Chương 1: Giới thiệu hướng nghiên cứu, mục tiên, những khó khăn và bố cục của đề tài. HVTH: Trần Thanh Toàn Trang 7 MSHV: 12214245 Tái nhận dạng trong hệ thống nhiều camera quan sát Chương 2: Giới thiệu về các hướng tiếp cận bài toán tái nhận dạng và thực trạng nghiên cứu trên thế giới. Sau đó, trình bày về mô hình bài toán nhận dạng sử dụng ở luận văn này. Chương 3: Trình bày quá trình tiền xử lý cơ sở dữ liệu, giúp dữ liệu ảnh tĩnh của các đối tượng được chuẩn hóa.
Khi đó việc so sánh các đặc trưng sẽ chính xác hơn. Bên cạnh đó, dựa vào sự xuất hiện bên ngoài của đối tượng, phân tách ảnh thành các lưới mô tả đặc trưng cục bộ. Chương 4: Đề cập về các đặc trưng sử dụng để nhận dạng, phương pháp trích các đặc trưng này. Chương 5: Trình bày về cơ sở dữ liệu sử dụng trong đề tài, phương pháp đánh giá kết quả, những kết quả đạt được và hướng phát triển trong tương lai.
Chương 6: Trình bày về khả năng ứng dụng và hướng phát triển trong tương lai. HVTH: Trần Thanh Toàn Trang 8 MSHV: 12214245 Tái nhận dạng trong hệ thống nhiều camera quan sát Chương 2 CÁC PHƯƠNG PHÁP TIẾP CẬN Nhiệm vụ theo dõi một đối tượng trong trường của một camera và nhận dạng lại đối tượng đó khi đi lại vào trường của chính camera đó hoặc của một camera khác chính là bài toán tái nhận dạng đối tượng. Từ kết quả bài toán nhận dạng, nếu nhận dạng đúng thì ta có thể biết thông tin khi nào và bao nhiêu lần đối tượng vào và ra khỏi trường của camera, đó là những thông tin quan trọng sử dụng để phân tích hoạt động của đối tượng. Vấn đề nhận dạng đối tượng có ý nghĩa quan trọng đối với những khu vực cần giám sát rộng lớn như: sân bay, nhà ga, trường học, trung tâm thương mại.
cần nhiều camera để giám sát. Trong chương này sẽ trình bày về cái nhìn tổng quan về các nghiên cứu trước đây, mỗi cách tiếp cận sẽ khai thác các đặc trưng khác nhau và phần cuối sẽ trình bày mô hình nhận dạng. Các phương pháp đã được công bố Để thực hiện nhận dạng các đối tượng thu được từ các camera quan sát có rất nhiều phương pháp khác nhau, có thể được chia làm hai nhóm cơ bản là nhóm nhận dạng có huấn luyện và nhóm nhận dạng trực tiếp. Nhóm phương pháp dựa trên quá trình huấn luyện Điểm hình là mô hình Vector Support Machine (SVM) hoặc K – Nearest Neighbors (KNN) mô tả trong [25, 13, 26, 9, 8] được sử dụng rộng rãi trong nhận dạng có huấn luyện trong đó: - Prosser et al.
[25] xây dựng người tái xác định là một vấn đề xếp hạng, và sử dụng Rank SVMs để thức hiện nhận dạng đối tượng. - Gray et al. [13] kết hợp không gian và thông tin màu sắc như một đặc trưng để nhận dạng đối tượng. HVTH: Trần Thanh Toàn Trang 9 MSHV: 12214245 Tái nhận dạng trong hệ thống nhiều camera quan sát - Schwartz et al.
[26] chủ yếu dựa vào các đặc tính cơ bản của đối tượng thu được để thực hiện tái nhận dạng như màu sắc, đường biên, kết cấu của đối tượng kết hợp với công cụ thống kê Partial Least Squares (PLS) để giảm bớt các thông tin dư thừa và tăng tính hiệu quả của quá trình nhật dạng (hình 2.1: Mô tả quá trình nhận dạng trong [26] - Wei-Shi Zheng et all. [29] đưa ra phương pháp nhận dạng dựa trên việc tính khoảng cách xác xuất các đặc tính, phướng pháp này cho phép quá trình nhận dạng được thức hiện hiệu quả nhờ vào việc loại bỏ các đặc tính cứng nhắc của đối tượng. - Dikmen et all. [8] thực hiện nhận dạng dựa trên việc tính khoảng cách trực tiếp kết hợp với phương pháp phân lớp KNN.
