Chương 1 MỘT SỐ LÝ THUYẾT HỌC TẬP HIỆN ĐẠI 1.1 Thuyết hành vi (Behaviorism Theory) 1.1 Khái niệm Thuyết hành vi (Behaviorism Theory) là một quá trình phản xạ có điều kiện, sự thay đổi hành vi của một người là kết quả phản ứng của bản thân với các sự kiện trong môi trường. Thuyết hành vi chủ yếu nhấn mạnh tới việc học thuộc lòng, quá trình học tập dựa trên quy chế thưởng phạt, người dạy là chủ thể của kiến thức, đưa ra những kích thích để tạo ra những phản xạ có điều kiện ở người học. Năm 1889, nhà sinh lí học người Nga Pavlov đã nghiên cứu thực nghiệm phản xạ tiết nước bọt của con chó khi đưa ra các kích thích khác nhau. Ban đầu ông dùng thức ăn để kích thích, con chó có phản ứng tiết nước bọt đó là phản xạ bẩm sinh.
Sau đó, ông kích thích đồng thời bằng ánh đèn và thức ăn. Sau một thời gian luyện tập, con chó đã có phản xạ tiết nước bọt khi chỉ có kích thích ánh đèn, đó là phản xạ có điều kiện. Với lý thuyết phản xạ có điều kiện, lần đầu tiên con người có thể giải thích được cơ chế của việc học tập một cách khách quan đó là thông qua cơ chế: Kích thích -Phản ứng. Lý thuyết hành vi giới hạn việc nghiên cứu cơ chế học tập vào các hành vi bên ngoài của người học có thể quan sát khách quan bằng thực nghiệm.
Do đó, thuyết hành vi không quan tâm đến các quá trình tâm lí bên trong của người học như tri giác, cảm giác, tư duy, ý thức, vì không thể quan sát khách quan được. Bộ não của người học được coi là một hộp đen (Hình 1). Thuyết hành vi bao gồm thuyết hành vi cổ điển Watson và thuyết hành vi Skinner. Thuyết hành vi cổ điển cho rằng học tập là tác động qua lại giữa kích thích và phản ứng còn thuyết hành vi Skinner nhấn mạnh mối quan hệ giữa hành vi và hệ quả của chúng.
Skinner đã thực hiện một thực nghiệm với con chuột như sau: Khi con chuột ấn vào đòn bẩy thì nhận được thức ăn. Sau một quá trình luyện tập con chuột đã hình thành phản ứng ấn đòn bẩy để nhận được thức ăn. Như vậy, yếu tố gây hưng phấn cho con chuột là thức ăn, khi thao tác đúng thì con chuột nhận được phần thưởng là thức ăn nhưng nếu thao tác sai thì con chuột lập tức bị phạt bằng hình thức điện giật. Thuyết hành vi có một số nguyên tắc sau đây: 1) Dạy học được định hướng theo các hành vi đặc trưng có thể quan sát được; 2) Các quá trình học tập phức tạp được chia thành một chuỗi các bước học tập đơn giản, trong đó bao gồm các hành vi cụ thể.
Những hành vi phức tạp được xây dựng thông qua sự kết hợp các bước học tập đơn giản; 1 3) Giáo viên hỗ trợ và khuyến khích hành vi đúng đắn của người học, tức là sắp xếp giảng dạy sao cho người học đạt được hành vi mong muốn mà sẽ được đáp lại trực tiếp (khen thưởng và công nhận); 4) Giáo viên thường xuyên điều chỉnh và giám sát quá trình học tập để kiểm soát tiến bộ học tập và điều chỉnh ngay lập tức những sai lầm. Tóm lại, theo thuyết hành vi, học tập là một quá trình phản xạ có điều kiện, sự thay đổi hành vi của người học là kết quả phản ứng của bản thân với các sự kiện trong môi trường. Thuyết hành vi chủ yếu nhấn mạnh tới việc học thuộc lòng, quá trình học tập dựa trên quy chế thưởng phạt, người dạy là chủ thể của kiến thức, đưa ra những kích thích để tạo ra những phản xạ có điều kiện ở người học.2 Ứng dụng trong dạy học Thuyết Hành vi cho rằng học tập là một quá trình đơn giản mà trong đó những mối liên hệ phức tạp sẽ được làm cho dễ hiểu và rõ ràng thông qua các bước học tập nhỏ được sắp xếp một cách hợp lí. Thông qua những kích thích về nội dung, phương pháp dạy học, người học có những phản ứng tạo ra những hành vi học tập và qua đó thay đổi hành vi của mình.
