Luận Văn Thạc Sĩ Về Dạy Học Phong Cách Ngôn Ngữ Báo Chí Ở Lớp 11 Trung Học Phổ Thông

Luận văn thạc sĩ nghiên cứu vnu ued dạy học bài phong cách ngôn ngữ báo chí ở lớp 11 trung học phổ thông theo quan điểm giao, đánh giá hiện trạng, phân tích vấn đề, đề xuất biện

Chuyên ngành

Sư phạm Ngữ văn

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2012

103
3
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CẢM ƠN

DANH MỤC CÁC BẢNG

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU

1. CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI

1.1. Cơ sở ngôn ngữ học

1.2. Cơ sở tâm lý-ngôn ngữ

1.3. Cơ sở giáo dục học

1.4. Lý thuyết về hoạt động giao tiếp

1.5. Cơ sở thực tiễn

1.6. Nội dung chương trình trong sách giáo khoa ngữ văn 11

1.7. Yêu cầu về kiến thức, kĩ năng

1.8. Thực trạng dạy và học bài phong cách ngôn ngữ nói riêng và phân môn Tiếng Việt lớp 11 trung học phổ thông nói chung

2. CHƯƠNG 2: TỔ CHỨC DẠY HỌC BÀI PHONG CÁCH NGÔN NGỮ BÁO CHÍ Ở LỚP 11 THEO QUAN ĐIỂM GIAO TIẾP

2.1. Quan điểm giao tiếp với nội dung dạy học bài phong cách ngôn ngữ báo chí ở lớp 11 trung học phổ thông

2.2. Quan điểm giao tiếp với việc xác lập các phương tiện diễn đạt của phong cách ngôn ngữ báo chí

2.3. Quan điểm giao tiếp với việc xác định các kĩ năng sử dụng Tiếng Việt cần rèn luyện cho học sinh khi dạy học bài phong cách ngôn ngữ báo chí

2.4. Tổ chức dạy học bài phong cách ngôn ngữ báo chí ở lớp 11 trung học phổ thông

2.5. Lựa chọn sử dụng các phương pháp dạy học

2.6. Lựa chọn sử dụng các hình thức tổ chức dạy học

2.7. Hướng khai thác theo quan điểm giao tiếp

2.8. Định hướng chung việc triển khai dạy học

2.9. Hướng khai thác cụ thể

2.10. Kiểm tra, đánh giá theo quan điểm giao tiếp

2.10.1. Mục đích kiểm tra, đánh giá

2.10.2. Nội dung kiểm tra, đánh giá

2.10.3. Hình thức kiểm tra, đánh giá

2.10.4. Xử lý kết quả kiểm tra, đánh giá

3. CHƯƠNG 3: THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM

3.1. Mục đích, yêu cầu, nội dung, phương pháp thực nghiệm

3.1.1. Mục đích, yêu cầu thực nghiệm

3.1.2. Nội dung, phương pháp thực nghiệm

3.2. Tổ chức thực nghiệm

3.3. Giao nhiệm vụ thực nghiệm

3.4. Mô tả tiến trình giờ dạy học thực nghiệm

3.5. Đánh giá thực nghiệm

3.6. Nhận xét quá trình học tập của lớp thực nghiệm

3.7. Xử lí số liệu thực nghiệm

3.8. Kết quả thu nhận được từ phiếu tham khảo ý kiến giáo viên và học sinh

3.9. Kết luận chung về thực nghiệm

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng Quan Về Dạy Học Phong Cách Ngôn Ngữ Báo Chí Ở Lớp 11

Dạy học phong cách ngôn ngữ báo chí ở lớp 11 là một phần quan trọng trong chương trình giáo dục hiện nay. Mục tiêu chính của việc dạy học này là giúp học sinh hiểu rõ hơn về ngôn ngữ báo chí, từ đó nâng cao khả năng giao tiếp và trình bày ý tưởng một cách hiệu quả. Việc áp dụng quan điểm giao tiếp trong dạy học không chỉ giúp học sinh nắm vững kiến thức mà còn phát triển kỹ năng thực hành ngôn ngữ trong các tình huống giao tiếp thực tế.

