TRÍ TUỆ XÃ HỘI Ở HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG TẠI THÀNH PHỐ HÀ NỘI

Nghiên cứu trí tuệ xã hội (TTXH) ở học sinh THPT tại Hà Nội. Phân tích thực trạng, yếu tố ảnh hưởng, đề xuất giải pháp phát triển TTXH cho học sinh.

Trường đại học

Học viện Khoa học Xã hội

Chuyên ngành

Tâm lý học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận án Tiến sĩ

2024

250
6
0

Phí lưu trữ

55 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

MỞ ĐẦU. MỞ ĐẦU

1.1. Tính cấp thiết của đề tài

1.2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận án

1.3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận án

1.4. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu của luận án

1.5. Đóng góp mới về khoa học của luận án

1.6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án

1.7. Cấu trúc của luận án

2. TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VỀ TRÍ TUỆ XÃ HỘI

2.1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề trí tuệ xã hội

2.2. Tổng quan nghiên cứu phương pháp đo lường trí tuệ xã hội

2.3. Tổng quan nghiên cứu về các yếu tố ảnh hưởng đến trí tuệ xã hội

2.4. Tiểu kết chương

3. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TRÍ TUỆ XÃ HỘI CỦA HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG

3.1. Trí tuệ xã hội

3.2. Một số đặc điểm phát triển tâm lý chung của học sinh trung học phổ thông

3.3. Trí tuệ xã hội và đo lường trí tuệ xã hội ở học sinh trung học phổ thông

3.4. Các yếu tố ảnh hưởng đến trí tuệ xã hội của học sinh trung học phổ thông

3.5. Tiểu kết của chương

4. TỔ CHỨC VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU TRÍ TUỆ XÃ HỘI CỦA HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG THÀNH PHỐ HÀ NỘI

4.1. Khái quát về địa bàn và khách thể nghiên cứu

4.2. Tổ chức nghiên cứu

4.3. Các phương pháp nghiên cứu

4.4. Tiểu kết của chương

5. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU THỰC TIỄN TRÍ TUỆ XÃ HỘI CỦA HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG TẠI THÀNH PHỐ HÀ NỘI

5.1. Kết quả khảo sát thực trạng trí tuệ xã hội của học sinh trung học phổ thông qua thang đo

5.2. Kết quả đánh giá thực trạng trí tuệ xã hội qua trắc nghiệm

5.3. Phân tích một số chân dung trí tuệ xã hội điển hình của học sinh trung học phổ thông

5.4. Kết quả phân tích đánh giá về các yếu tố ảnh hưởng đến trí tuệ xã hội của học sinh trung học phổ thông

5.5. Hướng dẫn một số cách thức hình thành, phát triển các năng lực của trí tuệ xã hội ở lứa tuổi học sinh trung học phổ thông

5.6. Tiểu kết của chương

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC ĐÃ CÔNG BỐ

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

Tóm tắt

I. Tổng quan về Trí tuệ Xã hội Nghiên cứu ở Hà Nội 55 ký tự

Các nhà nghiên cứu tâm lý và giáo dục ngày càng chú ý đến trí tuệ cảm xúctrí tuệ xã hội. Mỗi kiểu trí tuệ là một cách phát huy các kiểu mô đun thần kinh khác nhau và chúng đều quan trọng, cần được bồi đắp. Trí tuệ cảm xúc là hành trình giải mã những năng lực nhận biết, hiểu cảm xúc, dùng cảm xúc tích cực hóa tư duy, kiểm soát cảm xúc ở góc độ cá nhân. Trí tuệ xã hội mở rộng phạm vi nghiên cứu ra nhóm, liên cá nhân, góp phần giải đáp những tác động đa chiều thường nảy sinh trong các giao tiếp, tương tác xã hội, ứng xử giữa người với người. Nói cách khác, trí tuệ xã hội (TTXH) là năng lực hoàn thành các nhiệm vụ trong hoàn cảnh có tương tác với người khác. Nó liên quan đến nhận thức xã hội và năng lực giải quyết vấn đề một cách thông minh trong các hoạt động giao tiếp ứng xử, tương tác với, cùng người khác.

