đặt vấn đề và phần kết luận, đề tài gồm ba phần: Phần I: Cơ sở lí luận và thực tiễn của đề tài Phần II: Một số giải pháp giáo dục kỉ luật tích cực của giáo viên chủ nhiệm nhằm xây dựng Lớp học hạnh phúc cho học sinh vùng miền núi cao tại trường THPT Quỳ Châu. Phần III: Kết quả đạt được 5 skkn NỘI DUNG 1. CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 1. Các văn bản chỉ đạo thực hiện Ngày 12 -11- 2019 CĐGDVN đã có Kế hoạch số 312 - CĐGDVN ngày 12 -11- 2019 Về việc Hướng dẫn và tổ chức tham gia xây dựng trường học hạnh phúc theo kế hoạch nâng cao năng lực ứng xử sư phạm, đạo đức nhà giáo, người lao động đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới.
Kế hoạch số 235 ngày 29 -12 - 2019 của Công đoàn ngành GD & ĐT Nghệ An Về việc Hướng dẫn và tổ chức tham gia xây dựng trường học hạnh phúc theo kế hoạch nâng cao năng lực ứng xử sư phạm, đạo đức nhà giáo, người lao động đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới. Các khái niệm liên quan 1. Khái niệm “Lớp học hạnh phúc” Lớp học hạnh phúc là nơi giúp GV và HS hình thành và duy trì các trạng thái cảm xúc tích cực. Mỗi lớp học hạnh phúc sẽ tạo nên một môi trường học đường mà ai tham gia cũng cảm thấy hạnh phúc.
Được tham gia vào các lớp học hạnh phúc sẽ giúp cho mỗi cá nhân thiết lập được các tình cảm lành mạnh, góp phần phát triển nhân cách tốt đẹp. Lớp học hạnh phúc là lớp học có sự tương tác chủ động, tích cực với xúc cảm từ hai phía: nhà tổ chức và chủ thể thực hiện. Lớp học hạnh phúc là điểm đến mà mỗi cá nhân cảm thấy muốn đến, khi đến có những hứng thú, có niềm vui, có sự mong chờ, có rung cảm. Lớp học hạnh phúc là nơi có thể cảm nhận được sự an toàn, sự nâng đỡ hay sự thú vị khi có nhiều điều nằm trong nhu cầu được thỏa mãn.
HS đến trường như thế nào là hạnh phúc, có thể quy thành một mệnh đề: mỗi ngày đến trường là một ngày vui. Cần khẳng định không quá lý tưởng đến mức vui mà không nhớ hay không hiểu nhiệm vụ thay vào đó là thực hiện nhiệm vụ một cách chủ động, tích cực với sự thoải mái, khao khát, cố gắng tích cực nhất. Bên cạnh đó, người học cảm thấy có niềm tin, có rung động, có động lực khi đến lớp và dễ nhớ nhung nếu không đến lớp. Kết quả thống kê của Đại học Sư phạm TP.HCM khảo sát trên 181 học sinh THPT, HS mong muốn 10 điều GV sẽ thay đổi để việc học được hạnh phúc hơn cho kết quả khá bất ngờ.
Kết quả thống kê như sau: • 92,8% mong giáo viên cười nhiều hơn. • 84% mong giáo viên nhẹ nhàng hơn khi học sinh làm sai. • 82,4% mong giáo viên đừng phê bình trước mặt bạn bè. 6 skkn • 82,4% được tổ chức học tập xen kẽ vui chơi.
• 75,4% mong giáo viên đừng bắt học thuộc lòng quá nhiều. • 74% mong giáo viên đừng nhắc lại môn học này là quan trọng. • 70,2% mong giáo viên khen thưởng nhiều hơn trách móc. • 66,3% mong giáo viên bớt bài tập về nhà.