1.1. Định Nghĩa Phong Cách Ngôn Ngữ Báo Chí

Phong cách ngôn ngữ báo chí là một trong những phong cách ngôn ngữ đặc trưng, được sử dụng chủ yếu trong các phương tiện truyền thông. Nó có những đặc điểm riêng biệt như tính chính xác, tính khách quan và tính sinh động. Việc hiểu rõ về phong cách này giúp học sinh có thể phân tích và đánh giá các văn bản báo chí một cách hiệu quả.

1.2. Vai Trò Của Ngôn Ngữ Trong Giao Tiếp

Ngôn ngữ đóng vai trò quan trọng trong giao tiếp, đặc biệt là trong việc truyền đạt thông tin và cảm xúc. Việc dạy học phong cách ngôn ngữ báo chí giúp học sinh nhận thức được tầm quan trọng của ngôn ngữ trong việc xây dựng mối quan hệ và tương tác xã hội.

II. Thách Thức Trong Dạy Học Phong Cách Ngôn Ngữ Báo Chí

Dạy học phong cách ngôn ngữ báo chí ở lớp 11 gặp phải nhiều thách thức. Một trong những vấn đề chính là sự thiếu hụt tài liệu và phương pháp giảng dạy phù hợp. Nhiều giáo viên vẫn còn lúng túng trong việc áp dụng quan điểm giao tiếp vào giảng dạy, dẫn đến việc học sinh không đạt được hiệu quả như mong muốn.

2.1. Thiếu Tài Liệu Hỗ Trợ

Nhiều giáo viên gặp khó khăn trong việc tìm kiếm tài liệu phù hợp để giảng dạy phong cách ngôn ngữ báo chí. Điều này ảnh hưởng đến chất lượng dạy học và khả năng tiếp thu của học sinh.

2.2. Khó Khăn Trong Việc Áp Dụng Phương Pháp Giao Tiếp

Việc áp dụng phương pháp giao tiếp trong dạy học phong cách ngôn ngữ báo chí còn gặp nhiều khó khăn. Giáo viên cần có kỹ năng và kinh nghiệm để tổ chức các hoạt động giao tiếp hiệu quả trong lớp học.

III. Phương Pháp Dạy Học Phong Cách Ngôn Ngữ Báo Chí Hiệu Quả

Để dạy học phong cách ngôn ngữ báo chí hiệu quả, giáo viên cần áp dụng các phương pháp dạy học tích cực. Các phương pháp này không chỉ giúp học sinh tiếp thu kiến thức mà còn phát triển kỹ năng giao tiếp và tư duy phản biện.

3.1. Sử Dụng Tình Huống Giao Tiếp

Tình huống giao tiếp là một phương pháp hiệu quả trong dạy học phong cách ngôn ngữ báo chí. Giáo viên có thể tạo ra các tình huống thực tế để học sinh thực hành và rèn luyện kỹ năng giao tiếp.

3.2. Tổ Chức Thảo Luận Nhóm

Thảo luận nhóm giúp học sinh trao đổi ý kiến và học hỏi lẫn nhau. Đây là một phương pháp hữu ích để phát triển kỹ năng giao tiếp và khả năng làm việc nhóm.

IV. Ứng Dụng Thực Tiễn Của Phong Cách Ngôn Ngữ Báo Chí

Việc dạy học phong cách ngôn ngữ báo chí không chỉ giúp học sinh nắm vững kiến thức lý thuyết mà còn có thể áp dụng vào thực tiễn. Học sinh có thể sử dụng những kiến thức này trong việc viết bài báo, tham gia các hoạt động truyền thông và giao tiếp hàng ngày.

4.1. Viết Bài Báo Chuyên Nghiệp

Học sinh có thể áp dụng phong cách ngôn ngữ báo chí để viết các bài báo chuyên nghiệp. Điều này không chỉ giúp nâng cao kỹ năng viết mà còn phát triển khả năng tư duy phản biện.

