Tổng quan nghiên cứu

Dạy học tiếng mẹ đẻ trong nhà trường phổ thông giữ vai trò then chốt đối với sự phát triển tư duy và năng lực biểu đạt của học sinh. Theo phân phối chương trình giáo dục phổ thông, môn Ngữ văn lớp 11 được thiết kế với thời lượng 122,5 tiết/năm đối với chương trình chuẩn (tương đương 3,5 tiết/tuần trong 35 tuần) và 140 tiết/năm đối với chương trình nâng cao (tương đương 4 tiết/tuần). Mặc dù thời lượng dành cho phân môn Tiếng Việt chiếm khoảng 15% đến 20% tổng quỹ thời gian của môn học, thực trạng giảng dạy tại các trường trung học phổ thông vẫn bộc lộ nhiều điểm nghẽn nghiêm trọng. Phân môn này thường bị xem nhẹ, phương pháp tiếp cận còn nặng về truyền thụ kiến thức ngôn ngữ học hàn lâm, tính cấu trúc thuần túy và xa rời thực tiễn đời sống. Hệ quả là có tới hơn 60% học sinh gặp khó khăn trong việc diễn đạt bằng văn bản, lúng túng khi tạo lập câu từ, thiếu tính logic và khả năng làm chủ ngôn ngữ trong giao tiếp thực tế.

Nhằm khắc phục tình trạng trên, đề tài tập trung nghiên cứu giải pháp đổi mới phương pháp dạy học bài "Phong cách ngôn ngữ báo chí" thuộc chương trình Ngữ văn lớp 11 theo quan điểm giao tiếp. Mục tiêu cốt lõi của nghiên cứu là xây dựng hệ thống quy trình tổ chức dạy học, thiết kế các tình huống và bài tập mang tính tương tác cao nhằm chuyển hóa tri thức lý thuyết phong cách học thành năng lực sản sinh, tiếp nhận văn bản thực tế cho học sinh. Nghiên cứu được triển khai khảo sát và thực nghiệm tại 3 trường trung học phổ thông trên địa bàn tỉnh Nam Định bao gồm Trường Trung học phổ thông Ngô Quyền, Trường Trung học phổ thông Nguyễn Huệ và Trường Trung học phổ thông Mỹ Lộc. Kết quả của luận văn mang lại giá trị thực tiễn to lớn, khẳng định rằng khi quán triệt nguyên lý “giao tiếp là chức năng trọng yếu của ngôn ngữ”, hiệu quả tiếp thu bài học và kỹ năng tạo lập văn bản của người học có thể gia tăng từ 25% đến 35% so với phương pháp thuyết giảng một chiều truyền thống.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng dựa trên sự tích hợp vững chắc của 3 trụ cột khoa học: Ngôn ngữ học chức năng, Tâm lý học hoạt động và Lý luận dạy học hiện đại.

Trước hết, luận văn vận dụng lý thuyết năng lực giao tiếp của Dell Hymes (năm 1972), lý thuyết ngôn ngữ học chức năng của M.A.K. Halliday (năm 1970) và lý thuyết hành động lời nói của J.L. Austin (năm 1969). Theo hệ thống quan điểm này, ngôn ngữ không chỉ là một hệ thống ký hiệu trừu tượng tĩnh tại như quan niệm cấu trúc luận kinh điển của Ferdinand de Saussure, mà là một phương tiện hành động xã hội. Đơn vị dạy học tối thiểu phải là hành động lời nói gắn liền với 5 nhân tố giao tiếp then chốt: nhân vật giao tiếp (ai nói, viết cho ai), nội dung hiện thực (nói, viết cái gì), hoàn cảnh giao tiếp (không gian, thời gian, bối cảnh văn hóa), mục đích giao tiếp (nói, viết để làm gì) và phương tiện, cách thức biểu đạt (nói, viết như thế nào). Đồng thời, hoạt động giao tiếp thực hiện 5 chức năng cơ bản gồm: chức năng thông tin, chức năng tạo lập quan hệ, chức năng tự biểu hiện, chức năng giải trí và chức năng hành động thúc đẩy thay đổi nhận thức.

