chương I có nêu về mục đích, yêu cầu, nguyên tắc tổ chức, nội dung và hình thức của hoạt động TT ngoại khoá trong nhà trường. Sự ra đời của văn bản này tạo hành lang pháp lý thuận lợi để các cơ sở GD tổ chức các hoạt động TT ngoại khoá cho HS, sinh viên thông qua việc xây dựng kế hoạch, dự trù kinh phí đảm bảo về tài chính, cơ sở vật chất, sân bãi, dụng cụ, đáp ứng nhu cầu của HS, sinh viên [15]. Đồng thời, để thể chế hóa vai trò của GDTC và TT trong nhà trường, Bộ GD&ĐT đã tổ chức nhiều lần lấy ý kiến dự thảo Nghị định về GDTC và TT trong nhà trường để trình Chính phủ ban hành [25]. Thủ tướng Chính phủ, Quyết định 641/QĐ-TTg ngày 28/04/2011, về việc phê duyệt đề án tổng thể phát triển thể lực, tầm vóc người Việt Nam giai đoạn 2011- 2030 với nhiệm vụ: “Nâng cao chất lượng giờ học thể dục chính 8 khóa; tổ chức các hoạt động TDTT ngoại khóa, hướng dẫn HS tự luyện tập TDTT để tăng cường thể lực, cải thiện chiều cao thân thể” [26].
Chiến lược phát triển TDTT Việt Nam đến năm 2020 đã dành riêng một phần quan trọng cho GDTC và hoạt động TT trường học. Đề cập đến những yếu kém, tồn tại của công tác GDTC, Chiến lược đã nêu: “Công tác GDTC trong nhà trường và các hoạt động TT ngoại khóa của HS, sinh viên chưa được coi trọng, chưa đáp ứng yêu cầu duy trì và nâng cao sức khỏe cho HS, là một trong số các nguyên nhân khiến cho thể lực và tầm vóc người Việt Nam thua kém rõ rệt so với một số nước trong khu vực… Chương trình chính khóa cũng như nội dung hoạt động ngoại khóa còn nghèo nàn, chưa hợp lý, không hấp dẫn HS tham gia các hoạt động TT ngoại khóa”. Trong Chiến lược đã nêu ra các chỉ tiêu đến năm 2015 có 100% số trường phổ thông thực hiện đầy đủ chương trình GDTC nội khóa, 45% số trường phổ thông có CLB TT, có cơ sở vật chất đủ phục vụ cho hoạt động TT, có đủ GV và hướng dẫn viên TDTT, thực hiện tốt hoạt động TT ngoại khóa, 75% số HS được đánh giá và phân loại thể lực theo tiêu chuẩn rèn luyện thân thể [28]. Quyết định số 1076/QĐ-TTg ngày 17/06/2016 của Thủ tướng Chính phủ về phê duyệt Đề án tổng thể phát triển giáo dục thể chất và TT trường học giai đoạn 2016 - 2020, định hướng đến năm 2025 với nhiệm vụ “Thực hiện tốt giáo dục thể chất theo chương trình nội khóa, phát triển mạnh các hoạt động TT của HS, sinh viên, bảo đảm mục tiêu phát triển thể lực toàn diện và kỹ năng vận động cơ bản của HS, sinh viên và góp phần đào tạo năng khiếu và tài năng TT.