4.2. Tham Gia Các Hoạt Động Truyền Thông

Việc tham gia các hoạt động truyền thông giúp học sinh thực hành và rèn luyện kỹ năng giao tiếp. Học sinh có thể tham gia vào các câu lạc bộ báo chí hoặc các hoạt động ngoại khóa liên quan đến truyền thông.

V. Kết Luận Về Dạy Học Phong Cách Ngôn Ngữ Báo Chí

Dạy học phong cách ngôn ngữ báo chí ở lớp 11 theo quan điểm giao tiếp là một nhiệm vụ quan trọng trong giáo dục hiện nay. Việc áp dụng các phương pháp dạy học tích cực sẽ giúp học sinh phát triển kỹ năng giao tiếp và nâng cao khả năng sử dụng ngôn ngữ trong thực tế.

5.1. Tương Lai Của Dạy Học Ngôn Ngữ

Tương lai của dạy học phong cách ngôn ngữ báo chí sẽ phụ thuộc vào việc cải tiến phương pháp giảng dạy và nâng cao chất lượng tài liệu học tập. Cần có sự đầu tư và chú trọng hơn nữa vào việc phát triển kỹ năng giao tiếp cho học sinh.

5.2. Đề Xuất Các Giải Pháp Cải Tiến

Cần có các giải pháp cải tiến trong việc dạy học phong cách ngôn ngữ báo chí, bao gồm việc đào tạo giáo viên, phát triển tài liệu học tập và tổ chức các hoạt động ngoại khóa liên quan đến ngôn ngữ và giao tiếp.

19/07/2025
Luận văn thạc sĩ vnu ued dạy học bài phong cách ngôn ngữ báo chí ở lớp 11 trung học phổ thông theo quan điểm giao tiếp

Trích đoạn nội dung tài liệu

phần Mở đầu, Kết luận, tài liệu tham khảo, phụ lục, luận văn đƣợc trình bày theo 3 chƣơng: Chƣơng 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI Chƣơng 2: TỔ CHỨC DẠY HỌC BÀI PHONG CÁCH NGÔN NGŨ BÁO CHÍ Ở LỚP 11 THEO QUAN ĐIỂM GIAO TIẾP Chƣơng 3: THỰC NGHIỆM SƢ PHẠM 111 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CHƢƠNG 1 CỞ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 1. Cở sở lý luận 1. Cơ sở ngôn ngữ học Thuật ngữ “năng lực giao tiếp” tuy xuất hiện sau thuật ngữ “năng lực ngôn ngữ” nhƣng nhờ sự xuất hiện ấy mà “năng lực giao tiếp” đã làm thay đổi quan điểm dạy học Tiếng Việt hiện nay, trở thành mục đích cuối cùng của việc dạy và học Tiếng Việt. Khái niệm “năng lực giao tiếp” đƣợc hiểu thông qua sự đối lập với khái niệm “năng lực ngôn ngữ”.

Năng lực ngôn ngữ là khả năng của con ngƣời tạo ra đƣợc những câu đúng trên cơ sở nắm vững những kiến thức ngữ pháp, từ vựng, ngữ âm, tu từ… của ngôn ngữ đó. Còn năng lực giao tiếp, đó là việc lựa chọn và hiện thực hóa những chƣơng trình của hành vi lời nói tùy thuộc vào khả năng định hƣớng trong hoàn cảnh này hoặc khác, khả năng phân loại các tình huống sao cho phù hợp với chủ đề, nhiệm vụ và mục đích giao tiếp ở ngƣời học trƣớc khi giao tiếp và trong quá trình mô phỏng các tình huống giống và gần giống nhƣ giao tiếp thực. Nói cách khác, năng lực giao tiếp chính là khả năng tham gia vào giao tiếp. Thuật ngữ “năng lực giao tiếp” và “ năng lực ngôn ngữ” xuất hiện là nhờ có những công trình nghiên cứu đồ sộ của các nhà ngôn ngữ học nổi tiếng về sự phân biệt giữa hai khái niệm “ngôn ngữ” (language) và “lời nói” (speech).