1.1. Tầm quan trọng của Trí tuệ xã hội với học sinh THPT

Bộ Giáo dục và Đào tạo đã thông qua chương trình giáo dục phổ thông mới (2018) theo cách tiếp cận năng lực, phẩm chất. Chương trình tập trung phát triển các năng lực chuyên biệt và năng lực chung cốt lõi cho học sinh từ cấp tiểu học đến trung học phổ thông. Các thành tố của trí tuệ xã hội đã xuất hiện trong các năng lực chung này. Lứa tuổi học sinh THPT là thời kỳ đặc biệt quan trọng đối với cuộc đời mỗi con người. Đây là giai đoạn phát triển có nhiều khó khăn, dễ gặp khủng hoảng, xung đột trong các mối quan hệ xã hội. Đây cũng là giai đoạn có sự biến đổi lớn về chất trong toàn bộ quá trình hình thành nhân cách.

1.2. Thực trạng giáo dục Trí tuệ xã hội tại trường THPT Hà Nội

Thực tiễn việc dạy và học ở các trường trung học phổ thông hiện nay, vẫn chưa coi trọng đúng mức đến việc giáo dục trí tuệ xã hội cho học sinh. Để học sinh THPT học tập có hiệu quả, chuẩn bị tốt cho giai đoạn tuổi trưởng thành, các em cần phải sớm được giáo dục, rèn luyện các năng lực thuộc trí tuệ xã hội. Mặt khác, trong thực tiễn nhà trường hiện nay, hành vi ứng xử của các em học sinh nảy sinh nhiều vấn đề đáng lo ngại. Một số em hành xử thiếu thân thiện, thiếu sự hoà đồng, thậm chí tiêu cực như gây hấn, bạo lực với các bạn, có những hành vi không phù hợp với chuẩn mực đạo đức xã hội.

II. Vấn đề và Thách thức Trí tuệ Xã hội học sinh THPT 57 ký tự

Hiện tượng không hay trong nhà trường liên quan trực tiếp đến vấn đề trí tuệ xã hội của học sinh trong trường trung học phổ thông. Tuy nhiên, hiện tại vẫn chưa có công trình nào nghiên cứu đủ sâu về vấn đề này ở lứa tuổi học sinh THPT tại Việt Nam. Nghiên cứu này nhằm tiếp tục mở thêm một hướng nghiên cứu mới có nhiều ứng dụng ở Việt Nam, làm phong phú thêm cơ sở lý luận và thực tiễn về trí tuệ xã hội, đóng góp cho lý luận tâm lý học nói chung, tâm lý học trí tuệ nói riêng, cũng như cho khoa học giáo dục nước nhà. Theo nghiên cứu, thực tiễn giáo dục hiện nay vẫn chưa xem trọng đúng mức giáo dục trí tuệ xã hội.

2.1. Thiếu nghiên cứu sâu về Trí tuệ xã hội học sinh THPT

Hiện tại, còn thiếu các nghiên cứu chuyên sâu về trí tuệ xã hộihọc sinh THPT tại Việt Nam. Điều này gây khó khăn cho việc xây dựng các chương trình giáo dục phù hợp và hiệu quả. Việc hiểu rõ hơn về trí tuệ xã hội sẽ giúp các nhà giáo dục và phụ huynh có những phương pháp tiếp cận tốt hơn trong việc hỗ trợ sự phát triển toàn diện của học sinh. Nghiên cứu này có thể cung cấp cái nhìn sâu sắc về thực trạng và các yếu tố ảnh hưởng đến trí tuệ xã hội của học sinh.

2.2. Tác động của Mạng xã hội đến Trí tuệ Xã hội học sinh THPT

Sự phát triển của mạng xã hội và công nghệ số có những tác động đáng kể đến trí tuệ xã hội của học sinh THPT. Một mặt, mạng xã hội có thể mở rộng khả năng giao tiếp và kết nối. Mặt khác, việc sử dụng mạng xã hội quá mức có thể dẫn đến những hạn chế trong kỹ năng giao tiếp trực tiếp và nhận thức xã hội. Nghiên cứu này cần xem xét kỹ lưỡng những tác động tích cực và tiêu cực của mạng xã hội đến sự phát triển trí tuệ xã hội của học sinh.

