Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC Ở TRƯỜNG TIỂU HỌC THEO YÊU CẦU PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC HỌC SINH 1. Tổng quan nghiên cứu 1. Nghiên cứu về hoạt động dạy học trường tiểu học theo yêu cầu phát triển năng lực học sinh Trong bối cảnh sử dụng sách giáo khoa trong Chương trình GDPT 2018, việc dạy học tiểu học có những thay đổi đáng kể. Liên quan đến hoạt động dạy học ở tiểu học đề tài đề cập đến một số nghiên cứu sau: Trong cuốn sách “Phát huy tích cực của HS như thế nào”, [31, tr.Kharlamop đã khẳng định vai trò to lớn của tính tích cực, chủ động trong việc tiếp thu tri thức mới.
Ông cho rằng “Quá trình nắm kiến thức mới không thể hình thành bằng cách học bình thường các quy tắc, các kết luận khái quát hóa mà nó phải được xây dựng trên cơ sở của việc cải tiến công tác tự lập của HS, của việc phân tích logic sâu sắc tài liệu, sự kiện làm nền tảng cho việc hành thành các khái niệm khoa học”. Sự vận động không ngừng của đời sống xã hội tất yếu dẫn đến sự đổi mới trong mục tiêu, nội dung và phương pháp giáo dục. HS là mục đích tồn tại của hoạt động giáo dục, HS phải liên tục được khuyến khích tham gia vào các hoạt động giáo dục của nhà trường, GV không phải là người “ban phát” kiến thức, không phải là một vị quan tòa mà là một thành viên trong cộng đồng lớp học, có nhiệm vụ là một tác nhân kích thích bằng việc cung cấp vật liệu, đầu mối, thông tin, gợi ý, tổ chức, hướng dẫn. để kích thích tư duy của người học, tức là GV có thể tạo một môi trường khuyến khích sự học tập, nghiên cứu.
Muốn vậy, GV phải là một chuyên gia được đào tạo tốt, một người hiểu biết giáo dục toàn diện. Nội dung giáo dục phải phản ánh sự phát triển theo sự phát triển của nhân loại, phải mang tính tăng tiến. Chương trình giáo dục phải phù hợp, hiện đại theo sự phát triển chung của loài người. Phương pháp dạy học cũng phải gắn chặt với đối tượng và nội dung, phương pháp là phương pháp của năng lực và hứng thú của trẻ em, của cá nhân đang trưởng thành, chứ không phải là phương pháp của 8 người lớn (những người đã trưởng thành), bởi vậy không thể tách rời phương pháp ra khỏi nội dung, mục tiêu, chương trình giáo dục.
Platon (427 - 347 trước công nguyên) đã khẳng định được vai trò tất yếu của giáo dục trong xã hội, tính quyết định của chính trị đối với giáo dục, phần nào nói lên tầm quan trọng của thể chế xã hội đối với giáo dục nói chung và hoạt động dạy học nói riêng, tuy rằng các quan điểm này của ông còn hạn chế về mặt bình đẳng trong giáo dục. Khổng Tử (551 - 479 trước công nguyên) với quan điểm hoạt động DH là: “dùng cách gợi mở, đi từ gần tới xa, từ đơn giản đến phức tạp, nhưng vẫn đòi hỏi người học phải tích cực suy nghĩ…, đòi hỏi học trò phải tập luyện, phải hình thành nề nếp, thói quen học tập” và “học không biết chán, dạy không biết mỏi”. Quan điểm của ông muốn mang lại hiệu quả hoạt động DH phải đề cao đến các quy định về nề nếp hoạt động DH, nâng cao trình độ của người dạy để lựa chọn được những PPDH theo hướng đề cao năng lực tự học, phát huy tinh thần độc lập suy nghĩ và sáng tạo của người học [21]. Từ cuối thế kỷ XIV, vấn đề hoạt động dạy học được nhiều nhà giáo dục quan tâm, nổi bật nhất trong thời kỳ đó là J.Cômenxki (1592-1670) đã đưa ra những quan điểm về HĐDH mà chúng ta có thể vận dụng trong HĐDH 2 buổi/ ngày.
Theo ông quá trình dạy học để truyền thụ và tiếp nhận tri thức là phải dựa vào sự vật hiện tượng do HS tự quan sát, tự suy nghĩ mà hiểu biết, không nên áp đặt, gò ép người ta chấp nhận bất kỳ một điều gì và ông đã nêu ra một số nguyên tắc dạy học có giá trị rất lớn: nguyên tắc trực quan; nguyên tắc phát huy tính tự giác tích cực của HS; nguyên tắc hệ thống và liên tục; nguyên tắc củng cố kiến thức; nguyên tắc dạy học theo khả năng tiếp thu của HS (vừa sức); dạy học phải thiết thực và dạy học theo nguyên tắc cá biệt [1]. Nhà giáo dục John.Dewey đã đề xuất thành lập nhà trường tích cực hướng vào người học, lấy quá trình học tập của người học làm trung tâm đặc biệt là lứa tuổi tiểu học (Learner centred); thực chất nhằm khuyến khích tính học tập, tự chủ, tự chịu trách nhiệm của người học. Bởi hoạt động học là của cá nhân người học, trên cơ sở vận dụng kiến thức, phân tích kinh nghiệm để đáp ứng những yêu cầu của nhiệm vụ học tập chứ không thể thụ động chờ đợi sự truyền đạt của người dạy. Hoạt động DH lấy người học làm trung tâm dựa trên hai nguyên tắc căn bản: đảm bảo tính liên tục của kiến thức và sự tác động qua lại của các thành viên.