Trong đó, phải kể đến công trình của các nhà ngôn ngữ học nổi tiếng Ferdinan De Saussure [Cours de linguistiquegenerale (Giáo trình Ngôn ngữ học Đại cương) (1916)]. Còn khái niệm “năng lực” ở nghĩa ban đầu chỉ là khả năng đối với một việc gì đó, sau đó đƣợc Noam Chomsky đƣa vào dùng một cách chính thức trong lĩnh vực ngôn ngữ học (Những chân trời mới trong nghiên cứu ngôn ngữ và ý thức (2008), dịch giả Hoàng Văn Vân). Có thể nói, việc chọn năng lực giao tiếp làm mục đích cuối cùng của việc dạy – học ngôn ngữ dựa trên cơ sở ngôn ngữ học chức năng hay còn gọi là ngôn ngữ giao tiếp mà những luận điểm cơ bản của nó có thể đƣợc trình bày rút gọn nhƣ sau: Giao tiếp với tƣ cách là một dạng hoạt động đặc biệt của con ngƣời nhằm củng cố mối quan hệ và đƣợc sử dụng để truyền đạt thông tin giữa ngƣời và ngƣời. Ở đây, có hai mặt phản ánh qua lại, mặt ngôn ngữ và mặt xã hội vì bất cứ một phát ngôn nào cũng đƣợc sản sinh trong một tình huống cụ thể có kèm theo một nền rất rộng các điều kiện tạo ra tình huống ấy.

112 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Ngôn ngữ đƣợc sử dụng có tính đến tình huống giao tiếp và sự ảnh hƣởng tới những đặc điểm tâm lý cá thể trong việc sử dụng từ ngữ của ngƣời tham gia giao tiếp, có nghĩa là có tính đến hiệu quả ứng dụng, điều đó từ khả năng tồn tại những phát ngôn riêng biệt đƣợc tạo nên ngoài ngữ cảnh giao tiếp. Đơn vị giao tiếp là loại hành động lời nói hoặc hành vi lời nói khẳng định yêu cầu hỏi han, xin lỗi, cảm ơn… Việc hình thành ý định lời nói xảy ra khi sản sinh hành vi lời nói. Khi hình thành ý định lời nói có tính đến sự hiểu biết ban đầu về mục đích, đối tƣợng giao tiếp, địa điểm và thời gian của phát ngôn. Nói tóm lại, theo những luận điểm trên đây thì dạy – học ngôn ngữ là đi theo con đƣờng từ nội dung đến hình thức ngôn ngữ để biểu đạt.

Ngôn ngữ là phƣơng tiện để thực hiện những phát ngôn cụ thể. Dạy hoạt động ngôn ngữ (tức là dạy năng lực giao tiếp) chứ không phải dạy hệ thống ngôn ngữ thuần túy. Tuy nhiên, trong quá trình dạy – học hai mặt năng lực ngôn ngữ và năng lực giao tiếp thống nhất biện chứng với nhau. Dạy năng lực giao tiếp không thể tách rời các hiện tƣợng ngôn ngữ, ngƣợc lại những kiến thức của hệ thống ngôn ngữ chỉ đƣợc xây dựng và củng cố trên cơ sở nắm đƣợc các kĩ năng lời nói.

Cơ sở tâm lí – ngôn ngữ Theo quan điểm tâm lý học hoạt động do nhà tâm lý học ngƣời Nga L. Vƣ- gốtxki và trƣờng phái của ông đề xƣớng thì hoạt động lời nói là một hoạt động đặc biệt của con ngƣời, mà hoạt động thì bao gồm nhiều hành động riêng lẻ và mỗi hành động đƣợc tạo ra từ nhiều thao tác riêng biệt. Từ đó suy ra đơn vị dạy - học ngôn ngữ phải là hành động lời nói. Dạy hành động lời nói cần phải xem xét trên quan điểm: Dạy ai?, Dạy cái gì?, Dạy để làm gì?, Dạy như thế nào?.