Vì vậy, quá trình học tập được hiểu là quá trình thay đổi hành vi. Hiệu quả của nó có thể thấy rõ khi luyện tập cũng như khi học tập các quá trình tâm lí vận động và nhận thức đơn giản (nhất là khi vấn đề chỉ là nắm vững những quá trình đó). Thuyết Hành vi được ứng dụng đặc biệt trong dạy học chương trình hóa, dạy học được hỗ trợ bằng máy vi tính, trong dạy học thông báo tri thức và huấn luyện thao tác. Trong đó nguyên tắc quan trọng là phân chia nội dung học tập thành những đơn vị kiến thức nhỏ, tổ chức cho HS lĩnh hội tri thức, kĩ năng theo một trình tự và thường xuyên kiểm tra kết quả đầu ra để điều chỉnh quá trình học tập.
Các lí thuyết Hành vi hướng vào thay đổi hành vi thông qua kích thích - phản ứng cặp và tăng cường chọn lọc. Tập trung sư phạm của họ là kiểm soát phản ứng và thích nghi. Sẽ là hiệu quả khi vận dụng trong dạy học các quy trình kĩ thuật, hình thành kĩ năng, kĩ xảo thực hành và cả hành vi ngôn ngữ trong quá trình đào tạo. Tuy nhiên, thuyết Hành vi bộc lộ những nhược điểm và bị phê phán mạnh mẽ: Thuyết Hành vi chỉ chú ý đến các kích thích từ bên ngoài.
Trong khi đó, hoạt động học tập thực ra không chỉ do kích thích từ bên ngoài mà còn là sự chủ động bên trong của chủ thể nhận thức. Quá trình nhận thức bên trong của chủ thể nhận thức, đặc biệt là tư duy đóng vai trò quan trọng trong hoạt động học tập. Quá trình này không được thuyết Hành vi chú ý đến. Việc chia quá trình học tập thành chuỗi các hành vi đơn giản chưa tạo ra hiểu biết đầy đủ đối với các mối quan hệ tổng thể.2 Thuyết nhận thức (Cognitivism Theory) 1.1 Khái niệm Lý thuyết nhận thức (gọi tắt là thuyết nhận thức) nghiên cứu quá trình nhận thức bên trong của người học với tư cách là một quá trình xử lí thông tin.
Thuyết nhận thức coi bộ não của người học xử lí các thông tin tương tự như một hệ thống kĩ thuật. Quá trình nhận thức là quá trình có cấu trúc và có ảnh hưởng đến quyết định về hành vi. Người học tiếp thu các thông tin bên ngoài, xử lí và đánh giá chúng, từ đó quyết định các hành vi ứng xử tương ứng. Trung tâm của lý thuyết nhận thức là các hoạt động trí tuệ như: xác định, phân tích và hệ thống hóa các sự kiện và hiện tượng, nhớ lại những kiến thức đã học, giải quyết vấn đề và phát triển, hình thành các ý tưởng mới.
