CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 1. Tổng quan nghiên cứu về năng lực tự học Vào năm 2005, Tác giả Rosemary Win và Paul Miller [27] đã thực hiện một cuộc khảo sát với 1803 sinh viên năm nhất tại Trường Đại học Western Autralia nhằm chỉ ra các yếu tố tác động đến kết quả học tập của sinh viên. Thông qua quá trình nghiên cứu, họ đã chỉ ra rằng có 2 yếu tố chính ảnh hưởng đến kết quả của sinh viên là năng lực của cá nhân người học và môi trường học tập. Trong đó, yếu tố năng lực tự học của người học được đánh giá là yếu tố then chốt, là nguyên nhân chính ảnh hưởng lớn tới kết quả học tập của người học.
Cũng với mục đích nhằm tìm hiểu các yếu tố ảnh hưởng đến kết quả học tập, tác giả Nighat Kirmani và Aishah Siddiquah [25] đã thực hiện nghiên cứu của mình trên 353 sinh viên thuộc Trường Đại học Punjab, Lahore (Pakistan). Thông qua khảo sát, hai tác giả cho rằng có 6 yếu tố tác động đến việc học tập bao gồm: phương pháp học tập, năng lực tự học, phương tiện truyền thông, cơ sở vật chất, công cụ hỗ trợ và môi trường học tập. Nghiên cứu này tập trung vào việc phân tích các yếu tố đặc trưng ảnh hưởng đến kết quả học tập. Có thể thấy rằng các đặc điểm cá nhân như động lực học tập, thái độ học tập,khả năng tự học, thói quen tự học ảnh hưởng tới kết quả học tập của người học.
Để chỉ ra được tầm quan trọng của tự học cũng như ảnh hưởng của chúng tới kết quả học tập, Andrew Sappington [28] đã phối hợp cùng các cộng sự của mình hướng dẫn các kĩ năng tự học cho 19 sinh viên ở Anh quốc. Sau khóa học, các sinh viên được đào tạo đạt kết quả cao hơn hẳn những sinh viên không được đào tạo kĩ năng tự học. 6 Trong những năm gần đây, nhất là trong thời kì diễn ra cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư, chúng ta cần phải có tinh thần tự chủ tự học nhằm phát triển bản thân và hội nhập với bạn bè quốc tế. Vì vậy, trong những năm gần đây, Việt Nam đã có nhiều nghiên cứu về vấn đề phát triển năng lực tự học cho học sinh của một số tác giả như: Trần Thị Minh Hằng (2011); Vũ Đình Bắc (2017); Đinh Thị Hồng Thu (2017); Phan Ngọc Lệ (2019); Nguyễn Thị Hằng Nga, Nguyễn Thị Hợp, Nguyễn Ngọc Toàn (2017),Ngô Phương Anh (2017), Nguyễn Thị Hà (2016),… Tác giả Nguyễn Cảnh Toàn [8] đã chia tự học thành hai mức độ là tự học dưới sự hướng dẫn của giáo viên và tự học hoàn toàn.
Để phân biệt được hai mức độ này, tác giả đã chỉ ra các dấu hiệu sau: Có hướng dẫn Không có hướng dẫn Giáo viên và học sinh trao đổi với Giáo viên và học sinh không có sự nhau trong quá trình tự học trao đổi với nhau trong quá trình tự học Học sinh chủ động đưa ra các vấn đề Người học tự giải đáp thắc mắc bằng mắc phải trong quá trình tự học, giáo cách tự quan sát, làm thử hoặc tìm viên hỗ trợ giải đáp các thắc mắc đó. trao đổi với người khác Vào năm 2017, nhóm tác giả Nguyễn Thị Hằng Nga, Nguyễn Thị Hợp, Nguyễn Ngọc Toàn [9] đã đưa ra một nghiên cứu về việc bồi dưỡng và phát triển động cơ học tập của học sinh. Nhóm tác giả đã kết hợp hai phương pháp học là bồi dưỡng ý thức và sử dụng tài liệu thực tế, hay còn được gọi tắt là Cram. Sau nghiên cứu, phương pháp này đã góp phần thay đổi thói quan và cảm xúc học tập của người học.
Thông qua phương pháp học mới, người học dần trở nên chủ động trong việc tìm tòi và nghiên cứu tri thức. Các nghiên trên đã đưa ra được những cơ sở lý luận khá sắc bén về sự hình thành, hoàn thiện kỹ năng tự học hay phát triển năng lực tự học thông 7 qua nhiều hình thức khác nhau. Tuy nhiên, hầu hết những nghiên cứu đó chủ yếu tập trung phân tích và nghiên cứu về mặt lí thuyết chứ chưa đưa nghiên cứu vào thực nghiệm thực tế tại các môi trường giáo dục cụ thể. Bên cạnh đó, cũng đã có nghiên cứu đưa ra những biện pháp cụ thể để áp dụng lý thuyết vào thực tế.
Tuy vậy, các biện pháp đó nhìn chung vẫn chưa được được phổ biến và tiếp cận đến các đối tượng học tập. Khái niệm năng lực tự học Holec (1981) định nghĩa rằng: “Tự học là khả năng tự quản lí, điều phối quá trình học tập của người học”. Theo ông, năng lực này “không phải là năng lực bẩm sinh mà phải được hình thành thông qua việc học tập một cách có chủ đích và bài bản”. Ông cũng chỉ ra rằng: “để tự quản lí việc học tập, người học phải có khả năng tự đưa ra các quyết định liên quan đến tất cả mọi mặt của quá trình học tập” [19].