Thứ hai, trên nền tảng tâm lý học hoạt động của Lev Vygotsky, nghiên cứu khẳng định quá trình giao tiếp gồm 4 giai đoạn liên hoàn: định hướng, lập chương trình, hiện thực hóa chương trình và kiểm tra, điều chỉnh. Quá trình tiếp nhận lời nói là sự giải mã từ lời thành ý thông qua hoạt động nghe và đọc.

Thứ ba, nghiên cứu áp dụng tháp mức độ tiếp thu trong học tập chủ động. Theo các công bố về tâm lý giáo dục, tỷ lệ lưu giữ tri thức của người học qua các phương thức dạy học có sự cách biệt rõ rệt: thuyết giảng thuần túy chỉ đạt 0,5%, đọc tài liệu đạt 10%, nghe nhìn đạt 20%, thảo luận nhóm đạt 50%, thực hành trải nghiệm đạt 75%, và việc ứng dụng ngay hoặc dạy lại cho người khác đạt tới 90%. Đây là cơ sở khoa học khẳng định câu châm ngôn phương Đông sâu sắc: “Tôi làm – tôi hiểu”.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu kết hợp chặt chẽ giữa phương pháp nghiên cứu lý luận, phương pháp điều tra khảo sát thực trạng và phương pháp thực nghiệm sư phạm có đối chứng.

Về quy mô mẫu khảo sát, đề tài tiến hành điều tra trên 180 học sinh khối 11 và 18 giáo viên trực tiếp giảng dạy môn Ngữ văn tại 3 trường trung học phổ thông trên địa bàn tỉnh Nam Định. Phương pháp chọn mẫu là chọn mẫu ngẫu nhiên phân tầng nhằm bảo đảm tính đại diện đồng đều về các mức độ học lực của học sinh và thâm niên công tác của giáo viên. Lý do lựa chọn 3 điểm trường này là nhằm bao quát cả khu vực đô thị trung tâm và khu vực huyện ngoại thành, phản ánh chân thực mặt bằng tiếp cận đổi mới phương pháp giảng dạy.

Đối với thực nghiệm sư phạm, tác giả lựa chọn 2 lớp 11 có trình độ tương đương nhau để phân chia thành nhóm thực nghiệm (dạy học theo giáo án thiết kế theo quan điểm giao tiếp, tích hợp thuyết trình, đóng vai phóng viên và giải quyết tình huống) và nhóm đối chứng (dạy học theo giáo án truyền thống, thuyết giảng dựa trên sách giáo khoa).

Phương pháp phân tích dữ liệu sử dụng thống kê toán học trong giáo dục để xử lý kết quả kiểm tra đánh giá. Các tham số định lượng then chốt được tính toán gồm điểm trung bình cộng, độ lệch chuẩn (SD), hệ số biến thiên phân tán và kiểm định giá trị t-Student. Việc sử dụng kiểm định tham số này nhằm chứng minh sự khác biệt về kết quả học tập giữa 2 nhóm lớp là có ý nghĩa thống kê ở độ tin cậy trên 95% (p < 0,05), loại trừ hoàn toàn các yếu tố ngẫu nhiên.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Quá trình điều tra thực trạng và tiến hành thực nghiệm sư phạm đã mang lại 4 phát hiện quan trọng có ý nghĩa thực tiễn sâu sắc:

Thứ nhất, có sự chênh lệch lớn về kết quả học tập trung bình giữa 2 phương pháp. Điểm trung bình của nhóm lớp thực nghiệm đạt 7,42 điểm, trong khi nhóm lớp đối chứng chỉ đạt mức 6,25 điểm. Mức chênh lệch 1,17 điểm có ý nghĩa thống kê với hệ số t tính toán đạt 3,45, vượt xa giá trị t tới hạn ở mức xác suất sai lầm 5%.

Thứ hai, cơ cấu xếp loại học lực có sự chuyển dịch vượt bậc theo hướng tích cực. Ở nhóm lớp thực nghiệm, tỷ lệ học sinh đạt điểm khá và giỏi (từ 7,0 điểm trở lên) chiếm tới 68,3%, tăng 25,8% so với mức 42,5% của nhóm đối chứng. Ngược lại, tỷ lệ học sinh có điểm dưới trung bình và yếu ở lớp thực nghiệm giảm mạnh xuống còn 1,7%, trong khi ở lớp đối chứng tỷ lệ này vẫn ở mức 8,3%.

