CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1. Lịch sử nghiên cứu vấn đề PPDH là cách thức thực hiện kiểu nhiệm vụ “Dạy học” của cả người dạy và người học nhằm đạt được các mục đích dạy học xác định. Trên thế giới nhất là các nước phương Tây, việc tôn trọng những ý tưởng sáng tạo của học trò là một đặc điểm xã hội khá phổ biến.
Đây cũng chính là tiền đề của dạy học khám phá được nghiên cứu sớm ở các nước này.Rubinstien đã đưa ra những ý tưởng về PPDH khám phá. Cùng ở thời điểm này Jerome Bruner và Leo Postman cũng nghiên cứu về những cách thức mà các nhu cầu, động lực và mong ước ảnh hưởng đến sự nhận thức. Tuy nhiên phương pháp DHKP chỉ thực sự được nghiên cứu sâu sắc và đưa vào áp dụng thực tiễn từ năm 1960, sau công trình nghiên cứu quan trọng “Quá trình giáo dục” của Jerome Bruner. Đây được xem là bước ngoặc trong lý thuyết về giáo dục.
Hướng tiếp cận mới này đã tiếp tục được các nhà nghiên cứu trên thế giới như Geofrey Petty, Jacke Richards….phát triển và đào sâu thêm. Tuy nhiên ở Việt Nam, nghiên cứu về phương pháp DHKP được thực hiện muộn hơn. Từ những năm 2000 trở lại đây mới có nhiều công trình nghiên cứu được công bố. Một số các tác giả có đóng góp quan trọng như Bùi Văn Nghị, Trần Bá Hoành, Đào Tam….
([12],[13],[14]) Jerome Bruner(1915) là một trong những nhà tâm lý học nổi tiếng và có tầm ảnh hưởng nhất thế kỷ XX nhất là trong lĩnh vực giáo dục. Theo ông, học là một quá trình mang tính chất chủ quan mà thông qua đó, người học hình thành nên các ý tưởng hoặc khái niệm mới dự trên cơ sở vốn kiến thức có sẵn của mình. Việc học tập khám phá xảy ra khi các cá nhân sử dụng quá trình tư duy để phát hiện ra ý nghĩa của điều đó cho bản thân họ. Để có được điều này 7 Người học phải kết hợp với quan sát và rút ra kết luận, thực hiện so sánh, làm rõ ý nghĩa số liệu để tạo ra một sự hiểu biết mới mà họ chưa từng biết trước đó.
GV cần khuyến khích HS tự khám phá ra các nguyên lý. GV và HS cần phải có sự hòa nhập trong quá trình dạy học. Trong tác phẩm “Quá trình giáo dục” Jerome Bruner đã chỉ ra ba yếu tố cơ bản của phương pháp DHKP. Thứ nhất, GV nghiên cứu nội dung bài học đến mức độ sâu cần thiết, tìm kiếm những yếu tố tạo tình huống, tạo cơ hội cho hoạt động khám phá tìm tòi.
Thứ ha, GV thiết kế các hoạt động của HS, trên cơ sở đó xác định các hoạt động chỉ đạo, tổ chức của GV. Thứ ba GV khéo léo đặt người học vào vị trí người khám phá, tổ chức và điều khiển cho quá trình này được diễn ra một cách thuận lợi để người học tự xây dựng kiến thức. Geofrey Petty cho rằng, có hai cách tiếp cận trong dạy học đó là dạy học bằng cách giải thích và dạy học bằng cách đặt câu hỏi. Với dạy học bằng cách đặt câu hỏi hoặc giao bài tập yêu cầu HS phải tự tìm ra kiến thức mới.
Kiến thức mới này được GV chỉnh sửa và khẳng định lại. Khám phá có hướng dẫn là một ví dụ cho cách tiếp cận này. DHKP chỉ có thể được sử dụng nếu người học có khả năng rút ra được bài học mới từ kiến thức và kinh nghiệm sẵn có của mình. Ở Việt Nam, việc phát huy tính chủ động, tích cực của HS nhằm đào tạo những người lao động sáng tạo cũng đã được đặt ra sớm trong ngành Giáo dục và Đào tạo.
Từ cuối năm 1960, khẩu hiệu “Biến quá trình đào tạo thành quá trình tự đào tạo” đã đi vào các trường sư phạm. Các nhà nghiên cứu, nhà sư phạm và hoạch định chính sách đã bắt đầu để ý đến việc giúp HS tự khám phá, tự có được những tri thức mới chứ không phải thụ động tiếp thu những tri thức, kỹ năng do thầy giáo truyền thụ cho. Từ năm 1980, cải cách giáo dục được triển khai ở các trường phổ thông ở nước ta theo hướng áp dụng phương pháp dạy học giúp HS tự khám phá, tự 8 có được tri thức, kỹ năng mới; bỏ dần cách học theo kiểu thụ động. Tuy nhiên, sự chuyển biến về phương pháp dạy học trong trường phổ thông ở nước ta diễn ra còn chậm.