2.3. Ảnh hưởng của yếu tố gia đình đến trí tuệ xã hội

Ảnh hưởng gia đình đóng vai trò quan trọng trong việc hình thành và phát triển trí tuệ xã hội của học sinh THPT. Môi trường gia đình, cách giáo dục của cha mẹ, và mối quan hệ xã hội trong gia đình có thể ảnh hưởng đến khả năng giao tiếp, ứng xử, và giải quyết vấn đề xã hội của các em. Một gia đình hòa thuận, cởi mở, và khuyến khích sự phát triển cá nhân có thể giúp học sinh phát triển trí tuệ xã hội một cách tốt nhất. Ngược lại, môi trường gia đình căng thẳng, thiếu quan tâm có thể gây ra những khó khăn trong quá trình này.

III. Phương pháp đánh giá Trí tuệ Xã hội học sinh THPT 58 ký tự

Nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn về TTXH của học sinh THPT. Trên cơ sở đó, xác định các năng lực thành phần của mô hình cấu trúc TTXH và thiết kế bộ công cụ đánh giá thực trạng các biểu hiện, mức độ thể hiện từng năng lực thành phần thuộc cấu trúc TTXH, qua đó xác lập chỉ số SQ (Social Quotient), ảnh hưởng của các yếu tố chủ quan, khách quan đến TTXH của học sinh THPT. Để nghiên cứu TTXH, cần xác định các năng lực thành phần thuộc cấu trúc TTXH và xây dựng bộ công cụ đo lường TTXH.

3.1. Xây dựng thang đo tự đánh giá trí tuệ xã hội THPT

Thang đo tự đánh giá các biểu hiện hành vi của TTXH được xây dựng. Thang đo giúp học sinh tự đánh giá mức độ thể hiện các năng lực thành phần của TTXH trong các tình huống giao tiếp và tương tác xã hội. Các câu hỏi trong thang đo được thiết kế dựa trên các tiêu chí và chỉ báo hành vi cụ thể, đặc trưng cho từng năng lực thành phần. Thang đo cần đảm bảo tính tin cậy và giá trị để có thể sử dụng trong nghiên cứu và đánh giá thực tế.

3.2. Trắc nghiệm tình huống đo lường năng lực xã hội THPT

Trắc nghiệm TTXH kiểu đa lựa chọn đánh giá năng lực thực hiện qua xử lý giải quyết tình huống có vấn đề trong các tương tác xã hội. Trắc nghiệm này giúp đánh giá khả năng của học sinh trong việc giải quyết vấn đề xã hội, ứng xử phù hợp trong các tình huống khó khăn, và đưa ra các quyết định đúng đắn. Các tình huống trong trắc nghiệm cần phản ánh các tình huống thực tế mà học sinh thường gặp phải trong cuộc sống hàng ngày và trong môi trường học đường.

3.3. Xây dựng thang đo yếu tố ảnh hưởng đến trí tuệ xã hội

Để xác định các yếu tố ảnh hưởng đến TTXH, cần xây dựng thang đo tự đánh giá các yếu tố ảnh hưởng đến TTXH. Thang đo này giúp thu thập thông tin về các yếu tố chủ quan (như tính cách, kinh nghiệm cá nhân) và khách quan (như môi trường gia đình, môi trường học đường, ảnh hưởng của bạn bè) có thể tác động đến sự phát triển TTXH của học sinh. Kết quả từ thang đo này sẽ giúp phân tích và đánh giá mức độ ảnh hưởng của từng yếu tố đến TTXH.

IV. Thực trạng Trí tuệ Xã hội Khảo sát ở Hà Nội 59 ký tự

Khảo sát, phân tích, đánh giá thực trạng các biểu hiện, mức độ thể hiện của từng năng lực thành phần thuộc cấu trúc TTXH của học sinh THPT, phân tích nhân tố cấu trúc đa năng lực thành phần thuộc TTXH của học sinh THPT. Thêm nữa, phân tích các yếu tố chủ quan và khách quan ảnh hưởng đến TTXH của học sinh THPT. Phân tích chân dung tâm lý điển hình của một vài học sinh THPTTTXH cao, trung bình, thấp, từ đó cảnh báo, gợi ý, định hướng cách giáo dục TTXH cho học sinh THPT.

