CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VỀ TRÍ TUỆ XÃ HỘI 1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề trí tuệ xã hội 1. Hướng nghiên cứu trí tuệ xã hội 1. Tiếp cận nghiên cứu trí tuệ xã hội thông qua các năng lực thành phần Trên thế giới nhiều nhà nghiên cứu trí tuệ chuyển sang nghiên cứu trí tuệ xã hội (TTXH) [67], [89], [90], [94], [95].
Mặc dù đã có khá nhiều những nghiên cứu về TTXH nhưng các nhà nghiên cứu vẫn chưa có sự thống nhất về khái niệm, cũng như cách tiếp cận nghiên cứu. TTXH được định nghĩa khác nhau tùy thuộc vào các năng lực thành phần nào tham gia vào nội hàm khái niệm TTXH [15], [37]. Theo cách tiếp cận này có một số hướng sau: (1) Tiếp cận nghiên cứu coi TTXH là năng lực nhận thức và ứng xử của con người (đại diện là E. Thorndike) Năm 1920, trong bài báo: “Trí tuệ và việc sử dụng nó” (Intelligence and its use) đăng trên Tạp chí Harper (Harper’s Magazine), E.
Thorndike lần đầu tiên đưa ra khái niệm “trí tuệ xã hội” dựa trên sự phân chia trí tuệ con người thành 3 loại: trí tuệ trừu tượng (Abstract Intelligence) là năng lực hiểu và quản lý các suy nghĩ, ý tưởng; trí tuệ cơ học (Mechanical Intelligence) là năng lực hiểu và quản lý thế giới đồ vật; trí tuệ xã hội (Social Intelligence) là năng lực hiểu và quản lý con người trong các quan hệ xã hội [89]. 9 Thuật ngữ trí tuệ xã hội được Thorndike (1920) dùng với nghĩa: năng lực hiểu và quản lý đàn ông/đàn bà, con trai/con gái để hành động một cách khôn ngoan trong các mối quan hệ của con người [89]. Khái niệm này sau đó được nhiều nhà nghiên cứu sử dụng với nghĩa là năng lực cá nhân hòa nhập vào một tập thể, thông qua khả năng đánh giá đúng người, đúng việc, sự khôn khéo, cách xử lý có hiệu quả của một cá nhân trước mỗi hiện tượng, sự kiện, mỗi tình huống cụ thể xảy ra trong các tương tác xã hội (nhóm bạn, tập thể, cộng đồng…) và chỉ số SQ ngày càng được xem như là “chìa khóa” để thành công trong cuộc đời, nếu như các chỉ số khác như chỉ số trí tuệ cảm xúc (Emotionl Quotient – EQ), chỉ số sáng tạo (Creative Quotient – CQ), chỉ số kinh doanh thông minh (Business Quotient – BQ), chỉ số đam mê (Passion Quotient - PQ)… đều cao, cá nhân đó chắc chắn sẽ là một người thành đạt trong xã hội [77], [78], [71], [72], [1], [14], [15], [19], [37]. (2) Tiếp cận nghiên cứu coi trí tuệ xã hội là hành vi hoặc nhận thức xã hội (đại diện là D.
Welchsler (1958) đã bác bỏ sự tồn tại của trí tuệ xã hội khi ông xem TTXH chỉ là trí tuệ chung được ứng dụng trong các tình huống xã hội. Ông cho rằng test WAIS (bộ trắc nghiệm nổi tiếng dùng để đo chỉ số thông minh (Intelligence Quotient - IQ) có thể sử dụng để đo TTXH, cụ thể là đánh giá năng lực của cá nhân trong các tình huống xã hội [96]. Nếu hiểu như vậy thì TTXH có thành phần duy nhất là nhận thức xã hội. Quan điểm này của ông chỉ tập trung vào những gì chúng ta biết về thế giới giữa các cá nhân con người mà bỏ qua những gì chúng ta thật sự thực hiện khi giao tiếp với người khác.
