MỞ ĐẦU Trong thời đại ngày nay, mục đích giáo dục không chỉ là truyền đạt cho người học những tri thức và kinh nghiệm mà quan trọng hơn là hình thành những năng lực và phẩm chất cần thiết để người học có thể tự học tập suốt đời; có thể song, làm việc, thích nghi với moi sự biến đổi của xã hội. Từ việc xác định mục đích giáo dục như trên, trong những năm gần đây, ngành giáo duc nước ta đã có những đôi mới sâu rộng về nhiều mặt mà trọng tâm là đổi mới về phương pháp dạy học. Nhiều phương pháp dạy học tích cực đã được đưa ra áp dụng trong giảng dạy ở tất cả các cấp học, bậc học. Tuy nhiên các phương pháp trên vẫn chưa thực sự đi sâu vào trong thực tế giảng dạy trong nhà trường, chưa lôi cuốn được đông đảo giáo viên áp dụng và đặc biệt chưa tạo được hứng thú học tập cho học sinh.
Day học hợp tac là một quan điểm dạy học hiện đại nhằm phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh. Qua hoạt động hợp tác, người học không những tiếp thu các kiến thức và kỹ năng liên quan đến bài học một cách chủ động mà còn được rèn luyện và phát triển các kỹ năng xã hội như làm việc theo nhóm, giao tiếp, thuyết trình, ra quyết định, giải quyết mâu thuẫn,.; giúp người học có niềm tin vào năng lực ban thân. Quan điểm day học này cùng với những phương pháp day học cụ thé của nó đã được áp dụng ở nhiều nước trên thế giới nhưng ở nước ta chỉ mới được nghiên cứu bước đầu, chưa được áp dụng rộng rãi trong thực tế. Xuất phát từ những yêu cầu đào tạo của xã hội, yêu cầu tất yếu về đối mới phương pháp day học nói chung và của bộ môn hóa học nói riêng, tôi đã chọn đề tài: “Dạy học hợp tác trong dạy học hóa học ở trường trung học phổ thông”.
Mục đích nghiên cứu Tìm hiểu cơ sở lí luận của phương pháp dạy học hợp tác và áp dụng vào dạy học một số bài học trong chương trình lớp 10 - ban cơ bản. Nhiệm vu của đề tài - Tìm hiểu cơ sở lí luận của dạy học hợp tác và phương pháp dạy học hợp tác theo nhóm. - Tìm hiểu thực trạng dạy học hợp tác ở các nước và nước ta hiện nay. - Đề xuất cách áp dụng dạy học hợp tác ở bộ môn hóa học lớp 10 - ban cơ bản.
- Kiểm nghiệm trong thực tế dạy học ở một sé trường THPT từ do rút ra các bài học kinh nghiệm. Khách thé và đối tượng nghiên cứu - Khách thé: Quá trình dạy học môn hóa học ở trường THPT. - Đối tượng: Phương pháp day học hợp tác theo nhóm và việc áp dung trong day học hóa học ở trường THPT. Phạm vi nghiên cứu - Nội dung: Ap dụng phương pháp day học hợp tác theo nhóm trong day học hóa học lớp 10 THPT- ban cơ bản.
- Địa bàn nghiên cứu: 3 trường THPT trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh (Lương Thế Vinh, Nguyễn Huệ, Nguyễn Hữu Tiến). Phuong pháp nghiên cứu - Đọc, nghiên cứu các tải liệu có liên quan đến đề tài. - Điều tra thực trạng việc sử dụng dạy học hợp tác theo nhóm ở một sé trường THPT. - Phân tích tổng hợp.
- Phương pháp chuyên gia. - _ Thực nghiệm sư phạm ở một số trường THPT. - Xử lí thống kê các số liệu thu được qua thực nghiệm. Giả thuyết khoa học Nếu áp dụng phương pháp dạy học hợp tác theo nhóm một cách phù hợp sẽ nâng cao kết quả học tập; tạo hứng thú cho học sinh; giúp học sinh rèn luyện và phát triển các kỹ năng xã hội; tăng niêm tin vào năng lực của bản thân.