Thứ ba, mức độ làm chủ các kỹ năng tạo lập văn bản báo chí có sự cải thiện rõ rệt. Khoảng 86,5% học sinh ở lớp thực nghiệm hoàn thành xuất sắc bài tập viết bản tin ngắn 150 từ và xây dựng kịch bản phỏng vấn đúng quy chuẩn thể loại trong thời gian dưới 15 phút, so với tỷ lệ chỉ 41,2% ở lớp đối chứng.

Thứ tư, mức độ hứng thú và tính chủ động của học sinh trong giờ học tăng vọt. Phiếu khảo sát sau thực nghiệm cho thấy 91,5% học sinh lớp thực nghiệm bày tỏ sự yêu thích và mong muốn tiếp tục học các bài Tiếng Việt theo mô hình tình huống giao tiếp, xóa bỏ hoàn toàn tâm lý ngán ngại, thụ động thường thấy.

Thảo luận kết quả

Khi xem xét toàn diện dữ liệu qua bảng tổng hợp tham số thống kê và biểu đồ phân phối tần số điểm số, có thể thấy đường cong phân bố điểm của lớp thực nghiệm lệch hẳn về phía điểm cao và có độ phân tán đồng đều hơn với độ lệch chuẩn đạt 0,98 so với mức 1,32 của lớp đối chứng. Điều này chứng minh rằng việc áp dụng quan điểm giao tiếp không chỉ nâng cao năng lực cho nhóm học sinh khá giỏi mà còn hỗ trợ tích cực cho nhóm học sinh trung bình và yếu kém.

Nguyên nhân cốt lõi của sự khác biệt này bắt nguồn từ việc thay đổi căn bản cơ chế tiếp nhận tri thức. Ở phương pháp truyền thống, giáo viên dành tới 70% thời lượng tiết dạy 45 phút để diễn giảng lại các khái niệm có sẵn trong sách giáo khoa, khiến học sinh rơi vào trạng thái thụ động, mau nhớ nhưng chóng quên. Ngược lại, việc tổ chức dạy học theo quan điểm giao tiếp đã biến học sinh thành chủ thể trung tâm của lớp học. Khi được đặt vào các tình huống thực tiễn như biên tập viên thu thập tin tức, phát thanh viên đọc bản tin hoặc phóng viên phỏng vấn nhân vật, học sinh được kích hoạt đồng thời cả 4 kỹ năng nghe, nói, đọc, viết.

Mặt khác, nghiên cứu đã khai thác tối đa sức mạnh của các yếu tố phi ngôn từ trong hoạt động giao tiếp thuyết trình. Dựa trên các nghiên cứu xã hội học thực nghiệm chỉ ra rằng hiệu quả truyền đạt thông điệp chịu tác động bởi 7% từ ngữ, 38% giọng nói và tới 55% từ hình ảnh, nét mặt, cử chỉ; việc rèn luyện toàn diện các kỹ năng biểu đạt khẩu ngữ đã giúp học sinh tự tin, phát triển tư duy phản biện và năng lực tương tác xã hội vượt trội so với các giờ học ngữ pháp truyền thống.

Đề xuất và khuyến nghị

Dựa trên kết quả nghiên cứu lý luận và kiểm chứng thực nghiệm, luận văn đưa ra 4 giải pháp mang tính hành động cao nhằm đổi mới dạy học bài "Phong cách ngôn ngữ báo chí" nói riêng và phân môn Tiếng Việt nói chung:

Thứ nhất, thiết kế hệ thống bài tập tình huống mô phỏng hoạt động truyền thông báo chí thực tế. Giáo viên bộ môn Ngữ văn cần chủ động xây dựng tối thiểu 3 dạng tình huống điển hình cho mỗi bài học gồm: nhận diện thể loại báo chí qua các tờ báo thực tế mang đến lớp, thực hành viết tin vắn phản ánh sự kiện học đường và xử lý các tình huống phỏng vấn ngắn. Mục tiêu đạt 100% học sinh được trực tiếp tạo lập văn bản ngay trong tiết học 45 phút, triển khai xuyên suốt năm học.

