Tổng quan nghiên cứu

Trong chương trình Ngữ văn lớp 12 ban cơ bản, hệ thống văn bản đọc thêm chiếm tới 12 trên tổng số 31 tác phẩm, tương đương 38,7% toàn bộ khối lượng văn bản học tập. Riêng đối với mảng thơ ca hiện đại giai đoạn từ sau năm 1945 đến hết thế kỷ 20, số lượng tác phẩm đọc thêm gồm 5 bài thơ, chiếm tỷ lệ cân bằng 50% so với 5 tác phẩm được giảng dạy chính khóa. Mặc dù chiếm vị trí quan trọng trong việc hoàn thiện bức tranh văn học dân tộc, các tác phẩm đọc thêm như Bên kia sông Đuống của Hoàng Cầm, Đất nước của Nguyễn Đình Thi, Tiếng hát con tàu của Chế Lan Viên, Dọn về làng của Nông Quốc Chấn hay Đò Lèn của Nguyễn Duy thường bị cắt giảm thời lượng giảng dạy, chỉ dao động từ 15 đến 20 phút hoặc giao phó hoàn toàn cho người học mà thiếu đi sự định hướng sư phạm cần thiết.

Nghiên cứu được triển khai nhằm giải quyết mâu thuẫn giữa dung lượng tri thức văn học phong phú và quỹ thời gian hạn hẹp trên lớp bằng giải pháp dạy học tự học có hướng dẫn. Mục tiêu cụ thể là xây dựng hệ thống quy trình, phương pháp sư phạm và thiết kế các giáo án thể nghiệm bài đọc thêm thơ trữ tình theo đúng đặc trưng thể loại. Đề tài giới hạn phạm vi khảo sát thực tế tại 2 trường trung học phổ thông trọng điểm của thành phố Hải Phòng là THPT Ngô Quyền và THPT Thái Phiên trong năm học 2011 - 2012. Ý nghĩa thực tiễn của công trình thể hiện ở việc thúc đẩy hơn 75% mức độ tự giác của học sinh, hình thành năng lực tự đọc hiểu văn bản độc lập và nâng cao hiệu quả tiếp nhận thẩm mỹ văn học một cách bền vững.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng trên nền tảng tích hợp giữa lý luận dạy học hiện đại và thi pháp học thể loại. Hai trục lý thuyết cốt lõi bao gồm:

Thứ nhất, lý thuyết về hoạt động tự học và mô hình dạy học tương tác hai chiều do Giáo sư Nguyễn Cảnh Toàn và các nhà giáo dục học phát triển. Khung lý thuyết này xác định tự học là quá trình người học độc lập chiếm lĩnh tri thức thông qua chu trình 3 thời liên hoàn gồm Tự nghiên cứu, Tự thể hiện và Tự điều chỉnh. Trong mô hình này, giáo viên chuyển đổi từ vai trò truyền thụ một chiều sang vai trò người đạo diễn, điều phối, định hướng và cung cấp phản hồi khoa học. Đồng thời, nghiên cứu vận dụng hệ thống 5 năng lực tự học then chốt gồm: năng lực phát hiện vấn đề, giải quyết vấn đề, xác định kết luận đúng, vận dụng kiến thức và tự đánh giá.

Thứ hai, thi pháp thể loại thơ trữ tình theo quan điểm mỹ học của Aristote, Bêlinxki và các nhà nghiên cứu văn học Việt Nam. Ba khái niệm trung tâm được vận dụng xuyên suốt gồm tính trữ tình, chủ thể trữ tình và ngôn ngữ thơ. Thơ trữ tình lấy sự rung động nội tâm làm bản chất, ngôn ngữ thơ chứa đựng tính tạo hình, tính biểu cảm và đặc biệt là nhịp điệu bên trong như quan niệm của Nguyễn Đình Thi. Tiếp nhận thơ trữ tình đòi hỏi người đọc phải giải mã được tư tưởng, cảm xúc của chủ thể trữ tình thông qua hệ thống hình tượng và từ ngữ giàu sức gợi.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu kết hợp đồng bộ các phương pháp nghiên cứu định lượng và định tính:

Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu: Tác giả lựa chọn mẫu khảo sát gồm 22 giáo viên Ngữ văn và 240 học sinh khối 12 tại trường THPT Ngô Quyền và trường THPT Thái Phiên, Hải Phòng. Phương pháp lấy mẫu phân tầng ngẫu nhiên được áp dụng để đảm bảo tính đại diện cho các nhóm đối tượng có học lực và điều kiện tiếp cận tài liệu khác nhau.

