chương 1 sẽ giới thiệu các phương pháp dựa trên đặc trưng texture, các phương pháp dựa trên tương tác giữa người và máy, các thông tin về sự sống, chất lượng và chiều sâu của hình ảnh cũng được đề cập. Cuối cùng là các phương pháp dựa trên học sâu. Giới thiệu bài toán phát hiện giả mạo khuôn mặt Phát hiện giả mạo khuôn mặt là nhiệm vụ phát hiện hành vi xác minh khuôn mặt bằng cách sử dụng ảnh, video, mặt nạ hoặc một vật thay thế khác cho khuôn mặt của một người. Hình 1-1: Các phương thức giả mạo khuôn mặt Dưới đây là một số hình thức giả mạo khuôn mặt hay được sử dụng nhất: • Giả mạo bằng hình thức in: Kẻ tấn công sử dụng một bức ảnh của nạn nhân, sau đó in ra hoặc hiển thị trên một thiết bị điện tử.
Đây là hình thức giả mạo phổ biển nhất do hầu hết ảnh chụp của các cá nhân đều sẵn có trên mạng và có thể lấy đi mà không cần sự cho phép của chủ nhân bức ảnh đó. 4 • Giả mạo bằng ảnh đục lỗ ở mắt: Vùng mắt của bức ảnh in sẽ được đục lỗ để giả mạo thêm được hành vi chớp mắt của một người. • Giả mạo bởi ảnh làm cong: Kẻ tấn công sẽ uốn ảnh với nhiều hướng khác nhau để giả mạo biểu cảm của khuôn mặt. • Giả mạo bằng video: Ở hình thức này, kẻ tấn công đã lấy được một video quay lại khuôn mặt của nạn nhân.
Cách này khiến cho hành vi và chuyển động của khuôn mặt giả mạo trông tự nhiên hơn khi có thể có đầy đủ dấu hiệu của sự sống như chớp mắt, nét mặt, chuyển động ở đầu và miệng, cuối cùng là phương thức này dễ dàng được thực hiện bằng máy tính bảng và điện thoại thông minh cỡ lớn. • Giả mạo bằng mặt nạ 3D: Một chiếc mặt nạ 3D sẽ được sử dụng làm công cụ giả mạo ở hình thức này. Thậm chí giả mạo bằng mặt nạ 3D còn tinh vi hơn cả việc sử dụng video khi có hình chuyển động ở khuôn mặt rất tự nhiên và có thể vượt qua được các thiết bị đặc biệt như cảm biến chiều sâu. Các nghiên cứu liên quan 1.
Các phương pháp dựa trên đặc trưng texture của ảnh Trong quá trình thu nhận ảnh, hình ảnh bị mất mát đi một số thông tin, cùng với đó có một số nhiễu xuất hiện kèm theo quá trình đó. Bên cạnh đó, hình ảnh được thu nhận qua hai lần cũng sẽ có sự khác biệt về mặt kết cấu (texture) nhất định so với ảnh được thu nhận trực tiếp. Sự khác biệt nhỏ này xuất hiện bởi các yếu tố chủ yếu như điểm sáng cục bộ, sự thay đổi bóng và mức độ nhòe mờ của hình ảnh [4]. Các lý do này sẽ là yếu tố chủ đạo để các phương pháp dựa trên kết cấu phân biệt ảnh thật và ảnh giả.
Một số phương pháp thực hiện chuyển đổi ảnh thu thập được sang dạng xám và trích chọn các thông tin về kết cấu trên các ảnh xám này cho bài toán phân loại ảnh mặt thật và ảnh giả. Các phương pháp này bỏ qua thông tin về kết cấu màu của hình ảnh. Maatta và công sự [5] đã sử dụng nhiều toán tử LBP đồng nhất với nhiều tỷ lệ khác nhau để trích xuất histogram đặc trưng về kết cấu từ các vùng địa phương của ảnh xám và ảnh toàn cục. Sau 5 đó, họ kết nối chúng lại để tạo thành một biểu đồ đặc trưng có 531 chiều và đưa qua bộ phân loại SVM với RBF là lõi cho quá trình huấn luyện và kiểm thử phân loại mặt thật và mặt giả mạo.