Thứ tư, áp dụng quy trình tổ chức thuyết trình 3 giai đoạn kết hợp kỹ năng phi ngôn từ. Giáo viên hướng dẫn học sinh quy trình chuẩn gồm: thu thập và cấu trúc dữ liệu theo 3 bước, rèn luyện giọng nói và cử chỉ trước gương, thuyết trình nhóm với bảng tiêu chí đánh giá minh bạch. Mục tiêu giúp học sinh làm chủ 55% yếu tố thị giác và 38% yếu tố âm sắc, hoàn thành chuẩn bị trong vòng 5 đến 7 ngày trước mỗi buổi học chuyên đề.

Thứ ba, đa dạng hóa các hình thức tổ chức hoạt động ngoài giờ lên lớp gắn với sản phẩm báo tường. Ban giám hiệu và Đoàn trường cần phối hợp cùng tổ chuyên môn Ngữ văn phát động phong trào làm báo tường, đặc san định kỳ 1 lần/học kỳ. Mỗi chi đoàn lớp 11 phải sản xuất 1 số báo hoàn chỉnh gồm ít nhất 4 thể loại: bản tin, phóng sự, tiểu phẩm và quảng cáo, giúp chuyển hóa 100% kiến thức lý thuyết thành kỹ năng sáng tạo thực tế.

Thứ tư, cải tiến căn bản quy trình và hình thức kiểm tra, đánh giá theo chuẩn đầu ra năng lực. Tổ chuyên môn cần điều chỉnh cấu trúc đề kiểm tra định kỳ 1 tiết và học kỳ, nâng tỷ trọng phần tự luận đánh giá năng lực sản sinh văn bản thực tế lên tối thiểu 60% tổng số điểm. Giảm thiểu các câu hỏi ghi nhớ lý thuyết máy móc, tăng cường các câu hỏi mở gắn liền với các nhân tố giao tiếp cụ thể, hoàn thành áp dụng đồng bộ trong vòng 30 ngày kể từ đầu năm học mới.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nội dung và kết quả nghiên cứu của luận văn mang lại giá trị tham khảo thiết thực cho 4 nhóm đối tượng trọng tâm sau:

  1. Giáo viên dạy môn Ngữ văn tại các trường trung học phổ thông: Tài liệu cung cấp trọn bộ giáo án thực nghiệm mẫu, hệ thống bài tập tình huống và quy trình tổ chức dạy học theo quan điểm giao tiếp, giúp giáo viên làm chủ phương pháp dạy học tích cực, khắc phục tình trạng cháy giáo án trong khung giờ 45 phút chuẩn.

  2. Giảng viên và sinh viên các trường đại học, cao đẳng sư phạm chuyên ngành Ngữ văn: Luận văn là nguồn tư liệu học thuật giá trị phục vụ học phần Lý luận và Phương pháp dạy học bộ môn Ngữ văn, cung cấp cái nhìn thực tiễn về ứng dụng ngôn ngữ học chức năng và tâm lý học hoạt động vào thiết kế bài giảng tiếng mẹ đẻ.

  3. Chuyên viên quản lý chuyên môn tại các Phòng và Sở Giáo dục và Đào tạo: Tài liệu là căn cứ khoa học phục vụ việc xây dựng kế hoạch bồi dưỡng thường xuyên cho giáo viên THPT, định hướng đổi mới phương pháp giảng dạy phân môn Tiếng Việt theo định hướng phát triển phẩm chất và năng lực người học.

  4. Các nhà nghiên cứu và tác giả biên soạn sách giáo khoa, sách tham khảo môn Ngữ văn: Cung cấp các luận cứ thực nghiệm vững chắc về dung lượng, tỷ lệ phân bổ bài tập tình huống và phương thức tích hợp kiến thức giao tiếp vào cấu trúc bài học để tối ưu hóa hiệu quả tiếp thu của học sinh.

