Chương I: Cơ sở lí luận. Trong chương này, chúng tôi sẽ trình bày khái niệm tổ chức tri thức, tổ chức dạy học, những tổ chức dạy học định lí hình học đã xuất hiện trong giáo trình phương pháp dạy học của các trường đào tạo sư phạm. Chương II: Dạy học định lí ở thể chế dạy học Toán bậc trung học phổ thông. Chúng tôi sẽ thực hiện phân tích SGK và SGV để làm rõ các tổ chức dạy học [TD,τ,θ,Θ] có những đặc trưng nào.
Chương III: Nghiên cứu thực nghiệm. Chúng tôi sẽ tiến hành dự giờ, phát phiếu điều tra GV để thấy rõ được tổ chức dạy học định lí Hình học được thể hiện như thế nào trong thực tế dạy học. CƠ SỞ LÍ LUẬN Mục đích của chƣơng Mục đích nghiên cứu của chương này là xây dựng cơ sở lí luận của đề tài, bao hàm lưới tham chiếu cho nghiên cứu chương trình, SGK và thực tế dạy học định lí hình học của GV. Cụ thể, chúng tôi sẽ nghiên cứu trả lời cho các câu hỏi sau: - Thế nào là tổ chức tri thức? Thế nào là tổ chức dạy học? Từ đây, chúng tôi sẽ trả lời được câu hỏi 1: Thế nào là tổ chức tri thức? Thế nào là tổ chức dạy học? - Trong thể chế đào tạo GV toán THPT ở Việt Nam, tổ chức dạy học gắn với KNV “Dạy học định lí toán học ở trường THPT” có những đặc trưng cơ bản nào? Muốn vậy, chúng tôi cần phải làm rõ có những kỹ thuật nào dùng để thực hiện KNV Dạy học định lí toán học trong thể chế đào tạo GV toán ở bậc đại học.
Điều này giúp chúng tôi trả lời được câu hỏi 2: Câu hỏi 2: Ở thể chế dạy học đại học sư phạm, tổ chức dạy học [TD,τ,θ,Θ] có những đặc trưng cơ bản nào? Do đó, chúng tôi sẽ tiến hành nghiên cứu các giáo trình về phương pháp dạy học môn Toán có liên quan dành cho sinh viên tại các trường đại học sư phạm. Tổ chức tri thức, tổ chức dạy học Didactic đã cung cấp những công cụ cho phép phân tích và đánh giá những hoạt động dạy học của GV. Trong những công cụ đó, chúng tôi sẽ sử dụng những khái niệm có liên quan như: Tổ chức tri thức, tổ chức dạy học, quan hệ thể chế, quan hệ cá nhân. Tổ chức tri thức Theo Chevallard, một tổ chức tri thức (praxéologie) là một bộ bốn thành phần [T,τ,θ,Θ] trong đó là kiểu nhiệm vụ, kỹ thuật τ để giải quyết , công nghệ θ để giải thích cho kỹ thuật τ, lý thuyết Θ đóng vai trò công nghệ của θ, nghĩa là giải thích cho θ.
5 Tổ chức tri thức là bộ gồm bốn thành phần [T,τ,θ,Θ] không thể tách rời nhau, trong đó: Bốn thành phần này được chia thành hai khối: Khối kĩ năng [T,τ] và khối tri thức [θ,Θ]. Tổ chức tri thức cho phép nghiên cứu mối quan hệ của một cá nhân hay một thể chế với một đối tượng tri thức. Khi là một kiểu nhiệm vụ toán học thì người ta gọi tổ chức tri thức đó là tổ chức tri thức toán học hay gọi tắt là tổ chức toán học. Tổ chức dạy học Theo Lê Thị Hoài Châu (2018, tr.142): “Tổ chức tri thức [T,τ,θ,Θ] trong đó kiểu nhiệm vụ T cấu thành nên nó là “dạy học”, là “nghiên cứu”, được gọi là một tổ chức dạy học.