Các thuật toán phân tích kết cấu dựa trên bản đồ tỷ lệ xám tỏ ra hiệu quả với các ảnh khuôn mặt giả mạo có kết cấu rõ ràng và có độ phân giải cao. Tuy nhiên, đối với các hình ảnh giả mạo có độ phân giải thấp thì việc phân biệt được trở lên khó hơn. Trong khi đó, Boulkenaf và công sự [1] đề xuất một phương pháp phát hiện ảnh giả mạo dựa trên phân tích cấu trúc màu. Cụ thể, Họ trích xuất các biểu đồ histograms LBP từ mỗi kênh màu, sau đó kết nối chúng lại để tạo thành một đặc trưng mô tả cuối cùng.
Tiến trình đặc biệt này được mô tả qua hình 1-2. Để phân tích không gian màu nào giúp dễ phân biệt mặt thật và mặt giả mạo hơn, phương pháp này thí nghiệm ba không gian màu RGB, YCbCr và HSV. Các thí nghiệm cho thấy rằng phương pháp dựa trên kết cấu màu sắc vượt trội hơn so với phương pháp dựa trên kết cấu màu xám trong việc phát hiện các cách thức giả mạo khác nhau. Boulkenaf và cộng sự.
[1] cũng tập trung vào các kênh độ chói và sắc độ, đồng thời kết hợp các đặc trưng LBP nhiều cấp của khuôn mặt người trong không gian HSV với các đặc trưng LPQ của khuôn mặt người trong không gian YCbCr bằng cách sử dụng thông tin chung về màu sắc và kết cấu. Mặc dù đã đạt được kết quả tốt trong thử nghiệm, nhưng các bộ mô tả kết cấu vi mô ở mức thấp khiến chúng nhạy cảm với sự thay đổi ánh sáng và hình ảnh chất lượng cao. Để cải thiện khả năng phân biệt hơn nữa, Boulkenaf và cộng sự [6] với các đặc tính ổn định được tăng tốc (speed-up robust features, SURF) để đối mặt với việc phát hiện giả mạo. So với các phương pháp trước đây, phương pháp này cho thấy ổn định và hiệu quả tốt hơn.
6 Hình 1-2: Các phương pháp dựa trên phân tích cấu trúc màu Các đặc trưng được trích xuất từ các phương pháp trên dựa trên các đặc trưng của kết cấu đều ở mức thấp, điều này chắc chắn sẽ ảnh hưởng đến độ mạnh mẽ và khả năng khái quát của mô hình. Vì các đặc trưng cấp thấp thường tồn tại trong không gian nhiều chiều và dễ bị nhiễu, chúng không có lợi cho việc phân loại trực tiếp [7]. Để cải thiện khả năng biểu diễn hình ảnh, hiệu quả nhận dạng và khả năng tổng quát của thuật toán, đồng thời hy vọng rằng các đặc trưng trong cùng một lớp sẽ giống nhau hơn, trong khi các đặc trưng giữa các lớp khác nhau thì khác biệt hơn. Vì vậy, mục tiêu sẽ là cần biểu diễn các đặc trưng cấp thấp tới các đặc trưng cấp cao khác biệt hơn thông qua một số thuật toán mã hóa.
Các đặc trưng cấp cao có thể biểu diễn tốt hơn thông tin của toàn ảnh và giúp phân loại dễ dàng hơn. Peixoto và cộng sự. [8] đầu tiên sử dụng bộ lọc DoG để thu được thông tin dải tần trung bình trong hình ảnh, sau đó trích xuất các đặc trưng chính thông qua biến đổi Fourier, và cuối cùng phân loại thông tin đặc trưng được trích xuất và xử lý thông qua bộ phân loại hồi quy logistic, để đạt được mục tiêu hình ảnh cần nhận dạng là khuôn mặt thật hay khuôn mặt giả mạo. Zhang và cộng sự.