Đổi mới chương trình và phương pháp GDTC, gắn GDTC với giáo dục ý chí, đạo đức, giáo dục quốc phòng, giáo dục sức khỏe và kỹ năng sống của HS, sinh viên. Đãi ngộ hợp lý và phát huy năng lực đội ngũ giáo viên thể dục hiện có, mở rộng và nâng cao chất lượng đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ giáo viên, hướng dẫn viên thể dục cho trường học, củng cố các cơ sở nghiên cứu khoa học về tâm sinh lý lứa tuổi và TD, TT trường học”.[29] 9 Những quan điểm của Đảng, Nhà nước về GDTC và TT trường học được chúng tôi tiếp thu và tham khảo trong luận văn, đó là những văn bản chỉ đạo cốt lõi hướng đến rèn luyện sức khỏe cho thế hệ HS, sinh viên để xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Dưới sự chỉ đạo của Chính phủ, các Bộ, Ngành đã triển khai các chương trình phối hợp nhằm phát triển GDTC và TT trường học một cách cụ thể hóa bằng nhiều hướng khác nhau, trong đó tăng cường TDTT ngoại khóa, đặc biệt là xã hội hóa TDTT trong trường học bằng cách phát triển các hình thức CLB TT cơ sở là một trong những chủ trương thiết thực. Những quan điểm trên làm cơ sở cho việc nghiên cứu xây dựng mô hình CLB TT trường học tại Trường PTDT NT Thái Nguyên.
Các công trình nghiên cứu trong nước có liên quan Trong những năm vừa qua, có rất nhiều công trình nghiên cứu về công tác GDTC và hoạt động TDTT trường học. Các kết quả nghiên cứu này là cơ sở cũng như đã tạo tiền đề giúp đề tài xác định những nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài được phù hợp và đúng hướng trong quá trình nghiên cứu. Có thể nêu dưới đây một số công trình tiêu biểu mà đề tài tiếp cận được dưới đây. Tác giả Lê Văn Lẫm và Vũ Đức Thu đã tiến hành nghiên cứu tình hình phát triển thể chất HS phổ thông ở nước ta trong những thập kỷ qua vào năm 2000.
Kết quả nghiêncứu đã đã chỉ rõ: “Thể chất HS phổ thông trong những năm 1980 -1990 tốt hơn khi so với HS cùng giới và cùng tuổi ở thập kỷ 70, trong đó chiều cao, cân nặng, sức nhanh, sức mạnh tốt hơn đáng kể, nhưng sức bền lại phát triển không tương xứng với các tố chất khác, nhất là HS ở các đô thị”. Trên cơ sở kết quả nghiên cứu thực trạng, các tác giả đã kiến nghị cải tiến hình thức tổ chức, đổi mới phương pháp dạy học và đánh giá thể chất HS, góp phần từng bước nâng cao thể chất cho HS [47]. Năm 2001, Viện Khoa học TDTT chủ trì với sự phối hợp một số trường Đại học và các cơ sở TDTT đã tiến hành công trình nghiên cứu “Thực trạng thể chất người Việt Nam từ 6 đến 20 tuổi”. Đây là công trình nghiên cứu với 10 quy mô lớn và có tính ứng dụng rất cao.
Các kết quả nghiên cứu của công trình này đẫ đưa ra các thông số rất quan trọng giúp cho việc đánh giá thực trạng thể chất người Việt Nam tại thời điểm nghiên cứu, cũng như là cơ sở quan trọng khi so sánh đối chiếu như một chuẩn quốc gia. “Các test sử dụng nghiên cứu của công trình đã được nhiều đề tài khoa học lựa chọn ứng dụng như một tiêu chuẩn quốc gia về lĩnh vực TDTT” [73]. Tác giả Lê Thị Lan (2012) với công trình nghiên cứu “Xây dựng CLB TT trường học nhằm nâng cao chất lượng giảng dạy môn TT tự chọn ở bậc trung học cơ sở quận Bình Thạnh Thành phố Hồ Chí Minh”. Trong nghiên cứu, tác giả đã xây dựng mô hình CLB nhằm phát triển phong trào TDTT ngoại khóa của trung học sơ sở Bình Thạnh, đáp ứng nhu cầu tập luyện các môn TT tự chọn cho học sinh của nhà trường [45].