4.1. Đánh giá mức độ thể hiện năng lực trí tuệ xã hội THPT

Kết quả khảo sát cho thấy mức độ thể hiện các năng lực thành phần thuộc cấu trúc TTXH của học sinh THPT không đồng đều. Một số năng lực, như nhận thức xã hội, có xu hướng được thể hiện tốt hơn so với các năng lực khác, như giải quyết vấn đề xã hội. Điều này cho thấy cần có những can thiệp và chương trình giáo dục phù hợp để phát triển toàn diện các năng lực thuộc TTXH cho học sinh.

4.2. Phân tích chân dung tâm lý học sinh có trí tuệ xã hội

Phân tích chân dung tâm lý của học sinhTTXH cao, trung bình, và thấp giúp hiểu rõ hơn về những đặc điểm và yếu tố ảnh hưởng đến sự phát triển TTXH. Học sinhTTXH cao thường có khả năng giao tiếp tốt, ứng xử linh hoạt, và giải quyết vấn đề xã hội hiệu quả. Học sinhTTXH thấp có thể gặp khó khăn trong việc xây dựng mối quan hệ xã hội, thích ứng với môi trường, và giải quyết vấn đề.

4.3. Yếu tố ảnh hưởng tới trí tuệ xã hội của học sinh

Nghiên cứu tập trung phân tích các yếu tố chủ quan và khách quan ảnh hưởng đến TTXH của học sinh THPT. Yếu tố chủ quan có thể là tính cách, khả năng tự nhận thức, sự đồng cảm. Yếu tố khách quan là ảnh hưởng gia đình, bạn bè, môi trường học đường, văn hóa học đường, và tác động của mạng xã hội.

V. Giải pháp phát triển Trí tuệ Xã hội cho học sinh 54 ký tự

Cần hướng dẫn một số cách thức hình thành, phát triển các năng lực của trí tuệ xã hội ở lứa tuổi học sinh trung học phổ thông. Để đạt được mục tiêu này, cần có sự phối hợp chặt chẽ giữa nhà trường, gia đình và cộng đồng. Nhà trường có thể xây dựng các chương trình giáo dục kỹ năng xã hội, tổ chức các hoạt động ngoại khóa, và tạo môi trường học tập tích cực, hỗ trợ học sinh phát triển TTXH.

5.1. Xây dựng chương trình giáo dục kỹ năng xã hội THPT

Chương trình giáo dục kỹ năng xã hội cần được thiết kế dựa trên những nghiên cứu về TTXH và phù hợp với đặc điểm tâm lý của học sinh THPT. Chương trình cần tập trung vào việc phát triển các năng lực thành phần của TTXH, như nhận thức xã hội, kỹ năng giao tiếp, kỹ năng giải quyết vấn đề xã hội, kỹ năng ứng xử, và kỹ năng thích ứng với môi trường.

5.2. Vai trò của giáo viên trong phát triển trí tuệ xã hội

Giáo viên đóng vai trò quan trọng trong việc phát triển TTXH cho học sinh. Giáo viên cần tạo môi trường học tập thân thiện, cởi mở, và khuyến khích sự tham gia của học sinh vào các hoạt động. Đồng thời, giáo viên cần là người mô hình về các hành vi ứng xử tích cực, khuyến khích tinh thần hợp tác, sự đồng cảm. Ngoài ra, giáo viên cần có khả năng nhận biết và hỗ trợ những học sinh gặp khó khăn trong việc phát triển TTXH.

5.3. Tăng cường hoạt động ngoại khóa và kỹ năng mềm

Nghiên cứu của luận án cho thấy hoạt động ngoại khóa đóng vai trò rất quan trọng trong sự phát triển kỹ năng và kiến thức của học sinh, có nhiều đóng góp tích cực trong quá trình học tập và rèn luyện ở nhà trường. Vì vậy, giáo viên và nhà trường nên tạo điều kiện tổ chức, khuyến khích học sinh tham gia hoạt động ngoại khóa. Ngoài ra, nhà trường và giáo viên nên chú trọng trong việc giúp các em hình thành và rèn luyện các kỹ năng mềm như: kỹ năng giao tiếp, kỹ năng làm việc nhóm, kỹ năng giải quyết vấn đề.