Độ chính xác của các phương pháp nhận dạng ở trên phụ thuộc nhiều vào số mẫu huấn luyện và phần lớn các phương pháp đều đòi hỏi các mẫu huấn luyện mới khi có sự thay đổi camera quan sát, đều này thì không thể áp dụng với các hệ thống quan sát công cộng với số lượng đối tượng quan sát rất lớn, và thay đổi thường xuyên. Do đó nó đòi hỏi một phương pháp nhận dạng khác mà việc xác định đối tượng không cần sử dụng các mẫu huấn luyện cho quá trình phân lớp. Nhóm các phương pháp này sẽ được trình bài ở phần (2. HVTH: Trần Thanh Toàn Trang 10 MSHV: 12214245 Tái nhận dạng trong hệ thống nhiều camera quan sát 2.
Nhóm phương pháp nhận dạng trực tiếp Một số phương pháp nhận dạng trực tiếp đã được nghiên cứu và phát triển để tái xác định người [10, 21, 27, 11], trong đó: - Farenzena et al. [10] phát triển nghiên cứu của nhóm Bazzani với đề xuất một mô hình Symmetry-Driven Accumulation of Local Features (SDALF), kết hợp nhiều nguồn thông tin: thông tin về màu sắc toàn cục histogram HSV, thông tin về phân bố không gian được ước lượng bằng Maximally Stable Color Regions (MSCR) và thông tin về những vùng ảnh có mật độ thông tin tập trung. Tác giả đề xuất, trong giai đoạn đầu, tiến hành tách đối tượng theo các bộ phận (đầu, thân trên, thân dưới, và hai chân) như (Hình 2.2: Minh họa mô hình SDALF - Ma et al. [21] dựa trên việc phát triển mô hình BiCOV bằng cách kết hợp các bộ lọc Gabor và mô tả hiệp phương sai để xử lý thay đổi chiếu sáng và bối cảnh biến thể từ đó tạo ra vector mô tả các đặc tính của đối tượng để tăng khả năng nhận dạng như trong (Hình 2.
HVTH: Trần Thanh Toàn Trang 11 MSHV: 12214245 Tái nhận dạng trong hệ thống nhiều camera quan sát Hình 2.3: Minh họa quá trình xây dựng vector mô tả các đặc tính của đối tượng theo mô hình BiCOV kết hợp với bộ lọc Gabor - Wang et al. [27], đề xuất sử dụng histogram của các gradient có hướng, kết hợp với thông tin về màu sác để mô tả đặc trưng của người. Kỹ thuật này tỏ ra hiệu quả đối với tập dữ liệu của các đối tượng với sự thay đổi nhỏ về góc nhìn. Giải thuật dựa trên phân đoạn hình của đối tượng thành nhiều vùng bằng cách sử dụng các tiêu chí về hình thái (từ điển hình thái được học trước) hoặc tiêu chí về diện mạo bên ngoài.
Các mô tả này hợp thành một ma trận thể hiện mối quan hệ không gian về màu của những vùng này.4 minh họa các vùng phân đoạn dựa trên tiêu chí về hình thái hoặc diện mạo.4: Minh họa cơ sở dữ liệu và kết quả phân đoạn giữa hai hình (từ trái qua phải: hình gốc, kết quả phân đoạn dựa trên hình thái, kết quả phân đoạn dựa trên diện mạo). HVTH: Trần Thanh Toàn Trang 12 MSHV: 12214245 Tái nhận dạng trong hệ thống nhiều camera quan sát - Gheissari et al. [11] đưa ra phương pháp kết hợp và so sánh các đặc trưng về không gian – thời gian, xem xét 10 khung hình liên tục của từng người, và ước lượng phân đoạn dựa trên vùng. Tác giả của bài báo đó, cũng đưa ra một mô hình trực quan hơn, xây dựng lưới tam giác để nắm bắt phân bố không gian của những đặc trưng cục bộ theo thời gian (hình 2.5), điều đó cho phép so sánh chính xác hơn.5: Hai ví dụ về xây dựng mô hình dựa trên lười tam giác - Bak 2011 et al.
