phần mở đầu, kết luận, kiến nghị, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục còn gồm có 3 chương. Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về quản lý hoạt động dạy học theo hướng tích cực hóa hoạt động của học sinh trường tiểu học. Chƣơng 2: Thực trạng quản lý hoạt động dạy học theo hướng tích cực hóa hoạt động của học sinh ở trường tiểu học Nguyễn Trung Ngạn quận 8 - Thành phố Hồ Chí Minh. Chƣơng 3: Biện pháp quản lý hoạt động dạy học theo hướng tích cực hóa hoạt động của học sinh ở trường tiểu học Nguyễn Trung Ngạn quận 8 - Thành phố Hồ Chí Minh.
7 z CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC THEO HƢỚNG TÍCH CỰC HÓA HOẠT ĐỘNG CỦA HỌC SINH TRƢỜNG TIỂU HỌC 1. Lịch sử nghiên cứu vấn đề 1. Việc nghiên cứu Quản lý hoạt động dạy học theo hướng tích cực hóa hoạt động của học sinh trên thế giới Với quan điểm giáo dục cho tất cả - tất cả cho giáo dục, các quốc gia phát triển trên thế giới luôn luôn thực hiện cải cách giáo dục khi mà nền kinh tế xã hội có sự chuyển đổi. Thực tiễn cải cách giáo dục (trong đó có đổi mới quản lý giáo dục và đổi mới quản lý nhà trường) ở một số quốc gia phát triển cho thấy giáo dục đã đáp ứng được yêu cầu phát triển kinh tế xã hội.
Nhà cải cách giáo dục Thuỵ Sĩ, phát triển các phương pháp giáo dục nhằm thúc đẩy khả năng của trẻ mà ngày nay, hầu hết các nguyên tắc của ông đã được đưa vào sử dụng trong hệ thống giáo dục tiểu học. Trong thế kỷ XIX, mô hình giáo dục bắt buộc được vận dụng ở nhiều quốc gia, trong đó có cả Mỹ và Nhật, mô hình này đặt nặng kỹ năng tổ chức và quản lý lớp học của người thầy, xem nó như là một thành tố không thể thiếu của quá trình vận dụng các phương pháp dạy học. Hiện nay, trên thế giới, rất nhiều công trình nghiên cứu về đổi mới phương pháp dạy học và các giải pháp quản lý nhằm hỗ trợ hoạt động đổi mới phương pháp dạy học vẫn đang được tiếp tục thực hiện. Ví dụ công trình nghiên cứu về “Cấu trúc tạo nhóm hợp tác” có thể vận dụng cho học sinh mọi lứa tuổi của tiến sĩ Spencer Kagan (Mỹ)… Trong xu thế hội nhập và toàn cầu hoá, nền giáo dục nước ta đang tiếp nhận, tiếp thu có chọn lọc những vấn đề trên sao cho phù hợp với thực tiễn và tính chất, nguyên lý của giáo dục Việt Nam.
Việc nghiên cứu Quản lý hoạt động dạy học theo hướng tích cực hóa hoạt động của học sinh ở Việt Nam 8 z Mặc dù ở Việt Nam, khoa học quản lý tuy được nghiên cứu muộn nhưng cũng đạt được những thành tựu nhất định. Trước hết phải nói đến quan điểm về của các tư tưởng giáo dục tiên tiến và vận dụng sáng tạo phương pháp luận của triết học Mác - Lê Nin, Người đã để lại cho chúng ta những nền tảng lý luận về: vai trò của giáo dục, định hướng phát triển giáo dục, mục đích dạy học, các nguyên lý dạy học, các phương thức dạy học, vai trò của quản lý và cán bộ quản lý giáo dục,. Hệ thống tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh về giáo dục có giá trị rất cao trong quá trình phát triển lý luận dạy học, lý luận giáo dục của nền giáo dục Cách mạng Việt Nam. Các quan điểm hiện đại về lý luận dạy học đều khẳng định, bản chất của các PPDH tiên tiến mà chúng ta đang tiếp cận là sự thay đổi vai trò của thầy và trò trong hoạt động dạy và học, trong đó trò là chủ thể chứ không phải “người ngoài cuộc” còn thầy sẽ là người tổ chức, dẫn dắt, cố vấn và tổng hợp ý kiến để giờ học diễn ra đúng hướng, đạt mục tiêu.
