Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ DẠY HỌC THEO DỰ ÁN TRONG CHƯƠNG TRÌNH CÔNG NGHỆ 8 1. Tổng quan các công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài 1. Nghiên cứu ngoài nước Dạy học theo dự án đã xuất hiện từ rất lâu trên thế giới. Dạy học theo dự án có nguồn gốc ở Châu Âu từ thế kỷ XVI.
Khái niệm DHTDA đã được sử dụng trong các trường dạy kiến trúc – xây dựng ở Ý, sau đó tư tưởng DHTDA lan sang Pháp cũng như một số nước Châu Âu khác và Mỹ, chủ yếu trong các trường đại học. Từ Châu Âu, DHTDA lan truyền sang Mỹ và các nhà sư phạm Mỹ xây dựng cơ sở lý luận cho phương pháp dự án (The Project method) và coi đó là PPDH quan trọng để thực hiện quan điểm dạy học lấy HS làm trung tâm, nhằm khắc phục nhược điểm của dạy học truyền thống coi GV là trung tâm. Ban đầu, DHTDA được sử dụng trong dạy học thực hành các môn kỹ thuật, về sau được thực hành hầu hết các môn học khác, kể cả các môn khoa học xã hội. Sau một thời gian phần nào bị lãng quên, ngày nay phương pháp DHTDA lại được vận dụng nhiều ở các nước có nền giáo dục phát triển như Singapore, Mỹ, Đức,… Ở nước ta, phương pháp này đang được nghiên cứu vận dụng trong dạy học không chỉ có ở các bậc đại học, cao đẳng, trung cấp mà còn ở các bậc trung học.
Các nhà giáo dục từ những thế kỷ XVIII - XXI đã có các quan niệm đầu tiên về hình thức dạy học này: Cuối thế kỷ XVIII và nửa đầu thế kỷ XIX, sự chuyển dịch của phương pháp DHTDA từ Châu Âu qua Châu Mỹ, từ các ngành kiến trúc sang kỹ thuật là bước phát triển quan trọng của phương pháp này. Những môi trường học tập ứng dụng DHTDA được ghi nhận như là: trung tâm Nghệ thuật và Chế tạo ở thủ đô Paris ( năm 1829), trường Bách Khoa Ducal ở Karlsruhe ( Đức – năm 1833), viện Công nghệ liên bang Thụy Sĩ ở Zurich (năm 1854) và viện Công nghệ Massachusetts ở Boston ( Mỹ - năm 1864). Những năm cuối thế kỷ XX có rất nhiều nghiên cứu về DHTDA được tác giả John W.Thomas tổng kết trong bài viết “Tổng quan về nghiên cứu DHTDA” ( A review of research on Project – based learning) vào năm 2000. Bài viết này được đăng tải trên web 6 Luan van chính thức của Viện giáo dục Buck ( Buck Institute for Education, viết tắt là BIE).
Bản thân viện Buck cũng là một tổ chức nghiên cứu và phát triển phi lợi nhuận của Mỹ được thành lập từ năm 1987, chuyên nghiên cứu về DHTDA và dạy học GQVĐ. Theo Quỹ Giáo dục George Lucas (2001) thì các nghiên cứu lý luận đã cho thấy việc dạy học theo dự án trong trường học có thể khuyến khích học sinh học tập, giảm thiểu hiện tượng bỏ học, thúc đẩy các kỹ năng hợp tác và nâng cao hiệu quả học tập. Cụ thể: Đối với học sinh, những lợi ích do DHTDA mang lại gồm: (a) tăng thêm tính chuyên cần, nâng cao tính tự lực và thái độ học tập của học sinh [21]; (b) kiến thức mà học sinh thu được tương đương hoặc nhiều hơn so với những mô hình 9 dạy học khác, vì học sinh tham gia vào các dự án sẽ có trách nhiệm hơn trong học tập so với các hoạt động truyền thống khác trong lớp học [7]; (c) học sinh có cơ hội phát triển các năng như tư duy bậc cao, giải quyết vấn đề, hợp tác và giao tiếp (SRI, 2000); (d) với hình thức dạy học này, học sinh được tham gia vào những hoạt động đời thường có ý nghĩa vượt ra khỏi phạm vi lớp học, như thực hiện một đoạn video tài liệu về vấn đề môi trường hay thiết kế bài trình bày đa phương tiện về vai trò của điện năng trong đời sống,. Xuất phát từ tính thực tiễn như vậy, các dự án sẽ hấp dẫn học sinh và thu hút học sinh thuộc các miền văn hóa khác nhau [24].