Một người dù có nhận thức xã hội rất tốt nhưng lại thiếu những cách ứng xử mềm dẻo, thiếu sự đồng cảm,… vẫn có thể gặp khó khăn khi giao tiếp với người khác. Theo Kihlstrom và Cantor, TTXH là vốn kiến thức của cá nhân về thế giới xã hội, TTXH được sinh ra để giải quyết các vấn đề của xã hội, 10 cụ thể là điều tiết các nhiệm vụ của cuộc sống, các mối quan tâm của xã hội hiện tại [53], [84]. Cùng nghiên cứu về vấn đề TTXH, năm 1965, trong tác phẩm “Phép đo lường trí tuệ xã hội”, M. Demille cho rằng: Cảm xúc, động cơ, suy nghĩ, ý định, thái độ và các khuynh hướng tâm lý khác có ảnh hưởng đến các hành vi xã hội của một cá nhân [67].
Theo Ford và Tisak (1983), TTXH là năng lực giải quyết các tình huống xã hội cụ thể. Qua công trình nghiên cứu của mình, hai tác giả đã kết luận: “Các biện pháp đánh giá về TTXH đã được thích nghi trong ứng xử xã hội nên được sử dụng như là yếu tố tiên đoán về sự thể hiện hành vi ứng xử xã hội được quan sát trực tiếp hơn là các biện pháp của trí tuệ hàn lâm” [43]. Cùng quan điểm trên, H. (3) Tiếp cận nghiên cứu coi trí tuệ xã hội là trí tuệ về người khác (đại diện là H.
Gardner) Theo Gardner (1998), các cá nhân phát triển một hoặc nhiều kiểu trí tuệ thông qua sự di truyền của gen, giáo dục và xã hội hoá của các giá trị văn hoá. Các nghiên cứu của Gardner chứng minh có sự tồn tại của 8 dạng thức hay kiểu trí tuệ khác nhau (theo ông thay vì xem xét một người có trí thông minh là bao nhiêu thì hãy xem người đó thông minh như thế nào). Trong đó, TTXH hay trí thông minh xã hội là khả năng hiểu và tương tác hiệu quả với người khác. Nó bao gồm việc giao tiếp hiệu quả bằng lời và không bằng lời, khả năng nhận biết sự độc đáo của mỗi người, nhạy cảm với tâm trạng của người khác.
Nó giúp chúng ta thông cảm, an ủi, tạo cảm hứng và lãnh đạo mọi người, nên nó được coi là một điểm đặc trưng của những chính khách, giáo viên, nhà tư vấn, trị liệu tâm lý, nhân viên bán hàng, nhà xã hội học [4]. Thực chất đây chính là kiểu TTXH mà E. (4) Tiếp cận nghiên cứu coi trí tuệ xã hội là một loại trí tuệ thực tiễn hay trí tuệ cảm xúc (đại diện là R. Sternberg (1985, 2000) cho rằng trí tuệ có 3 loại là: Trí tuệ phân tích, trí tuệ sáng tạo và trí tuệ thực tiễn.
Trí tuệ thực tiễn là khả năng thích nghi với cuộc sống hàng ngày bằng kiến thức và kỹ năng sống. Theo ông, trí tuệ thực tiễn đặc biệt dựa vào việc thu được những kiến thức ngầm (Tacit Knowledge) không chính thức hơn là chính thức, học được mà không nhất thiết phải qua trường lớp. Kiến thức ngầm này phản ánh sự hiểu biết để giải quyết một tình huống nhất định, phản ánh sự phát triển và hành động [80], [83], [84]. Năm 1990, Salovey và Mayer đã đưa ra khái niệm “trí tuệ cảm xúc” với mô tả là một dạng của trí tuệ xã hội có liên quan đến khả năng điều khiển tình cảm, cảm xúc của bản thân và người khác [72].
(5) Tiếp cận nghiên cứu coi trí tuệ xã hội là trí tuệ được thể hiện trên bình diện xã hội (đại diện là H. Eysenck đã đề xuất mô hình trí tuệ 3 tầng bậc gồm trí tuệ sinh học, trí tuệ tâm trắc và TTXH. Trong ba tầng bậc trí tuệ trên, TTXH là loại trí tuệ mang ý nghĩa thực tiễn vì nó được hình thành trong đời sống xã hội, ảnh hưởng đến sự thành công trong cuộc sống của mỗi các nhân. Theo Eysenck, trí tuệ người là thuộc tính nhân cách trải ra trên ba bình diện sinh học, tâm lý và xã hội.