Thay vì chỉ tập trung ngồi nghe thầy thuyết trình, ở đây, trò sẽ được tăng cường tính tự chủ và tự lập, phát triển khả năng tư duy, kỹ năng trình bày, hùng biện, chia sẻ, hợp tác, tổng hợp tài liệu…, thầy nêu ra vấn đề, còn việc giải quyết vấn đề đó như thế nào là việc của trò, chính trò tự mình tìm cách giải quyết vấn đề và qua đó rút ra cho mình những tri thức mình cần, chứ không phải tự động tiếp thu những kiến thức mà thầy áp đặt. Trong hoạt động dạy – học mới, thời lượng sẽ dành nhiều hơn cho thảo luận, làm việc nhóm và tự đọc sách. Trong giờ học, trò sẽ chủ động phát biểu, trao đổi, góp ý, họ cũng có cơ hội đưa ra chính kiến của mình về vấn đề được nêu ra, được bộc lộ quan điểm, được tranh luận, bảo vệ cho quan điểm của bản thân… Đổi mới phương pháp dạy học đang thực hiện bước chuyển từ chương trình giáo dục tiếp cận nội dung sang tiếp cận năng lực của người học, nghĩa là từ chỗ quan tâm đến việc HS học được cái gì đến chỗ quan tâm HS vận dụng được cái gì qua việc học. Để đảm bảo được điều đó, phải thực hiện 9 z chuyển từ phương pháp dạy học theo lối "truyền thụ một chiều" sang dạy cách học, cách vận dụng kiến thức, rèn luyện kỹ năng, hình thành năng lực và phẩm chất.
Tăng cường việc học tập trong nhóm, đổi mới quan hệ giáo viên - học sinh theo hướng cộng tác có ý nghĩa quan trọng nhằm phát triển năng lực xã hội. Bên cạnh việc học tập những tri thức và kỹ năng riêng lẻ của các môn học chuyên môn cần bổ sung các chủ đề học tập tích hợp liên môn nhằm phát triển năng lực giải quyết các vấn đề phức hợp. Đó là việc thực hiện đổi mới về tư duy, phương thức và cơ chế quản lý nhà trường. Đổi mới quản lý nhà trường là ở chỗ quản lý lấy nhà trường làm cơ sở.
Đây là một xu thế tất yếu của sự đổi mới quản lý nhà trường. Chính vì vậy, đã có nhiều nhà khoa học, nhà quản lý giáo dục nghiên cứu về quản lý giáo dục, quản lý trường học để tìm ra các biện pháp quản lý có hiệu quả. Trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác - Lê Nin và tư tưởng Hồ Chí Minh, làm kim chỉ nam cho các nhà khoa học Việt Nam tiếp cận QLGD, quản lý trường học, quản lý HĐDH. Bằng sự tổng hoà các tri thức của QLGD, Giáo dục học, Tâm lý học, Xã hội học, Kinh tế học,.
các nhà khoa học đã thể hiện trong các công trình nghiên cứu của mình một cách khoa học về các khái niệm quản lý, QLGD, quản lý trường học, quản lý HĐDH cùng các chức năng, nguyên tắc, phương pháp quản lý,. Năm 2001, Viện Khoa học GD Việt Nam đã cho xuất bản tuyển tập Giáo dục học - Một số vấn đề lý luận và thực tiễn của tác giả Hà Thế Ngữ (1929-1990)[20]. Qua việc trình bày về đối tượng nghiên cứu và cấu trúc của khoa học QLGD, khái niệm cơ bản của lý luận QLGD, những nguyên tắc QLGD, quản lý nhà trường và những quy luật của giáo dục,. tác giả Hà Thế Ngữ đã để lại nhiều tri thức về phương pháp luận nghiên cứu có giá trị cao trong QLGD và quản lý HĐDH.