Tác giả đã phân tích sự khác biệt giữa các pixel liền kề của khuôn mặt thật và khuôn mặt giả mạo, đồng thời xem xét đầy đủ thông 7 tin kết cấu giữa các kênh màu. Đầu tiên, sự khác biệt về kết cấu của khuôn mặt thật và mặt giả được ghi lại bằng bộ lọc vi phân có hướng (directional differential filter), có thể được coi là các đặc trưng cấp thấp của CTMF. Sau đó, tiến trình Markov được sử dụng để mô hình hóa sự khác biệt về kết cấu khuôn mặt để tạo thành biểu diễn cấp cao cho các đặc trưng cấp thấp. Cuối cùng, SVM-RFE được sử dụng để làm cho đạt được khả năng phát hiện trong thời gian thực.
Nhìn chung, phương pháp dựa trên phân tích kết cấu của hình ảnh có nhiều ưu điểm như chi phí thấp, thuật toán đơn giản và dễ thực hiện. Tuy nhiên, với sự phổ biến của máy ảnh độ nét cao và việc ứng dụng mặt nạ 3D chất lượng cao, việc sử dụng thông tin kết cấu không còn đáp ứng được nhu cầu nữa, do đó, thông tin kết cấu thường cần được tích hợp với các thông tin khác. Phương pháp dựa trên tương tác người và máy Con người có thể thực hiện các cử động hoặc tạo ra âm thanh theo yêu cầu, chẳng hạn như gật đầu, chớp mắt, mở miệng, mỉm cười, lè lưỡi, đọc một đoạn văn bản, trong khi sử dụng một khuôn mặt giả mạo thì những điều trên sẽ khó thực hiện. Dựa trên quan sát này, một phương pháp phát hiện giả mạo khuôn mặt người qua tương tác đã được đề xuất.
Phương pháp phát hiện giả mạo khuôn mặt qua tương tác ban đầu được thiết kế để cố định, cho phép việc video chuyển động được ghi sẵn có thể vượt qua loại thuật toán phát hiện giả mạo khuôn mặt này một cách dễ dàng. Để giải quyết vấn đề này, tính năng phát hiện tương tác giữa người và máy tính dựa trên các hướng dẫn chuyển động ngẫu nhiên ra đời. Tính ngẫu nhiên của hướng dẫn chuyển động khiến kẻ tấn công khó quay video trước để tấn công thuật toán phát hiện giả mạo khuôn mặt, điều này giúp cải thiện đáng kể hiệu suất phát hiện của thuật toán. Wang và cộng sự.
[10] đã tiến hành nhận dạng ngôn ngữ môi bằng cách phát hiện phạm vi thay đổi trong vùng miệng của khuôn mặt, được bổ sung bằng nhận dạng giọng nói để thu được thông tin giọng nói về phản ứng của người dùng để cùng đánh giá xem người dùng có đọc các câu được đưa ra ngẫu nhiên theo yêu cầu hay không. Singh và cộng sự. [11] sử dụng cử động chớp mắt và miệng để đưa ra các phán đoán sự sống. Diện tích của mắt cùng màu sắc, độ bão hòa, giá trị của răng được tính toán để xác định xem mắt có 8 mở và răng có hở hay không.
Các đối tượng hành động theo cụm từ gợi ý do hệ thống tạo ngẫu nhiên và hoàn thành các hành động để chứng minh rằng đó là khuôn mặt thật. Ng và công sự [12] đã thiết kế một hệ thống tương tác máy tính với con người để hướng dẫn người dùng hoàn thành các biểu cảm ngẫu nhiên trên khuôn mặt. Bằng cách tính toán SIFT của nhiều khung hình ảnh, người dùng có thể được đánh giá liệu các biểu cảm khuôn mặt được chỉ định đã hoàn thành hay chưa và liệu chúng có phải là khuôn mặt thật hay không. Phương pháp dựa trên tương tác giữa người và máy tính có thể làm giảm sự ảnh hưởng khi thay đổi các phương thức giả mạo một cách hiệu quả, hay nói cách khác phương pháp này khá tổng quát qua việc thực hiện thuật toán thông qua các hành động tương tác được thiết kế cẩn thận.