Như vậy, TTXH là một dạng trí tuệ được thể hiện trên bình diện xã hội, dẫn theo Trần Kiều (2005) [9, tr. Ở Việt Nam, nghiên cứu về TTXH còn khá mới mẻ. Thực tế có rất ít những công trình nghiên cứu về lý luận và thực tiễn ứng dụng về TTXH. Trong đó, có thể kể đến những công trình nghiên cứu tiên phong như: Tác giả Trần Kiều, Trần Trọng Thủy, Nguyễn Huy Tú, Nguyễn Công Khanh và cộng sự (2005) đã nghiên cứu đề tài cấp Nhà nước KX 05- 06 “Nghiên cứu phát triển trí tuệ của học sinh, sinh viên và lao động trẻ đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa”.
Các tác giả của đề tài này có chung quan điểm: “Trí thông minh IQ đo được bằng các trắc nghiệm tâm lý chỉ đóng góp khoảng 20% cho sự thành đạt của hoạt động con người mà thôi. Phần quan trọng quyết định sự thành công của hoạt động là do các dạng khác nhau của trí tuệ xã hội” [9, tr. Theo các tác giả này, 12 định nghĩa trí tuệ cần có nội hàm rộng hơn bao gồm: trí thông minh, trí sáng tạo, trí cảm xúc và trí tuệ xã hội. Mặc dù đề tài không trực tiếp nghiên cứu TTXH, nhưng đề tài này đã nghiên cứu không chỉ trí thông minh, trí sáng tạo.
Theo tác giả Nguyễn Công Khanh (2005), có một nhánh của đề tài KX05-06 do ông phụ trách, đã tập trung nghiên cứu trí tuệ cảm xúc ở học sinh, sinh viên (SV) [9]. Trong đó các thành tố của trí tuệ cảm xúc như nhận biết, hiểu cảm xúc của mình và người khác để tích cực hóa tư duy khi tương tác và kiểm soát, quản lý cảm xúc của mình và người khác trong các tình huống tương tác xã hội, thực chất có liên quan đến TTXH [1]. Nghiên cứu này đã giúp định hướng, gợi mở cho những công trình nghiên cứu tiếp theo về trí tuệ cảm xúc, TTXH và đây cũng là những dữ liệu tốt để đề tài nghiên cứu của luận án này xem xét, kế thừa. Tác giả Nguyễn Công Khanh (2011) định nghĩa: Trí tuệ xã hội là một phức hợp các năng lực hiểu, làm chủ, điều khiển, kiểm soát, quản lý có hiệu quả các hành vi tương tác xã hội, thể hiện ở các năng lực nhận thức xã hội, chủ động thiết lập duy trì các quan hệ xã hội, thích ứng, hoà nhập và giải quyết vấn đề một cách hiệu quả trong các tương tác xã hội” [14, tr.
Theo tác giả Kiều Thị Thanh trà (2017) khi nghiên cứu đề tài “Đặc điểm trí tuệ xã hội của sinh viên sư phạm thành phố Hồ Chí Minh” đã định nghĩa TTXH là một tổ hợp năng lực giúp cá nhân tương tác có hiệu quả với người khác trong các tình huống xã hội [30, tr. Tác giả Nguyễn Thị Hồng (2018) nghiên cứu TTXH của SV sư phạm mầm non đã định nghĩa: “Trí tuệ xã hội là năng lực phức hợp bao gồm năng lực nhận thức xã hội, năng lực thiết lập và duy trì các mối quan hệ xã hội, năng lực hòa nhập, năng lực thích ứng với hoạt động trong môi trường xã hội và khả năng giải quyết hiệu quả các tình huống trong sự tương tác xã hội với người/ nhóm người khác” [7, tr.