• 62,4% mong được tăng cường thực tế, khám phá thực tiễn. • 60% mong giáo viên khác nhận suy nghĩ và hành vi của các em dù nó khác thường và không được như mong đợi. Khái niệm về “Giáo dục kỷ luật tích cực” Theo các nhà giáo dục: “GDKL tích cực là cách giáo dục dựa trên nguyên tắc vì lợi ích tốt nhất của HS; không làm tổn thương đến thể xác và tinh thần của HS. GDKL tích cực là việc dạy và rèn luyện cho HS tính tự giác tuân theo các quy định và quy tắc đạo đức ở thời điểm trước mắt cũng như về lâu dài”.
Mục tiêu của GDKL tích cực là dạy HS tự hiểu hành vi của mình, có trách nhiệm đối với sự lựa chọn của mình, biết tôn trọng mình và tôn trọng người khác. Nói cách khác giúp HS phát triển tư duy và có các hành vi tích cực có thể ảnh hưởng lâu dài đến cả cuộc đời sau này” (Tài liệu bồi dưỡng giáo viên trung học phổ thông về giáo dục kỉ luật tích cực). Những năm gần đây, khái niệm kỉ luật tích cực được nhắc đến nhiều hơn trong môi trường học đường. Theo đó, GV phải luôn tìm các biện pháp, cách thức xử lý tình huống, các hình thức giáo dục HS mà không la mắng, cáu giận, đánh đập… khi các em phạm phải sai lầm.
GV quan tâm, phân tích, giúp các em nhận ra lỗi lầm và biết cách khắc phục. Từ đó HS thêm tin tưởng thầy cô. Giáo dục kỉ luật tích cực cũng là hành động “trao yêu thương để nhận lại tin yêu”. Cơ sở để xây dựng lớp học hạnh phúc Thực hiện theo Kế hoạch số 312 - CĐGDVN ngày 12 - 11- 2019 về việc Hướng dẫn và tổ chức tham gia xây dựng trường học hạnh phúc theo kế hoạch nâng cao năng lực ứng xử sư phạm, đạo đức nhà giáo, người lao động đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới.
Dựa trên kế hoạch của trường THPT Quỳ Châu trong hội nghị kế hoạch đầu năm để định hướng các hoạt động cho học sinh nhằm xây dựng lớp học hạnh phúc và từ đó tạo nên trường học hạnh phúc. Tiêu chí để xây dựng Lớp học hạnh phúc 1. Xây dựng Lớp học có tình yêu thương Lớp học có tình yêu thương là nơi mà cả thầy cô, phụ huynh và HS đều cảm thấy hạnh phúc. Đó là nơi mà các thầy cô tìm được niềm đam mê, nhiệt huyết giảng dạy của mình và tích cực đưa ra các phương pháp dạy học chủ 7 skkn động, sáng tạo, luôn hỗ trợ, giúp đỡ HS của mình trong quá trình học tập, thiết lập được mối quan hệ thân thiết, gắn bó và chia sẻ với học sinh.
Đó còn là nơi HS cảm thấy có hứng thú với những giờ học, hứng thú với thời gian học tập, sinh hoạt tại trường. Không có áp lực, căng thẳng, mệt mỏi, được thỏa sức vui đùa, hòa đồng với bạn bè. Xây dựng Lớp học an toàn Lớp học an toàn là nơi không có bạo lực học đường, không có những vụ đánh nhau, xô xát, bắt nạt giữa học sinh, không có những tai nạn đáng tiếc xảy ra. Ở đó, GV và HS được đảm bảo sức khỏe thể chất và sức khỏe tâm lí, học sinh được chăm sóc, bảo vệ.
Xây dựng Lớp học có sự tôn trọng Một Lớp học được xem là hạnh phúc khi ở đó không có những hành vi, lời lẽ vi phạm đạo đức xã hội, xúc phạm nhân phẩm, danh dự của nhà giáo. Đặc biệt, đó là nơi phải biết tôn trọng sự khác biệt, không áp đặt một cá nhân lên cái chung của tập thể. Cở sở thực tiễn 1. Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm ở trường THPT Quỳ Châu 2.