Theo tác giả, việc tự học là một hoạt động nhận thức độc lập nhằm mục đích tìm kiếm và làm chủ tri thức. Trong quá trình học tập, người học là chủ thể đóng vai trò trung tâm, có khả năng đưa ra các quyết định quan trọng, có ảnh hưởng trực tiếp tới kết quả học tập của người học cũng như chịu trách nghiệm cho những quyết định đó. Shama cho rằng: “Tự học là một phương pháp dạy học hiệu quả, giúp cá nhân lĩnh hội được những tri thức và kỹ năng khác nhau” [13]. Theo Nguyễn Cảnh Toàn “Cốt lõi của học là tự học.
Hễ có học là có tự học, vì không ai có thể học hộ người khác được”. Giáo viên có nhiệm vụ phải “biến quá trình dạy học thành quá trình tự học” [8]. Điều đó có nghĩa là người dạy, thông qua việc áp dụng các phương pháp sư phạm, kết hợp quá trình dạy học của mình với quá trình tự học của học sinh trở thành một quá trình thống nhất. 8 Đối với các tác giả trên, tự học là một phương pháp dạy học, có sự tham gia định hướng của giáo viên, nhằm mục đích giúp người học tiếp nhận được tri thức một cách chủ động hơn.
Tự học là một hoạt động nhận thức tích cực, có tính cá nhân, yêu cầu cao về tinh thần chủ động, tính kiên trì và nỗ lực phấn đấu của người học. Người học được trao toàn quyền quyết định về mục tiêu học tập, tự sắp xếp được thời gian biểu thích hợp. Giáo viên hoàn toàn có thể tham gia vào quá trình tự học thông qua các hướng dẫn, định hướng cũng như cung cấp tài liệu phù hợp nhằm gia tăng hiệu quả tự học. Có thể thấy, tự học mang nặng màu sắc cá nhân và là nền tảng để người học có thể học tập suốt đời.
Biểu hiện của năng lực tự học và người có năng lực tự học Candy [26] đã liệt kê và chia 12 biểu hiện của người có năng lực tự học thành hai nhóm là nhóm đặc điểm bên trong và nhóm đặc điểm bên ngoài. Nhóm đặc điểm bên trong được nói đến ở đây là tính cách của người học. Các biểu hiện này được hình thành và được bồi dưỡng thông qua hoạt động trải nghiệm của cá nhân người học. Có thể thấy, những đặc điểm của nhóm phụ thuộc chủ yếu vào tâm lí người học nên chúng ta có thể tạo môi trường học tập tích cực để học sinh có thể xây dựng và phát triển năng lực tự học.
Nhóm đặc điểm bên ngoài bao gồm các phương pháp, năng lực người học phải có nhằm phục vụ cho quá trình học tập. Các kĩ năng này có thể được xây dựng trong quá trình học sinh tham gia thực hiện các nhiệm vụ học tập trong và ngoài lớp. Giáo viên, thông qua các phương pháp dạy học tập tích cực, đóng vai trò quan trọng trong việc định hướng và hỗ trợ học sinh xây dựng các phương pháp học tập phù hợp và hiệu quả, tạo điều kiện để hình thành và phát triển năng lực tự học cho người học. Các biểu hiện của năng lực tự học theo Candy Trong quá trình nghiên cứu về năng lực tự học của học sinh ở trường trung học phổ thông, Taylor (1995) [18] đã chỉ ra ba yếu tố cơ bản quyết định xem người có năng lực tự học hay không là: tính cách, kĩ năng, thái độ.
Các biểu hiện của người có năng lực tự học theo Taylor 10 Taylor đã khẳng định rằng người có khả năng tự học là người xác định được động cơ học tập đúng đắn và biết định hướng mục tiêu của mình một cách rõ ràng. Bên cạnh đó, người học cũng phải có tính kiên trì, bền bỉ và đặc biệt nhất là phải có tinh thần kỉ luật cao. Nguyễn Kỳ [10] khẳng định rằng tự học là khả năng người học có thể tự mình tìm tòi, nghiên cứu tri thức và vận dụng các tri thức đó vào các tính huống mới học các tình huống tương tự với mức độ cao hơn. Theo ông, năng lực tự học bao gồm: - Tự xây dựng mục tiêu học tập đúng đắn, phù hợp.
Cố gắng, nỗ lực hoàn thành mục tiêu học tập đã đề ra. - Tìm kiếm và áp dụng được các phương pháp học tập tích cực nhằm tăng hiệu quả của quá trình học tập. - Tự đánh giá được những hạn chế của bản thân, từ đó đưa ra các điều chỉnh phù hợp trong quá trình thực hiện các nhiệm vụ học tập. - Chủ động tìm kiếm sự hỗ trợ từ giáo viên, bạn bè và các nguồn tài liệu tham khảo khác khi gặp khó khăn trong học tập.
Các giai đoạn và hình thức tự học Nguyễn Kỳ [11] đã chỉ ra rằng quá trình tự học của người học được chia thành ba giai đoạn chính bao gồm tự nghiên cứu, tự thể hiện, tự đánh giá và điều chỉnh. - Giai đoạn 1: Tự nghiên cứu Giáo viên, bằng các thủ pháp dạy học, khơi gợi sự tò mò và kích thích ham muốn làm chủ kiến thức ở người học. Từ đó, người dạy có thể đưa ra các hướng dẫn và định hướng người học tự học một cách hiệu quả. Học sinh chủ động nghiên cứu, tìm hiểu, quan sát, mô tả, giải quyết vấn đề liên quan đến chủ đề học tập, từ đó tìm ra được những kiến thức mới (đối với cá nhân người học).
11 - Giai đoạn 2: Tự thể hiện Giáo viên giúp đỡ học sinh đi sâu hơn vào bài học, giải đáp các câu hỏi, các thắc mắc của học sinh trong quá trình tự nghiên cứu. Từ đó, giáo viên tạo cho học sinh môi trường để có thể thoải mái, tự tin thể hiện bản thân.