hệ thần kinh thể hiện qua việc tạo ra những liên kết giữa các phần tử đã ghi nhớ, chọn lọc và kích thích chúng hoạt động để thực hiện sự nhận thức về thế giới xung quanh, từ đó định hướng cho hành vi phù hợp với tình huống thực tế. Dưới góc độ tâm lý học, tư duy là một quá trình tâm lý phản ánh những thuộc 5 tính, bản chất, những mối liên hệ và quan hệ bên trong có tính quy luật của sự vật và hiện tượng trong hiện thực khách quan. Hoạt động tâm lý là kết quả của hoạt động sinh lý xuất phát từ một bộ phận nhất định của não bộ. Những đặc điểm của tư duy 1.
Tính có vấn đề Vấn đề là những tình huống, hoàn cảnh có những mục đích nhất định, một vấn đề mới xảy đến, nhưng những kiến thức, những phương pháp hành động cũ tuy còn có thể sử dụng nhưng không đủ sức giải quyết hoàn toàn vấn đề. Điều kiện xuất hiện của tư duy là khi đối diện những hoàn cảnh, tình huống nảy sinh vấn đề nhưng cách giải quyết cũ gặp nhiều hạn chế nên con người cần tìm cho mình hướng giải quyết mới phù hợp với vấn đề. Tuy nhiên, hoàn cảnh có vấn đề chỉ trở thành tình huống mới và chưa từng có khi chủ thể tự nhận thức được vấn đề ở tình huống đó, thấy được được mâu thuẫn ẩn chứa trong vấn đề và đồng thời phải có nhu cầu giải quyết. Khi đó chủ thể sẽ kết nối những tri thức liên quan đến vấn đề đó.
Đây chính là điều kiện để tư duy mới xuất hiện. Tính gián tiếp của tư duy Khi xét riêng đến tính gián tiếp của tư duy, con người cần biết sử dụng ngôn ngữ, sử dụng các kết quả nhận thức và những kinh nghiệm đã tích lũy của bản thân vào quá trình tư duy, có thể kể đến là quá trình phân tích, so sánh, khái quát… để hiểu rõ bản chất của sự vật, hiện tượng,… Quá trình tư duy là một hoạt động trí tuệ. Con người sử dụng những công cụ, phương tiện máy móc, công cụ để nhận thức đối tượng mà không thể trực tiếp tri giác. Đó cũng là một dấu hiệu thể hiện tính gián tiếp của tư duy.
Tính gián tiếp của tư duy là công cụ để con người đưa ra phán đoán mang tính khoa học trong quá khứ và tương lai. Ví dụ như dự báo thời tiết, dự báo về tình hình dịch bệnh, dự báo về cơ hội phát 6 triển của một nền kinh tế,… 1. Tính trừu tượng và khái quát của tư duy Trừu tượng là dùng trí tuệ để gạt bỏ những thứ không cần thiết và chỉ giữ lại những yếu tố cần thiết quan trọng cho tư duy. Khái quát là việc dùng tri thức để hợp nhất những đối tượng khác nhau vào cùng một nhóm, một loại, dựa trên những đặc điểm và những thuộc tính giống nhau.
Tính trừu tượng và khái quát của tư duy có mối liên hệ mật thiết với nhau ở mức độ cao. Không có trừu tượng thì không thể tiến hành khái quát, nhưng có trừu tượng mà không có khái quát thì hạn chế quá trình tiếp nhận sự hiểu biết về mọi vật. Tư duy quan hệ chặt chẽ với ngôn ngữ Liên kết giữa tư duy và ngôn ngữ: Ngôn ngữ phát sinh từ nhu cầu giao tiếp của con người và là sản phẩm của sự kết hợp giữa nhu cầu đó với tư duy. Ngay từ khi được hình thành, tư duy gắn chặt với ngôn ngữ và được thể hiện phần lớn thông qua ngôn ngữ.
Vì thế, ta có thể nói rằng lớp áo hình thức của tư duy chính là ngôn ngữ. Ở thời kì đầu, các hoạt động vật chất của con người được ghi lại bằng các ký hiệu là khởi nguồn của tư duy. Sự thay đổi về mặt ký hiệu từ đơn giản đến phức tạp, đơn lẻ đến tập hợp cho thấy sự rèn luyện của tư duy. Và ngôn ngữ chính là kết quả của của việc xây dựng một hệ thống các ký hiệu như thế.
Con người giao tiếp với nhau bằng ngôn ngữ, đồng thời ngôn ngữ cũng song hành với nhu cầu của nền sản xuất xã hội cũng như sự xã hội hóa lao động. Tư duy gắn liền với hoạt động nhận thức cảm tính Tư duy là kết quả đồng thời là sự phát triển cấp cao của nhận thức. Nhận thức xuất phát từ những cảm giác, tri giác và biểu tượng,… được phản ánh từ thực tiễn khách quan với những thông tin về hình dạng, hiện tượng bên ngoài và được phản ánh một cách riêng lẻ. Giai đoạn ban đầu này được khoa học gọi là tư 7 duy cụ thể.