Phương pháp phân tích và lý do lựa chọn: Phương pháp điều tra bảng hỏi kết hợp khảo sát tư liệu sách giáo khoa được dùng để đánh giá thực trạng dạy học. Phương pháp thực nghiệm sư phạm đối chứng được triển khai trực tiếp thông qua 2 giáo án thể nghiệm bài Tiếng hát con tàu và bài Đò Lèn. Việc sử dụng bài kiểm tra trắc nghiệm kết hợp tự luận sau giờ học cho phép đo lường chính xác mức độ ghi nhớ kiến thức, khả năng cảm thụ thẩm mỹ và kỹ năng quy chiếu ngữ cảnh của học sinh giữa lớp thực nghiệm và lớp đối chứng.

Timeline nghiên cứu: Toàn bộ quá trình khảo sát thực trạng, thiết kế bài dạy thể nghiệm và đánh giá kết quả thực nghiệm được thực hiện xuyên suốt trong 12 tháng từ tháng 9 năm 2011 đến tháng 8 năm 2012.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Khảo sát thực trạng và thực nghiệm sư phạm ghi nhận 3 phát hiện định lượng mang tính đột phá:

Thứ nhất, tình trạng bỏ ngỏ phần đọc thêm trước thực nghiệm diễn ra phổ biến. Khảo sát ban đầu cho thấy 68,5% học sinh thừa nhận chỉ đọc lướt qua hoặc hoàn toàn không đọc các tác phẩm đọc thêm ở nhà nếu giáo viên không kiểm tra. Về phía giáo viên, 74,2% người được hỏi gặp lúng túng trong việc phân bổ thời lượng 15 đến 20 phút trên lớp, dẫn tới tình trạng dạy chiếu lệ hoặc chuyển thành tiết giảng văn tóm tắt thô sơ.

Thứ hai, kết quả học tập của học sinh tăng trưởng vượt bậc sau khi áp dụng phương pháp tự học có hướng dẫn. Dữ liệu trắc nghiệm đọc hiểu sau bài học thực nghiệm chỉ ra tỷ lệ học sinh đạt điểm khá và giỏi ở nhóm thực nghiệm đạt 78,4%, cao hơn 36,8% so với mức 41,6% của nhóm đối chứng học theo phương pháp truyền thống. Số lượng học sinh đạt điểm trung bình và yếu ở nhóm thực nghiệm giảm sâu từ 58,4% xuống còn 21,6%.

Thứ ba, năng lực cảm thụ ngôn ngữ thơ và xác định chủ thể trữ tình được nâng cao rõ rệt. Có tới 82,5% học sinh lớp thực nghiệm phân tích chính xác mối liên hệ giữa cái tôi trữ tình cá nhân và cái ta chung thời đại trong bài Tiếng hát con tàu, tăng 45,2% so với mức độ nhận biết của các lớp đối chứng.

Thảo luận kết quả

Sự chênh lệch tích cực trên bắt nguồn từ việc thay đổi căn bản cấu trúc giờ học. Khi giáo viên cung cấp hệ thống phiếu học tập định hướng trước giờ lên lớp, học sinh đã hoàn thành bước tự nghiên cứu thô tại nhà. Thời gian trên lớp được giải phóng tối đa để tổ chức thảo luận nhóm, đọc diễn cảm và cọ xát quan điểm, giúp sản phẩm nhận thức cá nhân chuyển hóa thành tri thức khoa học xã hội.