Một cách tổng quát, [T,τ,θ,Θ] được gọi là một tổ chức dạy học nếu T là kiểu nhiệm vụ “nghiên cứu, truyền bá” một tác phẩm. Ở đây, từ tác phẩm được hiểu theo nghĩa là câu trả lời cho một câu hỏi, và nghiên cứu một tác phẩm nghĩa là tìm câu trả lời đó.” Về khái niệm “tác phẩm”, Chevallard.14) cho định nghĩa: “Tôi gọi tác phẩm là mọi sản phẩm O nào đó của con người cho phép đưa ra câu trả lời cho một hoặc nhiều loại câu hỏi Q, câu hỏi lý thuyết hoặc thực tế. Câu hỏi và câu trả lời này là những lí do tồn tại tác phẩm, bất kể với kích cỡ nào (trong số các tác phẩm, có nhiều tác phẩm nhỏ. Chẳng hạn: Lý thuyết chuyển hóa sư phạm).
Đó là một định nghĩa sơ bộ cho phép tôi nói rằng Trƣờng, và cũng là vị trí giáo viên trong Trường, bài giảng truyền thống (cours magistral)1là những tác phẩm, đó là những câu trả lời thực tế cho một số loại câu hỏi.Y dùng thuật ngữ Cours magistral với nghĩa bài giảng theo quan điểm lấy thầy làm trung tâm.14 - 15), có tác phẩm của cá nhân một người (như tác phẩm của Marx, của Pasteur,…). Nhưng phần lớn các tác phẩm là khuyết danh, có tính mở và là sản phẩm của một tập thể có vô số người. Chẳng hạn, Hình học euclid – một tác phẩm của tập thể, khác với tác phẩm “Eléments d’Euclide” của nhà toán học Euclid. Tổ chức dạy học gắn với dạy học định lí trong thể chế dạy học đại học sƣ phạm Mục tiêu của phần này là làm rõ đặc trưng của tổ chức dạy học [TD,τ,θ,Θ] trong thể chế đào tạo GV toán THPT.
Dựa trên các yếu tố lí luận trình bày trong mục 1.1, chúng tôi xác định cụ thể hơn tác phẩm O và [TD,τ,θ,Θ] tương ứng như sau: - Tác phẩm O: Dạy học định lí toán học ở trường THPT, xét trong thể chế đào tạo GV dạy toán THPT. Đây là một sản phẩm tập thể đề cập đến những yếu tố lí luận về dạy học định lí. - Kiểu nhiệm vụ TD: Dạy học định lí hình học ở trường THPT. - Kỹ thuật τ: Kỹ thuật thực hiện TD, nghĩa là kỹ thuật (cách thức, phương pháp,…) dạy học định lí hình học học ở trường THPT.
- Khối Công nghệ - Lý thuyết [θ,Θ]: Những lí do, những quan điểm sư phạm và cao hơn là những lý thuyết về dạy học biện minh cho việc dùng kỹ thuật tương ứng. Rõ ràng TD không phải là kiểu nhiệm vụ bản chất toán học, mà mang bản chất sư phạm, đúng hơn là nghiệp vụ sư phạm. Để đạt được mục tiêu trên, về nguyên tắc, chúng tôi phải phân tích tất cả các giáo trình “Phương pháp dạy học Toán” sử dụng trong các cơ sở đào tạo GV toán THPT. Tuy nhiên, trong khuôn khổ luận văn thạc sĩ, chúng tôi giới hạn phân tích các tài liệu sau với các lí do kèm theo: - Nguyễn Bá Kim (2011).
Phương pháp dạy học môn toán. Đây là giáo trình được sử dụng trong hầu hết cơ sở đào tạo GV toán THPT khu vực phía Bắc (đặc biệt là ĐH Sư phạm Hà Nội – Trường ĐH sư phạm trọng điểm) và khu vực Trung Bộ. Phương pháp dạy học môn toán. NXB ĐH Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh.