Ở giai đoạn tiếp sau, hoạt động tư duy tiến hành một loạt các thao tác: so sánh, đối chiếu, phân tích, tổng hợp, khu biệt, quy nạp những thông tin đơn lẻ, đưa chúng vào mối liên hệ phổ biến; lọc bỏ những yếu tố ngẫu nhiên của sự việc để tìm ra nội dung, bản chất của sự vật, hiện tượng; phát biểu những bản chất đó thành những khái niệm, phạm trù, định luật bằng công cụ ngôn ngữ,… Đây được gọi là giai đoạn tư duy trừu tượng. Nhà tâm lý học Xô Viết X.Rubistenin: “Nội dung cảm tính bao giờ cũng có trong tư duy trừu tượng, làm chỗ dựa cho tư duy” [18]. Vai trò của tư duy Tư duy đóng vai trò quan trọng trong hoạt động nhận thức và hoạt động thực tiễn, giúp con người hiểu bản chất của các hiện tượng tự nhiên và xã hội. Nó giúp con người nhận thức được quy luật khách quan, từ đó dự đoán một cách khoa học xu hướng phát triển của các sự vật, hiện tượng, đồng thời có kế hoạch, phương pháp cải tạo hiện thực khách quan.
Tư duy giúp con người khám phá tri thức mới và cải tiến cuộc sống. Tư duy là một trong những kỹ năng có giá trị và tính ứng dụng cao nhất mà mỗi người cần có để học tập và làm việc hiệu quả. Bởi lẽ, với sự phát triển nhanh chóng, vượt bậc của xã hội, khoa học, công nghệ và tri thức, con người lao động dựa trên trí óc và tư duy nhiều hơn. Thay vì chỉ lao động chân tay, con người cần vận dụng nhiều hơn kiến thức, kinh nghiệm, trải nghiệm và công việc để đạt hiệu quả cao, kết quả tốt hơn.
Tư duy còn giúp con người thu thập, phân tích và sử dụng thông tin một cách hữu ích, đưa ra phương hướng phù hợp để giải quyết vấn đề và phát triển bản thân. Khi gặp vấn đề cần giải quyết hoặc trong những tình huống khó khăn, tư duy là căn cứ để định hướng hành động, giúp con người đưa ra quyết định, 8 lựa chọn đúng đắn dựa trên những hiểu biết khách quan. Các thao tác tư duy cơ bản 1. Phân tích và tổng hợp Phân tích là hoạt động dùng trí óc để phân chia đối tượng cần nhận thức thành những “bộ phận”, những thành phần tương đối độc lập để có một nhận thức sâu sắc hơn về đối tượng như: thuộc tính, mối liên hệ và quan hệ giữa chúng.
Tổng hợp là quá trình sử dụng trí óc với mục đích kết hợp các kết quả của quá trình phân tích. Phân tích và tổng hợp có quan hệ chặt chẽ, bổ sung cho nhau tạo thành một thể thống nhất và không thể tách rời. [10] Bài toán 1: Cho hình chóp S. ABCD có đáy là hình vuông cạnh a và SA ⊥ ( ABCD ).
Chứng minh các mặt bên là những tam giác vuông. 1 Ta phân tích theo hướng loại trừ: Xét SBC giả sử vuông tại C. SCD vuông tại C (vai trò hai tam giác này như nhau). SC ⊥ BC Khi đó ta có: SC ⊥ ( ABCD).
Theo cách làm trên ta loại được hai đỉnh, vậy giờ chỉ cần chứng minh SBC vuông tại B. Tương tự SCD vuông tại D. So sánh So sánh là quá trình vận dụng trí óc để phân biệt sự giống nhau, bằng nhau giữa các đối tượng nhận thức và ngược lại. Trong hình học không gian, một đại lượng có thể có nhiều tên gọi, một định lí, một định nghĩa, mệnh đề có nhiều cách phát biểu.
Vì vậy ta thường gặp những bài toán tuy có khác nhau về cách phát biểu nhưng về bản chất lại giống nhau nên cách giải giống nhau. Ta có các bài toán sau: Bài toán 2: Cho tứ diện đều ABCD. Gọi I, J lần lượt là trung điểm AB, CD. Chứng minh rằng I là đoạn vuông góc chung của AB và CD.
Bài toán 3: Cho tứ diện đều ABCD. Gọi I, J lần lượt là trung điểm AB, CD. Chứng minh rằng AB ⊥ (CID ). Bài toán 4: Cho tứ diện đều ABCD.
Gọi I, J lần lượt là trung điểm AB, CD. Chứng minh rằng ( ABJ ) ⊥ (CDI ). *Nhận xét: - Bài toán 1: Là chứng minh đường thẳng vuông góc với đường thẳng.