Hai nguyên tắc này liên hệ chặt 9 chẽ với nhau, tính liên tục bao hàm các mối liên hệ của kiến thức; sự tác động qua lại giữa các thành viên tạo nên kết quả tổng hợp của người học với sự giúp đỡ của thầy và bạn, thống nhất giữa nhu cầu nhận thức, ý chí cá nhân với tác động của môi trường, như hành vi của bạn bè, nghệ thuật giảng dạy của người dạy và những điều kiện học tập khác… Ông kêu gọi nhà trường phải được tổ chức dưới hình thức một cộng đồng mang tính chất hợp tác để ở đó, nhiệt tình giao tiếp và tính cách dân chủ cho trẻ được bồi dưỡng và phát huy. Đây là tư tưởng cấp tiến, thể hiện rõ tính dân chủ, mang tính cách mạng trong GD, hoạt động DH hướng vào người học; phát huy vai trò tích cực học tập giữa các cá nhân với cộng đồng khi thực hiện quá trình DH lúc bấy giờ. Các nghiên cứu về quản lí hoạt động dạy học ở tiểu học theo yêu cầu phát triển năng lực học sinh Theo Đỗ Ngọc Đạt đã đưa ra: “Chương trình GDPT chú trọng đến thiết kế chương trình dạy học theo định hướng phát triển năng lực học sinh. Đây là phương diện thu hút được sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu, nhất là từ sau khi có Nghị quyết Hội nghị lần thứ 8 BCH Trung ương khóa XI về đổi mới căn bản, toàn diện GD&ĐT.
Còn chương trình dạy học định hướng NL là chương trình định hướng kết quả đầu ra, nhằm mục tiêu phát triển NL người học. Chất lượng đầu ra, có thể coi là “sản phẩm cuối cùng” của quá trình dạy học. Việc quản lý chất lượng dạy học chuyển từ việc điều khiển “đầu vào” sang điều khiển “đầu ra”, tức là kết quả học tập của HS. Chương trình dạy học định hướng phát triển NL không quy định những nội dung dạy học chi tiết mà quy định những kết quả đầu ra mong muốn của quá trình giáo dục, trên cơ sở đó đưa ra những hướng dẫn chung về việc lựa chọn nội dung, phương pháp, tổ chức và đánh giá kết quả dạy học nhằm đảm bảo thực hiện được mục tiêu dạy học tức là đạt được kết quả đầu ra mong muốn.
Trong chương trình định hướng phát triển NL, mục tiêu học tập, tức là kết quả học tập mong muốn thường được mô tả thông qua hệ thống các NL. Kết quả học tập mong muốn được mô tả chi tiết và có thể quan sát, đánh giá được. HS cần đạt được những kết quả, yêu cầu đã quy định trong chương trình. Việc đưa ra các chuẩn dạy học cũng nhằm đảm bảo quản lý chất lượng dạy học theo định hướng kết quả đầu ra.
Ưu điểm của chương trình dạy học định hướng phát triển NL là tạo điều kiện quản lý chất lượng theo kết quả đầu ra đã quy định, nhấn mạnh NL vận dụng của HS” [23, tr. 10 Tác giả Nguyễn Ngọc Bảo (Chủ biên) - Trần Kiểm [14], Nguyễn Lăng Bình (Chủ biên) – Đỗ Hương Trà - Nguyễn Phương Hồng, Cao Thị Thặng [15]. có thể thấy, trong bối cảnh toàn cầu hóa và nền kinh tế tri thức hiện nay, dạy học truyền thống tập trung vào nội dung kiến thức không còn phù hợp nữa. Vì thế, để giáo dục Việt Nam sớm tìm thấy tiếng nói chung với các nền giáo dục tiên tiến trong khu vực và thế giới thì điều quan trọng là phải nhanh chóng chuyển hệ thống giáo dục của nước ta sang tiếp cận phát triển năng lực học sinh.
Tác giả Lê Hoàng Hà (2012) có nghiên cứu luận án tiến sĩ chuyên ngành giáo dục học tại Học viện quản lý giáo dục với tên đề tài “Quản lý dạy học theo quan điểm dạy học phân hoá ở trường Tiểu học Việt Nam hiện nay” [27]. Trong cuốn “Tiếp cận hiện đại trong dạy học” của tác giả Đỗ Ngọc Đạt đã đưa ra: “Dạy học không phải là chất đầy và một cái thùng rỗng mà là làm bừng sáng lên những ngọn lửa” [23, tr.56] Trong cuốn “Những bài giảng về quản lý trường học” của Hà Sỹ Hồ đã đưa ra quan điểm của Socrates (469 - 399 TCN) đã đề xuất thực hiện phương pháp đàm thoại trong dạy học và được sử dụng cho đến ngày nay [23, tr.56] Vấn đề nâng cao chất lượng hoạt động giảng dạy của GV đã thu hút được sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu trong nước. Các tác giả Nguyễn Ngọc Hợi, Phạm Minh Hùng, Thái Văn Thành đã nêu lên những nguyên tắc chung về nâng cao chất lượng của đội ngũ GV như: xây dựng hoàn thiện quy chế đánh giá, xếp loại chuyên môn; tổ chức bồi dưỡng năng lực chuyên môn; xây dựng quy chế thi đua, khen thưởng hợp lý để kích thích phong trào thi đua dạy tốt. Tác giả Trần Bá Hoành cũng đã đề cập đến việc đổi mới phương pháp dạy học “lấy học sinh làm trung tâm, tăng cường phương pháp tự học, phát triển các phương pháp dạy học tích cực.