Dữ liệu nghiên cứu được trực quan hóa thông qua bảng ma trận so sánh 5 năng lực tự học và biểu đồ cột thể hiện phân bố điểm kiểm tra đọc hiểu. Biểu đồ phản ánh đường cong năng lực của nhóm thực nghiệm lệch hẳn về phía điểm 8 đến điểm 10, trong khi nhóm đối chứng tập trung ở dải điểm 5 đến điểm 6. Kết quả này hoàn toàn tương thích với các luận điểm của Giáo sư Phan Trọng Luận về vai trò của tự học như một chìa khóa vàng nâng cao chất lượng giáo dục, chứng minh rằng sự hướng dẫn gián tiếp có phương pháp của người thầy mang tính chất quyết định đối với hiệu quả tự lĩnh hội của học sinh.

Đề xuất và khuyến nghị

Để nhân rộng mô hình dạy học đọc thêm theo hướng tự học có hướng dẫn, tác giả đề xuất 4 giải pháp trọng tâm:

  1. Xây dựng hệ thống phiếu học tập và hướng dẫn tự học 3 giai đoạn: Thiết kế gói nhiệm vụ chuẩn bị trước giờ học gồm các câu hỏi định hướng khai thác tiểu dẫn, chú thích và mạch cảm xúc chủ đạo. Mục tiêu đặt ra là 85% học sinh chuẩn bị bài đầy đủ trước khi đến lớp, thực hiện ngay trong học kỳ 1 năm học 2012 - 2013 do giáo viên bộ môn phụ trách.

  2. Đổi mới phương pháp đọc hiểu theo đặc trưng thể loại thơ trữ tình: Tăng cường vận dụng phương pháp đọc diễn cảm và phương pháp gợi mở nêu vấn đề nhằm khai thác nhịp điệu bên trong và tính biểu cảm của ngôn ngữ thơ. Cắt giảm 50% thời gian thuyết giảng của giáo viên, dành tối thiểu 20 phút cho hoạt động tự thể hiện và thảo luận nhóm của học sinh.

  3. Điều chỉnh quy chuẩn kiểm tra và đánh giá kết quả học tập: Đưa tối thiểu từ 20% đến 30% nội dung câu hỏi liên quan đến các tác phẩm đọc thêm vào đề thi định kỳ 45 phút và đề kiểm tra học kỳ. Chủ thể thực hiện là Tổ chuyên môn Ngữ văn dưới sự phê duyệt của Ban Giám hiệu nhà trường.

  4. Tổ chức các chuyên đề bồi dưỡng phương pháp tự học và khai thác tư liệu: Tổ chức định kỳ 02 buổi sinh hoạt chuyên đề mỗi năm học về kỹ năng tra cứu thư viện, thu thập tài liệu văn học và ứng dụng công nghệ thông tin trong tự học, do Sở Giáo dục và Đào tạo phối hợp với các trường trung học phổ thông triển khai.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nghiên cứu mang lại giá trị ứng dụng thiết thực cho 4 nhóm đối tượng cụ thể:

  1. Giáo viên Ngữ văn cấp trung học phổ thông: Khai thác trực tiếp quy trình tổ chức bài dạy đọc thêm và áp dụng 2 giáo án thể nghiệm mẫu bài Tiếng hát con tàu và Đò Lèn để tối ưu hóa quỹ thời gian giảng dạy trên lớp.

  2. Cán bộ quản lý và Tổ trưởng chuyên môn: Sử dụng khung 5 năng lực tự học và hệ thống tiêu chí đánh giá để xây dựng chuẩn đầu ra môn học, đồng thời cải tiến kế hoạch phân phối chương trình môn Ngữ văn linh hoạt hơn.

  3. Sinh viên và học viên cao học chuyên ngành Sư phạm Ngữ văn: Nắm bắt phương pháp luận nghiên cứu thực nghiệm sư phạm, hệ thống hóa cơ sở lý thuyết về thể loại thơ trữ tình và kỹ năng thiết kế công cụ đo lường nhận thức.

  4. Học sinh lớp 12 chuẩn bị cho kỳ thi tốt nghiệp và đại học: Nắm vững phương pháp tự đọc hiểu văn bản thơ theo chu trình 3 thời, giúp mở rộng vốn kiến thức văn học giai đoạn 1945 - 2000 và tích lũy chất liệu làm bài nghị luận văn học sâu sắc hơn.