Câu hỏi thường gặp

Quan điểm giao tiếp khác biệt như thế nào so với phương pháp dạy học Tiếng Việt truyền thống?
Phương pháp truyền thống chú trọng dạy hệ thống ngôn ngữ tĩnh tại với các quy tắc ngữ pháp hàn lâm, ghi nhớ khái niệm là chính. Ngược lại, quan điểm giao tiếp coi ngôn ngữ là hoạt động hành chức, lấy việc rèn luyện 4 kỹ năng nghe, nói, đọc, viết và khả năng ứng xử linh hoạt trong các hoàn cảnh giao tiếp cụ thể làm đích đến cuối cùng, nâng tỷ lệ thực hành lên trên 60% thời lượng.

Làm thế nào để giáo viên không bị cháy giáo án 45 phút khi tổ chức các hoạt động nhóm và thuyết trình?
Giáo viên cần áp dụng quy trình chuẩn bị bài trước ở nhà theo 3 giai đoạn rõ ràng. Trong giờ học, chỉ phân bổ tối đa 7 đến 10 phút cho việc thảo luận nhóm, mỗi nhóm cử đại diện thuyết trình cô đọng trong 3 phút theo phiếu tiêu chí có sẵn, tập trung vào nội dung trọng tâm thay vì giảng giải toàn bộ nội dung sách giáo khoa.

Mô hình dạy học theo quan điểm giao tiếp có áp dụng hiệu quả cho đối tượng học sinh có học lực trung bình không?
Hoàn toàn hiệu quả. Đối với lớp có nhiều học sinh học lực trung bình, giáo viên không bắt buộc học sinh thuyết trình lý thuyết phức tạp mà dẫn dắt các em phân tích các mẩu tin, quảng cáo ngắn, gần gũi trong đời sống, từ đó giúp học sinh tự rút ra kiến thức và tăng điểm số trung bình thêm từ 0,8 đến 1,2 điểm.

Cần chuẩn bị những đồ dùng và phương tiện dạy học nào cho tiết học Phong cách ngôn ngữ báo chí?
Giáo viên và học sinh cần chuẩn bị các tư liệu thực tế như 4 đến 5 đầu báo in phổ biến (báo Tuổi trẻ, Nhân dân, Thanh niên, Tiền phong), một số đoạn băng ghi âm bản tin phát thanh hoặc video clip thời sự ngắn dưới 2 phút và phiếu đánh giá tiêu chí thuyết trình in sẵn.

Việc dạy học theo hướng giao tiếp có làm giảm kết quả của học sinh trong các kỳ thi kiểm tra định kỳ không?
Hoàn toàn không. Kết quả thực nghiệm chứng minh học sinh lớp thực nghiệm có tỷ lệ đạt điểm khá giỏi cao hơn 25,8% và tỷ lệ yếu kém giảm xuống dưới 1,8%. Học sinh nắm bản chất ngôn ngữ sâu sắc hơn nên có khả năng giải quyết các câu hỏi đọc hiểu và viết đoạn văn nghị luận nhanh, chính xác hơn.

Kết luận

  1. Luận văn đã hệ thống hóa và khẳng định cơ sở khoa học vững chắc của việc vận dụng Ngôn ngữ học chức năng và Tâm lý học hoạt động vào đổi mới dạy học phân môn Tiếng Việt cấp trung học phổ thông.
  2. Thiết kế thành công quy trình dạy học bài "Phong cách ngôn ngữ báo chí" lớp 11 tích hợp các phương pháp đóng vai, giải quyết tình huống, thuyết trình và làm báo tường thực tế.
  3. Kết quả thực nghiệm tại 3 trường THPT ở Nam Định chứng minh tính hiệu quả vượt trội, nâng điểm trung bình của học sinh lên 7,42 điểm (tăng 1,17 điểm so với đối chứng) và tỷ lệ khá giỏi đạt 68,3%.
  4. Đề xuất hệ thống giải pháp đồng bộ từ thiết kế bài giảng, đổi mới kiểm tra đánh giá định kỳ với 60% trọng số thực hành, đến kế hoạch tập huấn giáo viên trong vòng 3 đến 6 tháng tiếp theo.
  5. Nghiên cứu mở ra hướng tiếp cận cấp thiết và mang tính ứng dụng cao, kêu gọi các nhà giáo dục và giáo viên Ngữ văn đẩy mạnh chuyển dịch phương pháp dạy học tiếng mẹ đẻ từ truyền thụ kiến thức hàn lâm sang phát triển toàn diện năng lực giao tiếp thực tiễn cho học sinh.