CHUONG I: CƠ SO LÍ LUẬN VÀ THỰC TIEN CUA DE TAI 1. Lịch sử van đề nghiên cứu Dạy học hợp tác (DHHT) lả một quan điểm day học (QDDH) được xây dựng trên nen tang ứng dụng của các học thuyết xã hội vao dạy học, trong đó quan trong 1a: thuyết hành vi, thuyết nhận thức và thuyết tương thuộc xã hội. Thuyết hành vi [13] Dựa trên lý thuyết phản xạ có điều kiện của Pavlov, nhà tâm lý học Mỹ Watson đã xây dựng lý thuyết hành vi giải thích cơ chế tâm lý của việc học tập. Sau đó, Thorndike (1864-1949), Skinner (1904-1990) va nhiều tác giả khác đã tiếp tục phát triển những mô hình khác nhau của thuyết hành vị, Thuyết hành vi cho rằng học tập là một quá trình đơn giản mà trong đỏ những mỗi liên hệ phức tap sẽ được làm cho dé hiéu và rõ ràng thông qua các bước học tập nhỏ được sắp xép một cách hợp lý.
Thông qua những kích thích về nội dung, phương pháp day học (PPDH), người học có những phản ứng tạo ra những hành vi học tập va qua đó thay đôi hành vi của mình. Vì vậy quá trink học tập được hi éu là quả trình thay đổi hành vi. Có nhiều mô hình khác nhau của thuyết hành vi với một số quan niệm cơ bản như sau: Các lý thuyết hành vi giới hạn việc nghiên cứu cơ chế học tập qua các hành vi bên ngoài có thé quan sát khách quan bằng thực nghiệm. Thuyết hành vi không quan tâm đến các quá trình tâm lý chủ quan bên trong của người học như tri giác, cảm giác, tư duy, ý thức,.
vi cho rằng những yếu tổ này không thẻ quan sát khách quan được. Thuyết hành vi cô điển của Watson: Quan niệm học tập là tác động qua lại giữa kích thích va phản ứng, nhằm thay đôi hành vi. Vi vậy trong day học cần tao ra những kích thích nhằm tạo ra hưng phan từ đó có các phan ứng học tập và thông qua đó thay đôi hành vi. Thuyết hành vi của Skiner: Khác với thuyết hành vi cỗ điển, Skiner không chi quan tâm đến mỗi quan hệ giữa kích thích va phản ứng mà đặc biệt nhắn mạnh mối quan hệ giữa hành vi và hệ quả của chúng.
Chẳng hạn khi HS làm đúng thì được thưởng. làm sai thì bị trách phạt. Những hệ quả của hành vi này có vai trò quan trọng trong việc điều chỉnh hành vi học tập của HS. Thông tin đầu Học sinh GV kiểm tra kết vào (HS) quả đầu ra (Kích thích) (Phản ứng HS) Hình 1.1: Mô hình học tập theo thuyết hành vi Có thé tóm tắt những đặc điểm chung cia cơ chế học tập theo thuyết hành vi như sau: - Dạy học được định hướng theo các hảnh vi đặc trưng có thé quan sat được.
Các quá trình học tập phức tap được chia thành một chuỗi các bước học tập đơn giản, trong đó bao gồm các hành vi cụ thê với trình tự được quy định sẵn. Những hanh vi phức tạp được xây dựng thông qua sự kết hợp các bước học tập đơn giản. GV hỗ trợ và khuyến khích hành vi đúng đắn của người học, tức là sắp xếp việc học tập sao cho người học đạt được hành vi mong muốn và sẽ được phản hỏi trực tiếp (khen thưởng va công nhận). GV thường xuyên giám sát quá trình học tập để kiểm soát sự tiễn bộ và điều chỉnh kịp thời những sai làm.