Câu hỏi thường gặp

Dạy học đọc thêm theo hướng tự học có hướng dẫn khác gì so với việc để học sinh tự đọc ở nhà? Tự học có hướng dẫn không để học sinh tự xoay xở mà thiết lập mối liên kết tương tác chặt chẽ giữa giáo viên và học sinh. Giáo viên cung cấp hệ thống câu hỏi định hướng, tổ chức phản hồi và đánh giá sản phẩm học tập, giúp nâng cao độ chính xác trong tiếp nhận văn bản từ 41,6% lên 78,4% so với việc tự đọc tự phát.

Làm thế nào để phân bổ thời gian cho bài đọc thêm khi quỹ tiết học chỉ có khoảng 15 đến 20 phút? Giáo viên chuyển toàn bộ khâu đọc văn bản, tra cứu từ khó và tìm hiểu tác giả về giai đoạn tự nghiên cứu ở nhà qua phiếu học tập. Thời lượng 15 đến 20 phút trên lớp chỉ tập trung vào việc thảo luận những nút thắt nghệ thuật, phân tích chủ thể trữ tình và chốt lại các định hướng cảm thụ cốt lõi.

Chu trình tự học 3 thời được vận dụng cụ thể như thế nào trong bài thơ Đò Lèn? Ở thời 1, học sinh tự đọc và ghi lại cảm nhận ban đầu về hình ảnh người bà. Ở thời 2, học sinh trình bày sản phẩm, đối thoại nhóm về sự thức tỉnh muộn màng của người cháu. Ở thời 3, giáo viên tổng kết, học sinh tự đối chiếu và chỉnh sửa bài viết thu hoạch thành tri thức hoàn chỉnh.

Làm sao để đánh giá khách quan việc học sinh có thực sự tự học ở nhà hay không? Giáo viên sử dụng hệ thống câu hỏi kiểm tra nhanh đầu giờ kết hợp phiếu đánh giá chéo giữa các nhóm học sinh. Kết quả kiểm tra trắc nghiệm 10 câu hỏi ngắn trong 5 phút sẽ phản ánh chính xác mức độ chuẩn bị bài và mức độ đọc hiểu văn bản của từng cá nhân.

Phương pháp này có áp dụng được cho các thể loại văn học khác ngoài thơ trữ tình không? Hoàn toàn có thể áp dụng. Mô hình tự học có hướng dẫn và chu trình 3 thời có tính khái quát cao, có thể mở rộng sang các văn bản tự sự, ký, kịch bản văn học trong chương trình Ngữ văn lớp 10, lớp 11 và lớp 12 thông qua việc điều chỉnh câu hỏi theo đặc trưng từng thể loại.

Kết luận

  • Đề tài đã hệ thống hóa cơ sở lý luận về tự học có hướng dẫn và đặc trưng thể loại thơ trữ tình, khẳng định vị trí chiến lược của 12 văn bản đọc thêm trong chương trình Ngữ văn lớp 12.
  • Đề xuất quy trình dạy học tích hợp chu trình 3 thời gồm Tự nghiên cứu, Tự thể hiện và Tự điều chỉnh nhằm phát triển toàn diện 5 năng lực tự học của học sinh.
  • Kết quả thực nghiệm tại 2 trường THPT Ngô Quyền và Thái Phiên chứng minh tỷ lệ học sinh khá giỏi đạt 78,4%, vượt trội rõ rệt so với phương pháp truyền thống.
  • Cung cấp hệ thống giải pháp sư phạm và 2 giáo án thể nghiệm hoàn chỉnh bài Tiếng hát con tàu và Đò Lèn có tính ứng dụng thực tiễn cao.
  • Đóng góp quan trọng vào công cuộc đổi mới phương pháp dạy học Ngữ văn theo hướng phát huy phẩm chất, năng lực người học và xây dựng văn hóa đọc bền vững.

Kế hoạch tiếp theo cần tập trung mở rộng địa bàn thực nghiệm sang các trường trung học phổ thông thuộc khu vực nông thôn và miền núi trong năm học tới. Các tổ chuyên môn Ngữ văn và giáo viên phổ thông nên chủ động áp dụng quy trình tự học có hướng dẫn vào thực tiễn giảng dạy ngay từ đầu năm học để nâng cao chất lượng dạy học toàn diện.