Đối với việc dạy hoạt động lời nói, sự thống nhất giữa các mặt chức năng và hình thức của nó là điều có ý nghĩa rất quan trọng bởi vì hình thức ngôn ngữ không thể có đƣợc nếu thiếu mặt chức năng. Nếu mục đích của việc dạy - học là hoạt động lời nói thì hình thức và chức năng cần phải đƣợc hình thành đồng thời, hơn thế, cơ sở để hình thành hoạt động lời nói phải là chức năng giao tiếp của ngôn ngữ. Phƣơng pháp dạy học Tiếng Việt vận dụng rất nhiều thành tựu của Tâm lí học. Đó là các quy luật tiếp thu tri thức, hình thành kĩ năng, kĩ xảo.

Giáo viên cần biết, sản phẩm lời nói đƣợc sản 113 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com sinh ra nhƣ thế nào, quá trình học đƣợc thiết lập từ những yếu tố nào, khái niệm ngữ pháp đƣợc hình thành ở học sinh ra sao, vai trò của ngôn ngữ trong sự phát triển tƣ duy ra sao, kỹ năng nói, viết đƣợc hình thành nhƣ thế nào? Những nghiên cứu Tâm lí học cho phép chúng ta xác định mức độ vừa sức của tài liệu học tập. Mặt khác, Tâm lí ngôn ngữ học đem lại cho phƣơng pháp những số liệu về lời nói nhƣ một hoạt động, ví dụ nhƣ việc xác định tình huống nói năng, các giai đoạn sản sinh lời nói, tính hiệu quả, sự tác động của lời nói trong giao tiếp giữa các cá thể với nhiều ngƣời. Quan hệ của phƣơng pháp dạy học Tiếng Việt và Tâm lí học lứa tuổi rất chặt chẽ. Không có kiến thức về quá trình tâm lí ngƣời nói chung và tâm lí học sinh trung học phông nói riêng thì không thể giảng dạy tốt và phát triển ngôn ngữ cho các em.

Kiến thức thu nhận đƣợc từ con đƣờng tự khám phá mới là kiến thức vững chắc nhất, đáng tin cậy nhất. Ngƣời Mỹ có câu châm ngôn: “Nói cho tôi thì tôi sẽ quên. Cho tôi xem thì tôi có thể sẽ nhớ. Cho tôi tham gia thì tôi sẽ hiểu.

Ngƣời Việt Nam ta cũng có một cách nói tƣơng tự: “Trăm nghe không bằng một thấy, trăm thấy không bằng một làm”. Cách đây hơn 5 thế kỉ, Khổng Tử cũng nói: “Tôi nghe – tôi quên. Tôi nhìn – tôi nhớ. Tôi làm – tôi hiểu”.

Quan điểm học phƣơng Tây đã mở rộng câu nói của Khổng Tử thành luận điểm phương pháp học chủ động (the active learning credo): Tôi nghe – tôi quên. Tôi nghe và nhìn – tôi nhớ chút ít. Tôi nghe, nhìn, hỏi hoặc thảo luận – tôi bắt đầu hiểu. Tôi nghe, nhìn, hỏi, thảo luận và thực hành – tôi bắt đầu học được kĩ năng và kiến thức.

Tôi dạy cho người khác – tôi thành thạo”. Các chuyên gia giáo dục Mỹ còn nghiên cứu và đƣa ra tỉ lệ mức độ tiếp thu trung bình của ngƣời học từ các phƣơng thức dạy học: Thuyết giảng: 0.5%; đọc 10%; nghe nhìn: 20%; mô tả, trình bày: 30%; Thảo luận nhóm: 50%; thực hành: 75%; Dạy cho ngƣời khác hoặc ứng dụng ngay của việc học: 90%” (Tạp chí Giáo dục, số 229, 1/2010).Nhƣ vậy, hầu hết các ý kiến và quan điểm nghiên cứu phƣơng Đông và phƣơng Tây đều khẳng định tầm quan trọng của việc tổ chức hoạt động học tập ở ngƣời học. Cơ sở giáo dục học Phƣơng pháp dạy học Tiếng Việt là một bộ phận của khoa học giáo dục nên nó phụ thuộc vào những quy luật chung của khoa học này. Giáo dục học nói chung, Lí luận dạy học đại cƣơng nói riêng cung cấp cho phƣơng pháp dạy học Tiếng Việt những hiểu biết về các quy luật chung của việc dạy học môn học.