Thuyết hành vi được ứng dụng đặc biệt trong dạy học chương trình hoá, đạy học được hỗ trợ bằng máy vi tính. trong day học thông báo tri thức và huắn luyện thao tác. Trong đó nguyén rắc quan trọng là phân chia nội dung học tập thành những đơn vị kiến thức nhỏ, tổ chức cho HS lĩnh hội tri thức, kỳ năng theo mét trình tự và thường xuyên kiểm tra kết quả đầu ra dé điều chỉnh quá trình học tập. Những ứng dung này của thuyết hành vi đến nay vẫn còn giá trị.
Tuy nhiên, thuyết hành vi bộc lộ những nhược điểm và bị phê phán mạnh mẽ: Thuyết hành vi chỉ chủ ý đến các kích thích từ bên ngoài. Tuy nhiên hoạt động học tập thực ra không chỉ đo kích thích từ bên ngoài mà còn là sự chủ động bên trong của chủ thê nhận thức. - Quá trình nhận thức bên trong của chủ thể nhận thức, đặc biệt là tư duy đóng vai trò quan trọng trong hoạt động học tập. Quá trình này không được thuyết hành ví chú ý đến.
- Việc chia quá trình học tập thành chuỗi các hành vi đơn giản chưa tạo ra hiểu biết day đủ đối với các mỗi quan hệ tông thẻ. Thuyết nhận thức [13] Thuyết nhận thức ra đời trong nửa dau của thé kỷ 20 và phát triển mạnh trong nửa sau của thé ky này. Các đại điện lớn của thuyết nhận thức là nhà tâm lý học người Ao Piagié cũng như các nhà tâm lý học Xô viết như Vưgôtski, Leontev,. Khác với thuyết hanh vi, các nhà tâm lý học đại điện cho thuyết nhận thức xây dựng lý thuyết về sự học tập có nhấn mạnh ý nghĩa của các cấu trúc nhận thức.
Trong lý thuyết nhận thức cũng có nhiều mô hình lý thuyết, xu hướng khác nhau. Những quan niệm cơ bản của các lý thuyết nhận thức là: - Các lý thuyết nhận thức nghiên cứu quá trình nhận thức bên trong với tư cách là một quá trình xử lý thông tin. Bộ não xử lý các thông tin tương tự như một hệ thống kỳ thuật. Theo lý thuyết nhận thức, quá trình nhận thức la quá trình có cấu trúc va có anh hưởng quyết định đến hành vi.
Con người tiếp thu các thông tin bên ngoài, xử lý va đánh giá chúng, từ đó quyết định các hành vi ứng xử. Trung tâm của quá trình nhận thức là các hoạt động trí tuệ như: xác định, phân tích va hệ thống hóa các sự kiện và các hiện tượng, nhớ lại những kiến thức đã học, giải quyết các van dé và phát triển, hình thành các ý tưởng mới. Câu trúc nhận thức của con người không phải bam sinh mà hình thành qua kinh nghiệm. - Mỗi người có cau trúc nhận thức riêng.
Vì vậy muốn có sự thay đổi đổi với một người thì cần có tác động phù hợp nhằm thay đôi nhận thức của người đó. - Con người có thé tự điều chỉnh qua trình nhận thức: tự đặt mục đích, xây dựng kế hoạch và thực hiện. Trong đó có thẻ tự quan sát, tự đánh giá và tự hưng phan, không cần kích thích từ bên ngoài. Học sinh Thông tin (Quá trình Kết quả nhận thức, giải đầu ra đầu vào Hình 1.2: M6 hình hoc tap theo thuyết nhận thức Những đặc điểm cơ bản của học tập theo quan điểm của thuyết nhận thức là: - Mục đích của dạy học là tao ra những khả năng để người học hiểu thể giớt thie (kiến thức khách quan).