Đối với GV, theo Thomas, lợi ích mà Dạy học theo dự án mang lại là nâng cao tính chuyên nghiệp và hợp tác với đồng nghiệp, hợp tác với học sinh [33]. Bên cạnh đó, giáo viên sử dụng phương pháp này, sẽ có nhiều thuận lợi trong việc dạy các đối tượng HS khác nhau. Trong một số nghiên cứu đã cho thấy rằng DHTDA là một mô hình dạy học hiệu quả để thích ứng với các phong cách học tập khác nhau (hay “đa trí tuệ”) hơn là các cách dạy truyền thống [29]. Theo các nhà giáo dục Mỹ thì: “Dạy học theo dự án là quá trình mô phỏng và giải quyết các vấn đề thực tế.
Trong đó HS tự lựa chọn đề tài và thực hiện các dự án học tập dựa trên sở thích và khả năng của bản thân”[35]. Các dự án học tập không chỉ giúp HS học tốt bài trên lớp mà còn mở rộng ra ngoài phạm vi lớp học khi các em được phát huy trí thông minh để hoàn thành dự án của mình. Bernd Meier – Nguyễn Văn Cường cho rằng: “Đầu thế kỷ XX các nhà sư phạm Mỹ, điển hình là Kilpartrick đã xây dựng cơ sở lý luận cho phương pháp dự án (The Project Method) và coi đó là phương pháp dạy học quan trọng để thực hiện quan điểm dạy học lấy người học làm trung tâm, nhằm khắc phục những nhược điểm của dạy học truyền thống coi thầy 7 Luan van giáo là trung tâm”[6]. Ban đầu, phương pháp dự án được sử dụng trong dạy học thực hành các môn học kỹ thuật, về sau được dùng trong hầu hết các môn học khác, kể cả các môn khoa học xã hội.
Hiện nay, phương pháp dự án được sử dụng phổ biến trong các trường phổ thông và ĐH trên thế giới, đặc biệt ở các nước phát triển. Theo tài liệu tập huấn chương trình Parner in learning của Microsoft và Intel: “Ở Canada cũng như ở Mỹ khi tổ chức một dự án, máy tính nối mạng đã trở thành một công cụ kích thích học sinh, làm tăng sự hợp tác giữa họ và trên hết là đem lại lợi ích trong học tập ở nhà trường. Mô hình học tập thông qua dự án được sửa đổi là WebQuest được Bernie Dodge và Tom March thuộc đại học bang San Diego triển khai năm 1995” [29]. Dewey cho rằng: “HS sẽ phát triển kỹ năng cá nhân nếu họ tham gia thực hiện các nhiệm vụ và các vấn đề mà DHTDA mang lại từ các tình huống thực tế có ý nghĩa”[32].
Bộ giáo dục Singapore cho rằng: “Dạy học theo dự án là một hoạt động học tập nhằm tạo cơ hội cho HS tổng hợp kiến thức từ nhiều lĩnh vực học tập, và áp dụng một cách sáng tạo vào thực tế cuộc sống” [34]. Quá trình học theo dự án giúp HS củng cố kiến thức và xây dựng các kỹ năng hợp tác, những biến động, di chuyển qua lại từ định nghĩa, cách thức tiến hành, phương thức áp dụng giao tiếp và học tập độc lập, chuẩn bị hành trang cho các em trong sự nghiệp học tập suốt đời và đối mặt với các thử thách trong cuộc sống. Đầu thế kỷ XXI, DHTDA vẫn còn tiếp tục phát triển và được vận dụng rộng rãi trên thế giới như quỹ Bill và Melinda Gates tài trợ cho những trường học DHTDA trên khắp nước Mỹ, hoặc ở cộng đồng chung Châu Âu có chương trình học tập suốt đời được tiến hành từ năm 2007-2013 cũng theo hình thức DHTDA. Như vậy trên thế giới, DHTDA đã được bắt đầu từ nhiều năm trước và đã có mức độ phổ biến,… từ lĩnh vực này sang lĩnh vực khác, từ châu lục này sang châu lục khác.