Về giáo viên Trường THPT Quỳ Châu đóng trên địa bàn của một huyện miền núi có đội ngũ GV còn trẻ nên nhiệt tình trong công tác giảng dạy và giáo dục HS. Tuy nhiên đội ngũ GV còn trẻ nên kinh nghiệm giảng dạy và giáo dục chưa nhiều. Số lượng GV ở dưới xuôi lên công tác chiếm phần đông nên tính ổn định không cao. Qua buổi giao ban GVCN đầu năm tôi đã thực hiện điều tra khảo sát toàn bộ GV với câu hỏi “Thầy cô có hạnh phúc khi đến trường không?” Kết quả đa số các thầy cô rất ít hạnh phúc khi đến trường, nguyên nhân chủ yếu là do GV chịu áp lực từ nhiều phía: + Trước hết là áp lực đến từ nội dung kiến thức, chương trình.
+ Thứ hai là áp lực từ kết quả thi, thành tích trong giáo dục. +Thứ ba là áp lực đến từ phụ huynh HS, tâm lý giao khoán con cho GV. +Thứ tư là áp lực đến từ dư luận xã hội bởi luôn đặt kì vọng cao cho GV và ngành Giáo dục. Theo quan niệm từ xưa đến nay GV phải là những người chuẩn mực nhất, vừa có tài vừa có tâm.
Thế nhưng, thực tế cho thấy, với sự phát triển của báo chí, của truyền thông mạng thì các tồn tại của ngành Giáo dục, của GV dù là nhỏ nhất cũng được đưa lên với những tiêu đề giật gân. + Cuối cùng là áp lực đến từ chính bản thân mỗi GV khi luôn muốn làm tròn các vai xã hội của mình. GV đã tự đặt mình và HS vào những khuôn khổ, những đích do chúng ta tự đặt ra mà đôi khi không phù hợp. GV luôn mong 8 skkn muốn HS phải yêu thích bộ môn của mình, phải học đều các môn, phải ngoan ngoãn lễ phép và phải thế này, thế kia.Để rồi dồn tất cả mọi áp lực lên vai của mình, và lại dồn tất cả những áp lực ấy lên đôi vai bé nhỏ của HS lúc nào không hay.
Đến khi thực tế HS không đạt được những kì vọng.Khiến cho GV nhiều lúc cảm thấy chán nản, mệt mỏi, đam mê và nhiệt huyết với nghề giảm sút. Vì thế GV và HS mỗi ngày đến trường không còn là mỗi ngày vui; lớp học không còn là lớp học theo đúng nghĩa của giáo dục. Về học sinh: Trường THPT Quỳ Châu có tổng số HS hơn 1624 em (tính đến 18/9/2021) trong đó dân tộc thái 1235 em chiếm 76,04%. Tỉ lệ HS nữ 830 em chiếm 51,10%.
Do trường đóng trên địa bàn miền núi nên tỉ lệ hộ nghèo và cận nghèo chiếm gần 48%. Học sinh của nhà trường cơ bản các em ngoan tuy nhiên chất lượng đầu vào còn thấp so với các huyện khác. Học sinh ở phân tán trên khắp địa bàn huyện, điều kiện đi lại khó khăn do đó việc duy trì sĩ số, nề nếp còn nhiều bất cập. Ý thức học tập của một bộ phận HS chưa cao, động cơ học tập chưa rõ ràng.
Còn một bộ phận phụ huynh do mưu sinh nên chưa thực sự quan tâm đến việc học tập của con em phó thác việc học tập cho nhà trường. Tôi đã tiến hành khảo sát về tâm lý của 44 HS lớp 10C1 (Năm học 2019- 2020) vào tháng 9/2019 và 43 HS lớp 12C1 (Năm học 2021-2022) vào tháng 9/2021 với câu hỏi "Các em có hạnh phúc khi đến trường không?