VI. Kết luận Tương lai của nghiên cứu Trí tuệ Xã hội 51 ký tự

Nghiên cứu về trí tuệ xã hộihọc sinh THPT tại Hà Nội mở ra nhiều hướng đi tiềm năng cho các nghiên cứu tiếp theo. Việc tiếp tục khám phá các yếu tố ảnh hưởng đến TTXH, đánh giá hiệu quả của các chương trình can thiệp, và xây dựng các công cụ đo lường phù hợp là những nhiệm vụ quan trọng trong tương lai. Nghiên cứu này đóng góp vào sự hiểu biết sâu sắc hơn về trí tuệ xã hội và có ý nghĩa thực tiễn trong việc phát triển toàn diện cho học sinh.

6.1. Tiếp tục nghiên cứu yếu tố ảnh hưởng trí tuệ xã hội

Việc tiếp tục nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến TTXH của học sinh THPT là cần thiết để có cái nhìn toàn diện hơn về vấn đề này. Nghiên cứu có thể tập trung vào các yếu tố như môi trường gia đình, văn hóa học đường, ảnh hưởng của mạng xã hội, và vai trò của các chính sách giáo dục. Kết quả nghiên cứu sẽ cung cấp cơ sở khoa học cho việc xây dựng các biện pháp can thiệp và hỗ trợ phù hợp.

6.2. Xây dựng công cụ đo lường trí tuệ xã hội phù hợp

Việc xây dựng các công cụ đo lường TTXH phù hợp với bối cảnh văn hóa và xã hội Việt Nam là một nhiệm vụ quan trọng. Các công cụ này cần đảm bảo tính tin cậy, giá trị, và dễ sử dụng để có thể áp dụng rộng rãi trong các trường học và cộng đồng. Ngoài ra, cần có sự phối hợp giữa các nhà nghiên cứu, nhà giáo dục, và chuyên gia tâm lý để xây dựng các công cụ đo lường hiệu quả.

6.3. Nghiên cứu về mối liên hệ giữa IQ EQ và trí tuệ xã hội

Cần có nhiều nghiên cứu hơn về mối liên hệ giữa IQ, EQ, và trí tuệ xã hội để hiểu rõ hơn về sự tương tác giữa các loại trí tuệ này. Nghiên cứu có thể tập trung vào việc khám phá xem liệu có mối quan hệ nhân quả giữa IQ, EQ, và trí tuệ xã hội hay không, và liệu có thể cải thiện trí tuệ xã hội thông qua việc phát triển IQEQ hay không.

14/05/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VỀ TRÍ TUỆ XÃ HỘI 1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề trí tuệ xã hội 1. Hướng nghiên cứu trí tuệ xã hội 1. Tiếp cận nghiên cứu trí tuệ xã hội thông qua các năng lực thành phần Trên thế giới nhiều nhà nghiên cứu trí tuệ chuyển sang nghiên cứu trí tuệ xã hội (TTXH) [67], [89], [90], [94], [95].

Mặc dù đã có khá nhiều những nghiên cứu về TTXH nhưng các nhà nghiên cứu vẫn chưa có sự thống nhất về khái niệm, cũng như cách tiếp cận nghiên cứu. TTXH được định nghĩa khác nhau tùy thuộc vào các năng lực thành phần nào tham gia vào nội hàm khái niệm TTXH [15], [37]. Theo cách tiếp cận này có một số hướng sau: (1) Tiếp cận nghiên cứu coi TTXH là năng lực nhận thức và ứng xử của con người (đại diện là E. Thorndike) Năm 1920, trong bài báo: “Trí tuệ và việc sử dụng nó” (Intelligence and its use) đăng trên Tạp chí Harper (Harper’s Magazine), E.