Mục đích của phƣơng pháp dạy học Tiếng Việt cũng nhƣ các khoa học giáo dục nói chung là tổ chức sự phát triển tâm hồn và thể chất của học sinh, chuẩn bị cho các em đi vào cuộc sống lao động xã hội mới. Quan hệ của phƣơng pháp dạy học Tiếng Việt với khoa học 114 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com giáo dục thể hiện ở chỗ phƣơng pháp đƣợc một hệ thống giáo dục tạo ra và làm cơ sở. Phƣơng pháp dạy học Tiếng Việt sử dụng các khái niệm, thuật ngữ của Giáo dục học. Nó hiện thực hóa mục tiêu, nhiệm vụ giáo dục do Giáo dục đề ra – phát triển trí tuệ, hình thành thế giới quan khoa học, phát triển tƣ duy sáng tạo cho học sinh, giáo dục tƣ tƣởng đạo đức, phát triển óc thẩm mĩ giáo dục tổng hợp và giáo dục lao động.

Trong phƣơng pháp dạy học Tiếng Việt có thể tìm thấy các nguyên tắc cơ bản của Lí luận dạy học: nguyên tắc giáo dục và phát triển của dạy học, nguyên tắc vừa sức, nguyên tắc khoa học, nguyên tắc hệ thống, nguyên tắc gắn liền lí thuyết với thực hành, nguyên tắc trực quan, nguyên tắc tiếp cận cá thể và phân hóa trong dạy học… Phƣơng pháp dạy học Tiếng Việt vận dụng những nguyên tắc này theo đặc trƣng riêng của mình. Ví dụ nguyên tắc gắn liền lí thuyết và thực hành trong phƣơng pháp dạy học Tiếng Việt đòi hỏi một hoạt động lời nói thƣờng xuyên, biểu hiện ý nghĩ bằng lời nói, viết, cùng với việc thƣờng xuyên vận dụng những hiểu biết lí thuyết trong bài tập. Nhiệm vụ phát triển lời nói đã quy định việc xây dựng chƣơng trình Tiếng Việt mà tất cả các phân môn đều có mục phát triển bốn kĩ năng nghe, nói, đọc, viết.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu có tiêu đề "Dạy Học Phong Cách Ngôn Ngữ Báo Chí Ở Lớp 11 Theo Quan Điểm Giao Tiếp" tập trung vào việc áp dụng phong cách ngôn ngữ báo chí trong giảng dạy cho học sinh lớp 11, từ đó nâng cao khả năng giao tiếp và tư duy phản biện của học sinh. Tài liệu này không chỉ cung cấp những phương pháp giảng dạy hiệu quả mà còn nhấn mạnh tầm quan trọng của việc phát triển kỹ năng ngôn ngữ trong bối cảnh giao tiếp hiện đại.

Độc giả sẽ tìm thấy nhiều lợi ích từ tài liệu này, bao gồm cách thức áp dụng lý thuyết vào thực tiễn giảng dạy, cũng như những chiến lược để khuyến khích học sinh tham gia tích cực hơn trong các hoạt động học tập. Để mở rộng thêm kiến thức, bạn có thể tham khảo các tài liệu liên quan như Luận văn vận dụng quan điểm giao tiếp vào dạy học ngữ pháp ở bậc trung học phổ thông, nơi bạn sẽ tìm thấy những ứng dụng cụ thể của giao tiếp trong dạy ngữ pháp. Bên cạnh đó, tài liệu Nghiên cứu vấn đề nhận thức của giáo viên về việc phát triển ngữ dụng học cho sinh viên lớp 11 trong giờ học nói tại một vài trường thpt tại quảng bình sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về nhận thức của giáo viên trong việc phát triển kỹ năng giao tiếp cho học sinh. Cuối cùng, tài liệu Ted ed as a tool in enhancing speaking skills for the 11th grade students at vinh cuu high school sẽ cung cấp những công cụ hữu ích để nâng cao kỹ năng nói cho học sinh lớp 11. Những tài liệu này sẽ giúp bạn có cái nhìn sâu sắc hơn về việc dạy và học ngôn ngữ trong môi trường giao tiếp hiện đại.