Đây là giáo trình dành cho sinh viên khoa toán, ĐH Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh (trường ĐH sư phạm trọng điểm). - Đỗ Đức Thái (Chủ biên), Đỗ Tiến Đạt, Phạm Xuân Chung, Nguyễn Sơn Hà, Phạm Sỹ Nam, Vũ Đình Phượng, Nguyễn Thị Kim Sơn, Vũ Phương Thúy, Trần Quang Vinh. Dạy học phát triển năng lực môn Toán trung học phổ thông. Hà Nội: NXB ĐH Sư phạm.
Theo xu hướng hiện nay, trong năm 2020, nước ta đã tiến hành thực hiện bồi dưỡng giáo viên ở các cấp học để đáp ứng chuẩn nghề nghiệp giáo viên và chương trình GDPT mới. Với “Tài liệu tìm hiểu chương trình môn Toán (Trong chương trình GDPT 2018)” được Bộ Giáo dục cấp cho GV tham gia học bồi dưỡng, chúng tôi tìm thấy được quy trình dạy học định lí của các tác giả được giới thiệu trong khóa học. Chúng tôi sẽ phân tích tài liệu này để bổ sung thêm vào cơ sở lí luận của mình. Phân tích giáo trình của Nguyễn Bá Kim a) Tác phẩm O: Những vấn đề chủ yếu được giải quyết (câu trả lời) trong O là: - Định hướng quá trình dạy học môn Toán.
- Phương pháp dạy học môn Toán. - Đánh giá việc học tập của học sinh. - Những tình huống điển hình trong dạy học môn Toán. … Chúng tôi sẽ trình bày chi tiết một số nội dung chủ yếu liên quan đến luận văn như: Vị trí của định lí, yêu cầu dạy học định lí và phương pháp dạy học định lí.
Tác giả đã nhận định về vị trí của định lí như sau: “Các định lí cùng với các khái niệm Toán học tạo thành nội dung cơ bản của môn Toán, làm nền tảng cho việc rèn luyện kĩ năng bộ môn, đặc biệt là khả năng suy luận và chứng minh, phát triển năng lực trí tuệ chung, rèn luyện tư tưởng, phẩm chất và đạo đức.” (Nguyễn Bá Kim, 2011, tr. 359) 8 Dạy học định lí ngoài việc cung cấp kiến thức về định lí và còn giúp cho học sinh phát triển được các năng lực trí tuệ, rèn luyện được tư tưởng, phẩm chất và đạo đức. Dạy học định lí cũng phát triển khả năng lập luận và chứng minh. Điều này đối với việc dạy học môn Toán là hết sức quan trọng.
Trong tác phẩm của mình, tác giả cũng thể hiện rõ mối quan tâm đến việc dạy học những mệnh đề thực chất là định lí Toán học, dù chúng có được nêu thành định lí trong SGK hay không. Nguyễn Bá Kim (2011) đã đề ra những yêu cầu của việc dạy học định lí: - HS nắm được hệ thống định lí và những mối liên hệ giữa chúng. - HS thấy được sự cần thiết phải chứng minh định lí. - HS hình thành và phát triển năng lực chứng minh Toán học.
Để đảm bảo các yêu cầu của dạy học định lí, đòi hỏi GV cần phải có quy trình, phương pháp dạy học định lí. Tác giả đã đưa ra hai con đường dạy học định lí theo quan điểm riêng của mình. Nội dung này chúng tôi sẽ trình bày trong mục sau. b) Tổ chức [TD,τ,θ,Θ] - Kỹ thuật Theo tác giả có hai con đường dạy học định lí là con đường có khâu suy đoán và con đường suy diễn.
Con đƣờng dạy học định lí theo Nguyễn Bá Kim 9 Như vậy, hai con đường dạy học định lí này như hai kỹ thuật giúp giải quyết kiểu nhiệm vụ. Do đó, chúng tôi sẽ mô tả kĩ hơn các kỹ thuật này trong bảng sau: Bảng 1. Hai kỹ thuật của Nguyễn Bá Kim Kỹ thuật Giải thích các bƣớc của kỹ thuật Kỹ thuật Con đƣờng có khâu suy đoán - Động cơ sẽ xuất phát từ một nhu cầu nào đó Gợi động cơ học tập nảy sinh trong thực tiễn hoặc từ trong nội bộ Toán học.