Thorndike lần đầu tiên đưa ra khái niệm “trí tuệ xã hội” dựa trên sự phân chia trí tuệ con người thành 3 loại: trí tuệ trừu tượng (Abstract Intelligence) là năng lực hiểu và quản lý các suy nghĩ, ý tưởng; trí tuệ cơ học (Mechanical Intelligence) là năng lực hiểu và quản lý thế giới đồ vật; trí tuệ xã hội (Social Intelligence) là năng lực hiểu và quản lý con người trong các quan hệ xã hội [89]. 9 Thuật ngữ trí tuệ xã hội được Thorndike (1920) dùng với nghĩa: năng lực hiểu và quản lý đàn ông/đàn bà, con trai/con gái để hành động một cách khôn ngoan trong các mối quan hệ của con người [89]. Khái niệm này sau đó được nhiều nhà nghiên cứu sử dụng với nghĩa là năng lực cá nhân hòa nhập vào một tập thể, thông qua khả năng đánh giá đúng người, đúng việc, sự khôn khéo, cách xử lý có hiệu quả của một cá nhân trước mỗi hiện tượng, sự kiện, mỗi tình huống cụ thể xảy ra trong các tương tác xã hội (nhóm bạn, tập thể, cộng đồng…) và chỉ số SQ ngày càng được xem như là “chìa khóa” để thành công trong cuộc đời, nếu như các chỉ số khác như chỉ số trí tuệ cảm xúc (Emotionl Quotient – EQ), chỉ số sáng tạo (Creative Quotient – CQ), chỉ số kinh doanh thông minh (Business Quotient – BQ), chỉ số đam mê (Passion Quotient - PQ)… đều cao, cá nhân đó chắc chắn sẽ là một người thành đạt trong xã hội [77], [78], [71], [72], [1], [14], [15], [19], [37]. (2) Tiếp cận nghiên cứu coi trí tuệ xã hội là hành vi hoặc nhận thức xã hội (đại diện là D.

Welchsler (1958) đã bác bỏ sự tồn tại của trí tuệ xã hội khi ông xem TTXH chỉ là trí tuệ chung được ứng dụng trong các tình huống xã hội. Ông cho rằng test WAIS (bộ trắc nghiệm nổi tiếng dùng để đo chỉ số thông minh (Intelligence Quotient - IQ) có thể sử dụng để đo TTXH, cụ thể là đánh giá năng lực của cá nhân trong các tình huống xã hội [96]. Nếu hiểu như vậy thì TTXH có thành phần duy nhất là nhận thức xã hội. Quan điểm này của ông chỉ tập trung vào những gì chúng ta biết về thế giới giữa các cá nhân con người mà bỏ qua những gì chúng ta thật sự thực hiện khi giao tiếp với người khác.

Một người dù có nhận thức xã hội rất tốt nhưng lại thiếu những cách ứng xử mềm dẻo, thiếu sự đồng cảm,… vẫn có thể gặp khó khăn khi giao tiếp với người khác. Theo Kihlstrom và Cantor, TTXH là vốn kiến thức của cá nhân về thế giới xã hội, TTXH được sinh ra để giải quyết các vấn đề của xã hội, 10 cụ thể là điều tiết các nhiệm vụ của cuộc sống, các mối quan tâm của xã hội hiện tại [53], [84]. Cùng nghiên cứu về vấn đề TTXH, năm 1965, trong tác phẩm “Phép đo lường trí tuệ xã hội”, M. Demille cho rằng: Cảm xúc, động cơ, suy nghĩ, ý định, thái độ và các khuynh hướng tâm lý khác có ảnh hưởng đến các hành vi xã hội của một cá nhân [67].

Theo Ford và Tisak (1983), TTXH là năng lực giải quyết các tình huống xã hội cụ thể. Qua công trình nghiên cứu của mình, hai tác giả đã kết luận: “Các biện pháp đánh giá về TTXH đã được thích nghi trong ứng xử xã hội nên được sử dụng như là yếu tố tiên đoán về sự thể hiện hành vi ứng xử xã hội được quan sát trực tiếp hơn là các biện pháp của trí tuệ hàn lâm” [43]. Cùng quan điểm trên, H. (3) Tiếp cận nghiên cứu coi trí tuệ xã hội là trí tuệ về người khác (đại diện là H.