[1] và Cheng et al. [7] khai thác Các đặc trưng hiệp biến, bắt nguồn giai đoạn từ phát hiện đối tượng, được trích thô từ nhiều phần của cơ thể và được lắp ghép lại nhằm mục tiêu giải quyết bài toán tái nhận dạng. Dựa trên cách phân loại, các giải thuật tái nhận dạng cũng có thể phân biệt thành lớp tiếp cận trên từng ảnh đơn (single-shot) với lớp phương pháp trên nhiều ảnh (multiple-shot). Cách phân loại dựa trên từng ảnh đơn tập trung so sánh một cặp ảnh, mỗi ảnh là một minh họa của một đối tượng.
Còn phương pháp multiple-shot sử dụng nhiều ảnh của một đối tượng để so sánh. Với giả thiết là thu thập được nhiều khung hình của từng đối tượng theo dõi. Trong thực tế, dữ liệu thu thập được sẽ có độ phân giải, độ che lấp không gian, điều kiện ánh sáng, dáng đi. khác nhau và thay đổi.
Chúng ta cố gắng khai thác các đặc trưng riêng linh hoạt của từng đối tượng phục vụ cho mục đích tái nhận dạng. HVTH: Trần Thanh Toàn Trang 13 MSHV: 12214245 Tái nhận dạng trong hệ thống nhiều camera quan sát Với các cách tiếp cận được trình bày ở 2. Cách tiếp cận trực tiếp trên từng ảnh đơn tương ứng với trường hợp có ít thông tin sử dụng nhất. Một ảnh đơn của đối tượng được đem so sánh một cách độc lập với hàng trăm ứng viên khác.
Cách tiếp cận multi- shot dựa trên huấn luyện dữ liệu, đối mặt với một lượng thông tin rất lớn. Phương pháp tiếp cận của chúng ta đề xuất nằm trong lớp trực tiếp, và nó linh hoạt, có thể làm việc theo cả hai phương thức single-shot và multiple-shot. Nhìn chung thì cách tiếp cận huấn luyện dữ liệu cho hiệu quả cao hơn cách tiếp cận trực tiếp. Tuy nhiên, như trình bày ở trên, nó không thực sự thích hợp để ứng dụng trong ngữ cảnh giám sát thực tế.
Mô hình nhận dạng Bài toán tái nhận dạng như đã trình bày ở mục 2.1 có hai hướng nghiên cứu, tuy nhiên hướng nghiên cứu trực tiếp lại thích hợp nghiên cứu của đề tài. Do đó, luận văn này cũng đi theo hướng nghiên cứu trực tiếp, nghĩa là khảo sát độc lập từng đối tượng và tập trung khai thác các đặc trưng bên ngoài để phân biệt đối tượng so với các đối tượng khác. Mô hình nhận dạng mà đề tài thực hiện như sau (Hình 2.6): - Đầu tiên, ảnh của đối tượng sau khi được tách ra khỏi nền được đưa vào giai đoạn tiền xử lý, sẽ trình bày ở chương 3, nhằm giúp giảm thiểu ảnh hưởng của các thông số về sự thay đổi màu sắc. Đồng thời, trong bước tiền xử lý này ảnh của đối tượng sẽ được chia thành nhiều phần nhỏ từ đó cho ra một vector đặc trưng để phục vụ cho nhận dang đối tượng.
- Sau khi ảnh của đối tượng qua giai đoạn tiền xử lý, ta sẽ dùng ảnh thu được để áp dụng các giải thuật tách các đặc trưng cục bộ của đối tượng nhằm sử dụng các: thông tin màu sắc cục bộ - histogram và hướng tính của các đặc trưng cục bộ để phục vụ cho quá trình nhận dạng (được trình bày ở chương 3).