Cấu trúc nhận thức của con người không phải bẩm sinh mà hình thành qua kinh nghiệm. Mỗi người có cấu trúc nhận thức riêng. Vì vậy, muốn có sự thay đổi đối với một người thì cần có tác động phù hợp nhằm thay đổi nhận thức của người đó. Con người có thể tự điều chỉnh quá trình nhận thức: tự đặt mục đích, xây dựng kế hoạch và thực hiện, trong đó có thể tự quan sát, tự đánh giá và tự hưng phấn, không cần kích thích từ bên ngoài.
Thuyết nhận thức có một số nguyên tắc sau đây: 1) Không chỉ kết quả học tập (sản phẩm) mà quá trình học tập và quá trình tư duy cũng là điều quan trọng; 2) Nhiệm vụ của người dạy là tạo ra môi trường học tập thuận lợi, thường xuyên khuyến khích các quá trình tư duy; 3) Các quá trình tư duy không thực hiện thông qua các vấn đề nhỏ, đưa ra một cách tuyến tính, mà thông qua việc đưa ra các nội dung học tập phức hợp; 4) Các phương pháp học tập có vai trò quan trọng; 5) Việc học tập thực hiện trong nhóm có vai trò quan trọng, giúp tăng cường những khả năng về mặt xã hội; 6) Cần có sự cân bằng giữa những nội dung do giáo viên truyền đạt và những nhiệm vụ tự lực. Tóm lại, theo thuyết nhận thức, học tập là sự tiếp thu hoặc tổ chức lại các cấu trúc nhận thức, xử lý và lưu trữ thông tin một cách chủ động của người học thông qua các giác quan nghe và nhìn. Người học thu được kết quả học tập tốt nhất khi cấu trúc được kiến thức để tạo ra sự liên kết giữa kiến thức mới và những kiến thức có sẵn.1 Ứng dụng trong dạy học Thuyết nhận thức được ứng dụng rộng rãi trong thiết kế và tổ chức dạy học giải quyết vấn đề, dạy học định hướng hành động, dạy học khám phá và dạy học theo nhóm. Thuyết nhận thức có một số hạn chế như: Việc dạy học nhằm phát triển tư duy, giải quyết vấn đề, dạy học khám phá đòi hỏi nhiều thời gian và đòi hỏi cao ở sự chuẩn 3 bị cũng như năng lực của giáo viên.
Cấu trúc quá trình tư duy không quan sát trực tiếp được nên chỉ mang tính giả thuyết.3 Thuyết kiến tạo (Constructivism Theory) 1.1 Cơ sở tâm lý học của lí thuyết kiến tạo Cơ sở tâm lý học của lí thuyết kiến tạo là tâm lý học phát triển của Jean Piaget và lý luận về “Vùng phát triển gần nhất” của L. Tư tưởng chủ đạo của J. Piaget coi sự phát triển trí tuệ là trường hợp riêng của sự phát triển cá thể. Nó là sự phát triển tiếp tục của các yếu tố sinh học.
Cả hoạt động sinh học và hoạt động tâm trí không tách biệt với cuộc sống và cả hai đều là bộ phận của hoạt động toàn bộ, mà đặc trưng của chúng là tổ chức kinh nghiệm nhằm tạo ra sự thích nghi giữa cơ thể với môi trường. Điều khác nhau giữa thích nghi sinh học và thích nghi tâm lý, trí tuệ là một bên thích nghi vật chất còn bên kia là thích nghi chức năng. Tổ chức và thích nghi là hai chức năng cơ bản của mọi sự thích nghi, trong đó có thích nghi trí tuệ. Quá trình này diễn ra theo hai cơ chế đồng hoá và điều ứng.
Đồng hóa là làm cho hệ thống kiến thức mới “tiêu hóa” được, hòa nhập được với hệ thống kiến thức cũ. Thực chất đó là quá trình tái lập lại một số đặc điểm của khách thể được nhận thức, đưa nó vào trong các sơ đồ đã có. Về lí thuyết, đồng hoá không làm thay đổi (phát triển) nhận thức, nó chỉ mở rộng (tăng trưởng) cái đã biết.