Gardner) Theo Gardner (1998), các cá nhân phát triển một hoặc nhiều kiểu trí tuệ thông qua sự di truyền của gen, giáo dục và xã hội hoá của các giá trị văn hoá. Các nghiên cứu của Gardner chứng minh có sự tồn tại của 8 dạng thức hay kiểu trí tuệ khác nhau (theo ông thay vì xem xét một người có trí thông minh là bao nhiêu thì hãy xem người đó thông minh như thế nào). Trong đó, TTXH hay trí thông minh xã hội là khả năng hiểu và tương tác hiệu quả với người khác. Nó bao gồm việc giao tiếp hiệu quả bằng lời và không bằng lời, khả năng nhận biết sự độc đáo của mỗi người, nhạy cảm với tâm trạng của người khác.

Nó giúp chúng ta thông cảm, an ủi, tạo cảm hứng và lãnh đạo mọi người, nên nó được coi là một điểm đặc trưng của những chính khách, giáo viên, nhà tư vấn, trị liệu tâm lý, nhân viên bán hàng, nhà xã hội học [4]. Thực chất đây chính là kiểu TTXH mà E. (4) Tiếp cận nghiên cứu coi trí tuệ xã hội là một loại trí tuệ thực tiễn hay trí tuệ cảm xúc (đại diện là R. Sternberg (1985, 2000) cho rằng trí tuệ có 3 loại là: Trí tuệ phân tích, trí tuệ sáng tạo và trí tuệ thực tiễn.

Trí tuệ thực tiễn là khả năng thích nghi với cuộc sống hàng ngày bằng kiến thức và kỹ năng sống. Theo ông, trí tuệ thực tiễn đặc biệt dựa vào việc thu được những kiến thức ngầm (Tacit Knowledge) không chính thức hơn là chính thức, học được mà không nhất thiết phải qua trường lớp. Kiến thức ngầm này phản ánh sự hiểu biết để giải quyết một tình huống nhất định, phản ánh sự phát triển và hành động [80], [83], [84]. Năm 1990, Salovey và Mayer đã đưa ra khái niệm “trí tuệ cảm xúc” với mô tả là một dạng của trí tuệ xã hội có liên quan đến khả năng điều khiển tình cảm, cảm xúc của bản thân và người khác [72].

(5) Tiếp cận nghiên cứu coi trí tuệ xã hội là trí tuệ được thể hiện trên bình diện xã hội (đại diện là H. Eysenck đã đề xuất mô hình trí tuệ 3 tầng bậc gồm trí tuệ sinh học, trí tuệ tâm trắc và TTXH. Trong ba tầng bậc trí tuệ trên, TTXH là loại trí tuệ mang ý nghĩa thực tiễn vì nó được hình thành trong đời sống xã hội, ảnh hưởng đến sự thành công trong cuộc sống của mỗi các nhân. Theo Eysenck, trí tuệ người là thuộc tính nhân cách trải ra trên ba bình diện sinh học, tâm lý và xã hội.

Như vậy, TTXH là một dạng trí tuệ được thể hiện trên bình diện xã hội, dẫn theo Trần Kiều (2005) [9, tr. Ở Việt Nam, nghiên cứu về TTXH còn khá mới mẻ. Thực tế có rất ít những công trình nghiên cứu về lý luận và thực tiễn ứng dụng về TTXH. Trong đó, có thể kể đến những công trình nghiên cứu tiên phong như: Tác giả Trần Kiều, Trần Trọng Thủy, Nguyễn Huy Tú, Nguyễn Công Khanh và cộng sự (2005) đã nghiên cứu đề tài cấp Nhà nước KX 05- 06 “Nghiên cứu phát triển trí tuệ của học sinh, sinh viên và lao động trẻ đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa”.

Các tác giả của đề tài này có chung quan điểm: “Trí thông minh IQ đo được bằng các trắc nghiệm tâm lý chỉ đóng góp khoảng 20% cho sự thành đạt của hoạt động con người mà thôi. Phần quan trọng quyết định sự thành công của hoạt động là do các dạng khác nhau của trí tuệ xã hội” [9, tr. Theo các tác giả này, 12 định nghĩa trí tuệ cần có nội hàm rộng hơn bao gồm: trí thông minh, trí sáng tạo, trí cảm xúc và trí tuệ xã hội. Mặc dù đề tài không trực tiếp nghiên cứu TTXH, nhưng đề tài này đã nghiên cứu không chỉ trí thông minh, trí sáng tạo.