Ngoài ra, còn rất nhiều công trình nghiên cứu, giáo trình, bài giảng về quản lý, QLGD, quản lý HĐDH của các tác giả: Đặng Vũ Hoạt, Nguyễn Lân, Nguyễn Cảnh Toàn, Nguyễn Quang Uẩn, Đặng Quốc Bảo, Phạm Khắc Chương,. và một số luận văn của các đồng nghiệp đi trước. Trong thời gian gần đây, nhiều nhà khoa 10 z học đã quan tâm nghiên cứu về chất lượng giảng dạy ở tiểu học và đã có một số chuyên đề, đề tài gần gũi với đề tài chúng tôi nghiên cứu như: Tác giả Nguyễn Văn Lê và Đỗ Hữu Tài với chuyên đề “Quản lý trường học” nghiên cứu về việc nâng cao trình độ, nghiệp vụ quản lý của Hiệu trưởng các trường phổ thông, dạy nghề và trung học chuyên nghiệp. Trong các chuyên đề và đề tài nêu trên, các nhà nghiên cứu quan tâm đến việc nâng cao nghiệp vụ quản lý của hiệu trưởng, cán bộ quản lý các trường phổ thông, dạy nghề, trung học chuyên nghiệp, cao đẳng và đưa ra các giải pháp chung nhằm nâng cao chất lượng giảng dạy.
Việc đưa ra các giải pháp quản lý còn tùy theo điều kiện thực tế của mỗi vùng miền, của từng nhà trường cụ thể thì mới có tính khả thi cao. Một số vấn đề lý luận về quản lý hoạt động dạy học theo hƣớng tích cực ở tiểu học 1. Một số khái niệm cơ bản 1. Quản lý Quản lý vừa là một khoa học, vừa là nghệ thuật trong việc điều khiển một hệ thống xã hội.
Nó đóng vai trò vô cùng quan trọng trong đời sống con người. Thuật ngữ “Quản lý” được định nghĩa theo nhiều kiểu khác nhau trên cơ sở những cách tiếp cận khác nhau: Ở Việt Nam, một số tác giả cũng đưa ra các định nghĩa khác nhau về thuật ngữ “quản lý”. Theo tác giả Phạm Minh Hạc: “Quản lý là tác động có mục đích, có kế hoạch của chủ thể quản lý đến tập thể người lao động nói chung, nhằm thực hiện những mục tiêu dự kiến”.[12] Theo tác giả Đặng Vũ Hoạt và tác giả Hà Thế Ngữ thì: “Quản lý là một quá trình định hướng, quá trình có mục tiêu. Quản lý là một quá trình tác động đến hệ thống nhằm đạt được những mục tiêu nhất định.
Những mục tiêu này đặc trưng cho trạng thái mới của hệ thống mà người quản lý muốn”. [20] 11 z Trên cơ sở những định nghĩa nêu trên, ta có thể hiểu khái niệm quản lý như sau: Quản lý là một quá trình đạt đến mục tiêu của tổ chức bằng cách vận dụng các hoạt động (chức năng) kế hoạch hóa, tổ chức, chỉ đạo và kiểm tra. Quản lý giáo dục Quản lý giáo dục theo nghĩa tổng quan là hoạt động quản lý, điều hành, phối hợp các lực lượng xã hội nhằm đẩy mạnh công tác giáo dục - đào tạo thế hệ trẻ theo yêu cầu phát triển xã hội. Ngày nay với sứ mệnh phát triển giáo dục thường xuyên, công tác giáo dục không chỉ giới hạn ở thế hệ trẻ mà cho mọi người.
Theo tác giả Trần Kiểm “Quản lý giáo dục thực chất là những tác động của chủ thể quản lý vào quá trình giáo dục( được tiến hành bởi tập thể giáo viên và học sinh, với sự hỗ trợ đắc lực của các lực lượng xã hội) nhằm hình thành và phát triển toàn diện nhân cách học sinh theo mục tiêu đào tạo của nhà trường”.