Vì giáo dục là quốc sách hàng đầu để tạo nguồn nhân lực cho đất nước phát triển vững mạnh và đi lên nên việc đổi mới phương pháp dạy học trên thế giới cũng rất được chú trọng. Dạy học theo dự án giúp các HS tích cực, chủ động, kích thích tư duy bậc cao, tư duy phê phán, giúp các HS dễ hòa nhập vào thực tiễn cuộc sống. Như vậy, trên thế giới dạy học theo dự án đã được bắt đầu từ 300 năm trước và đã có những biến động, di chuyển qua lại từ định nghĩa, cách thức tiến hành, phương thức áp dụng, mức độ phổ biến….từ lĩnh vực này sang lĩnh vực khác, từ châu lục này sang châu lục khác. Ngày nay, phương pháp dạy học theo dự án được áp dụng không chỉ ở các nước 8 Luan van có nền giáo dục phát triển mạnh.
Vì giáo dục là quốc sách hàng đầu để tạo nguồn nhân lực cho đất nước phát triển vững mạnh và đi lên nên việc đổi mới phương pháp dạy học trên thế giới cũng rất được chú trọng. Dạy học theo dự án giúp các học sinh tích cực, chủ động, kích thích tư duy bậc cao, tư duy phê phán, giúp các học sinh dễ hòa nhập vào thực tiễn cuộc sống. Nghiên cứu trong nước Ở Việt Nam, DHTDA đưa vào môi trường học tập của các trường Cao đẳng và Đại học thông qua các đồ án tốt nghiệp của các ngành học. Hiện nay, các hình thức bài tập lớn, tiểu luận, khóa luận trong các trường ĐH nói chung và trong đào tạo GV đã rất quen thuộc với sinh viên.
Trong các hình thức này, sinh viên tự lực thực hiện những nhiệm vụ học tập mang tính nghiên cứu dưới sự hướng dẫn của GV. Dạy học dự án của Microsoft đã ký kết với Bộ giáo dục và đào tạo Việt Nam giai đoạn một 2005 – 2009 và giai đoạn hai vào ngày 18 tháng 3 năm 2010 nhằm đẩy mạnh việc tích hợp công nghệ thông tin vào lĩnh vực giáo dục của Việt Nam, đồng thời hỗ trợ giáo viên và học sinh Việt Nam tiếp cận và khai thác hiệu quả những nguồn lực công nghệ thông tin mới nhất nhằm phát huy tối đa khả năng. Có thể nói, việc ứng dụng phương pháp DHTDA đã được thực hiện khá phổ biến trên thế giới. Nhưng ở Việt Nam chỉ mới bắt đầu trong những năm gần đây, phương pháp này đã được bộ GD & ĐT kết hợp với công ty Intel Việt Nam triển khai thí điểm tại nhiều trường học trên cả nước theo chương trình dạy học cho tương lai của Intel (Intel Teach to the Future).
Ở Việt Nam đã có nhiều đề tài nghiên cứu lý luận và tổ chức DHTDA, như một số công trình: Theo Nguyễn Văn Cường - Nguyễn Thị Diệu Thảo thì dạy học theo dự án là phương pháp hay hình thức dạy học quan trọng để thực hiện quan điểm dạy học định hướng vào người học, quan điểm dạy học định hướng hoạt động và quan điểm dạy học tích hợp gắn LT với TH, tư duy và hành động, nhà trường và xã hội,… [15].