Theo tác giả Nguyễn Công Khanh (2005), có một nhánh của đề tài KX05-06 do ông phụ trách, đã tập trung nghiên cứu trí tuệ cảm xúc ở học sinh, sinh viên (SV) [9]. Trong đó các thành tố của trí tuệ cảm xúc như nhận biết, hiểu cảm xúc của mình và người khác để tích cực hóa tư duy khi tương tác và kiểm soát, quản lý cảm xúc của mình và người khác trong các tình huống tương tác xã hội, thực chất có liên quan đến TTXH [1]. Nghiên cứu này đã giúp định hướng, gợi mở cho những công trình nghiên cứu tiếp theo về trí tuệ cảm xúc, TTXH và đây cũng là những dữ liệu tốt để đề tài nghiên cứu của luận án này xem xét, kế thừa. Tác giả Nguyễn Công Khanh (2011) định nghĩa: Trí tuệ xã hội là một phức hợp các năng lực hiểu, làm chủ, điều khiển, kiểm soát, quản lý có hiệu quả các hành vi tương tác xã hội, thể hiện ở các năng lực nhận thức xã hội, chủ động thiết lập duy trì các quan hệ xã hội, thích ứng, hoà nhập và giải quyết vấn đề một cách hiệu quả trong các tương tác xã hội” [14, tr.

Theo tác giả Kiều Thị Thanh trà (2017) khi nghiên cứu đề tài “Đặc điểm trí tuệ xã hội của sinh viên sư phạm thành phố Hồ Chí Minh” đã định nghĩa TTXH là một tổ hợp năng lực giúp cá nhân tương tác có hiệu quả với người khác trong các tình huống xã hội [30, tr. Tác giả Nguyễn Thị Hồng (2018) nghiên cứu TTXH của SV sư phạm mầm non đã định nghĩa: “Trí tuệ xã hội là năng lực phức hợp bao gồm năng lực nhận thức xã hội, năng lực thiết lập và duy trì các mối quan hệ xã hội, năng lực hòa nhập, năng lực thích ứng với hoạt động trong môi trường xã hội và khả năng giải quyết hiệu quả các tình huống trong sự tương tác xã hội với người/ nhóm người khác” [7, tr.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Luận án tiến sĩ "Trí tuệ xã hội ở học sinh THPT tại Hà Nội - Nghiên cứu toàn diện" đi sâu vào khám phá trí tuệ xã hội (social intelligence) ở học sinh THPT tại Hà Nội. Nghiên cứu này không chỉ làm rõ khái niệm trí tuệ xã hội mà còn phân tích các yếu tố ảnh hưởng và đề xuất các giải pháp để phát triển trí tuệ xã hội cho học sinh. Đây là một tài liệu giá trị cho các nhà nghiên cứu giáo dục, giáo viên, và phụ huynh quan tâm đến sự phát triển toàn diện của học sinh, đặc biệt trong bối cảnh xã hội ngày càng phức tạp.

Nếu bạn quan tâm đến việc cải thiện sự tham gia của học sinh trong các hoạt động nhóm, bạn có thể tìm hiểu thêm trong luận văn Luận văn tốt nghiệp how to increase students participation in communicative activities in large classes by using group work and questioning technique in hai an high school hai phong. Hoặc, để hiểu rõ hơn về các yếu tố ảnh hưởng đến sự tham gia của học sinh khi làm việc theo nhóm, hãy tham khảo Luận văn thạc sĩ teacher and students factors affecting students participation in pair work and group work a case study at luong van tuy gifted high school in ninhbinh. Thêm nữa, nếu bạn quan tâm đến việc áp dụng phương pháp thảo luận nhóm trong môn Giáo dục công dân, hãy xem Luận văn thạc sĩ vận dụng phương pháp thảo luận nhóm trong dạy học môn giáo dục công dân ở các trường trung học cơ sở thành phố thái nguyên. Những tài liệu này sẽ cung cấp thêm góc nhìn và kiến thức sâu rộng hơn về các khía cạnh liên quan đến trí tuệ xã hội và phương pháp giảng dạy hiệu quả.