Tác giả Bùi Bảo Trung (2012), với công trình “Nghiên cứu tổ chức hoạt động CLB môn cầu lông ngoại khóa cho sinh viên trường Đại học Hoa Sen”. Tác giả đã phát triển phong trào TDTT ngoại khóa cho sinh viên trường Đại học Hoa Sen thông qua việc lấy mô hình thí điểm của hoạt động CLB cầu lông để làm tiền đề [66]. Nghiên cứu của tác giả Nguyễn Đức Thành (2012) với đề tài “Xây dựng nội dung và hình thức tổ chức hoạt động thể dục TT ngoại khóa của sinh viên một số trường Đại học ở Thành phố Hồ Chí Minh”. Trong nghiên cứu, tác giả đã xây dựng nội dung và hình thức tổ chức hoạt động TDTT ngoại khóa cho sinh viên TP.HCM bằng việc xác định các tiêu chí như: mục đích, chức năng và nhiệm vụ, cơ cấu tổ chức, điều kiện đảm bảo, thành viên tham gia, cơ sở pháp lý.
Tác giả Phạm Đức Viễn (2013), với công trình “Nghiên cứu biện pháp nâng cao hiệu quả hoạt động các CLB TDTT sinh viên trường Đại học Tây Bắc”. Trong nghiên cứu tác giả cũng đã khái quát về các mô hình CLB TT trong nước và nước ngoài trên cơ sở đó xây dựng mô hình CLB TDTT đặc 11 trưng cho sinh viên vùng Tây Bắc. Để xây dựng CLB TT nhà trường, tác giả đã sử dụng các biện pháp như: “Tuyên truyền, vận động, tổ chức chỉ đạo, định hướng phát triển, thu hút nguồn lực nhân sự và tài chính nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động CLB TDTT sinh viên trường Đại học Tây Bắc” [74]. Tác giả Nguyễn Bá Điệp (2016) với luận án tiến sĩ “Đổi mới hoạt động TT ngoại khóa bằng hình thức CLB góp phần phát triển thể chất cho học sinh THPT tỉnh Sơn La”.
Trong luận án, tác giả đã nghiên cứu xây dựng mô hình CLB TT cho HS các trường THPT tỉnh Sơn La phù hợp với đặc điểm của các nhà trường và thực tiễn của địa phương, nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động TDTT ngoại khóa cho HS các trường THPT tỉnh Sơn La, qua đó góp phần phát triển thể chất cho HS [37]. Tác giả Trần Ngọc Cương (2018) với công trình “Nghiên cứu xây dựng chương trình các môn TT tự chọn theo mô hình CLB trong đào tạo tín chỉ của sinh viên trường Đại học Sài Gòn”. Trong luận án, tác giả đã xây dựng chương trình các môn TT tự chọn theo mô hình CLB trong đào tạo tín chỉ để nâng cao chất lượng giáo dục thể chất của sinh viên trường Đại học Sài Gòn [29]. Ngoài ra, còn nhiều công trình, trong đó có những công trình đã được xuất bản thành sách của các tác giả trong và ngoài nước có liên quan đến đề tài.
Đối với công tác GDTC và TT trường học ở tỉnh Thái Nguyên cho đến nay vẫn chưa có công trình nghiên cứu nào đề cập đến công tác này đối với HS ở trường PTDT NT Thái Nguyên. Những công trình nghiên cứu kể trên giúp chúng tôi có được nguồn tài liệu tham khảo thiết thực trong việc giải quyết các nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài. Một số khái niệm cơ bản 1. Giáo dục thể chất Luật TDTT có nêu rõ: “GDTC là môn học chính khóa thuộc chương trình giáo dục nhằm cung cấp kiến thức, kỹ năng vận động cơ bản cho người học thông qua các bài tập và trò chơi vận động, góp phần thực hiện mục tiêu giáo dục toàn diện” [53.
12 Tác giả Nguyễn Toán và Phạm Danh Tốn cho rằng: “GDTC là một bộ phận của giáo dục nói chung cũng như các ngành giáo dục khác, GDTC bao gồm những nhiệm vụ giáo dục, giáo dưỡng thông qua trình sư phạm hoặc dưới hình thức tự giáo dục”. Trang 65] Theo quan điểm của chúng tôi: “GDTC là giảng dạy kỹ thuật động tác và bồi dưỡng thể lực cho người học, đồng thời thông qua lượng vận động của các bài tập mà kích thích điều chỉnh sự phát triển các đặc tính tự nhiên của cơ thể.