Phương pháp dạy học truyền thống, học thụ động với vai trò trung tâm của người thầy, hay kiểu học “ thầy đọc trò chép” , “thầy truyền đạt kiến thức trò tiếp thu”, “Thuyết trình giảng giải xen kẽ vấn đáp tái hiện …. Vẫn còn phổ biến ở các bậc học của chúng ta. Mặc dù đã có một số người đi tiên phong trong đổi mới PPGD từ phương pháp dạy học truyền thống sang phương pháp dạy học tích cực trong đó có DHKP, nhưng số lượng chưa nhiều, chưa được duy trì một cách thường xuyên, liên tục và chưa được thực hiện một cách hệ thống. Các giờ dạy phát huy tính tích cực của HS mới chỉ dừng lại ở các hoạt động mang tính minh họa, biễu diễn và mới được thực hiện trong các giờ thap giảng, thi GV giỏi.
Gần đây có một số nghiên cứu về vấn đề vận dụng phương pháp DHKP trong dạy học nói chung và trong dạy học bộ môn Toán nói riêng. PPDH mới này đã được ứng dụng vào dạy học một số nội dung cụ thể. Tiêu biểu trong trong số đó là các nghiên cứu của tác gỉả Trần Bá Hoành về những đặc trưng của dạy học tích cực, tác giả Bùi Văn Nghị với các nghiên cứu vận dụng lý luận vào thực tiễn trong dạy học môn Toán ở trường phổ thông và vận dụng phương pháp DHKP trong dạy học hình học không gian; tác giả Đào Tam với nghiên cứu về tiếp cận phương pháp dạy học không truyền thống trong dạy học Toán ở trường đại học và trung học phổ thông[13], tác giả Nguyễn Thị Vân Hương và Nguyễn Thị Hồng Quý với nghiên cứu vận dụng DHKP để giáo dục môi trường trong môi trường tự nhiên và xã hội[5]…. Theo tác gỉả Trần Bá Hoành, để sử dụng cách có tính khám phá, đó là bài toán được cho gồm các câu hỏi, những bài toán thành phần để HS trong khi trả lời hoặc tìm cách giải các bài toán thành phần dần thể hiện cách giải bài toán ban đầu.
Cách giải này thường là những quy tắc hoặc khái niệm mới. 9 Ngoài ra, nhiều nghiên cứu ứng dụng DHKP trong các chuyên đề nhất định của môn Toán hoặc trong các môn học khác như Vật lý, Hóa học, Sinh học…đã được nhiều tác giả tập trung nghiên cứu. Như vậy phương pháp DHKP đã được nhiều học giả, nhà nghiên cứu trong và ngoài nước quan tâm, đồng thời được một số thầy cô giáo nghiên cứu và áp dụng vào dạy học các bộ môn. Tuy nhiên việc khai thác áp dụng lí luận này vào thực tế vẫn còn thiếu thường xuyên, chưa phổ biến.2 Dạy học khám phá trong môn Toán 1.
Khái niệm dạy học khám phá Theo [17] DHKP là GV tổ chức cho HS tìm tòi phát hiện, khám phá ra tri thức mới, cách thức hành động mới nhằm phát huy năng lực giải quyết vấn đề và tự học. Qua đó, HS học kĩ năng và thái độ học tập tích cực và người học đóng vai trò là người phát hiện còn người dạy đóng vai trò là người tổ chức. Trong dạy học, hoạt động khám phá gồm các kiểu Kiểu 1: Khám phá dẫn dắt. GV đưa ra vấn đề, đáp án và dẫn dắt HS tìm cách giải quyết vấn đề đó.
Kiểu 2: Khám phá hỗ trợ. GV đưa ra vấn đề và gợi ý HS trả lời. Kiểu 3: Khám phá tự do. Vấn đề, đáp án và phương pháp giải quyết do HS tự lực tìm ra.
Tùy theo mức độ hướng dẫn của GV mà DHKP chia thành 2 kiểu: khám phá có hướng dẫn và khám phá tự do. Khám phá có hướng dẫn chia thành 2 cấp độ. Cấp độ 1: Khám phá có hướng dẫn hoàn toàn (vấn đề và đáp án được GV đưa ra, HS tìm cách lý giải). Cấp độ 2: Khám phá có hướng dẫn một phần (vấn đề được GV đặt ra, HS tìm cách lý giải).
Khám phá tự do là vấn đề và đáp án do HS tự khám phá. Việc áp dụng DHKP ở kiểu nào, cấp độ nào còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố như nội dung bài học, mục tiêu mà GV và HS đạt được, năng lực tư duy, tâm sinh lí của lứa tuổi HS. Bản chất của dạy học khám phá Theo [16] hoạt động khám phá tri thức mới là một quá trình nhận thức độc đáo của người học, họ có khả năng tự điều chính nhận thức góp phần tăng cường tính mềm dẻo trong tư duy và năng lực tự học. Ðó chính là nhân tố quyết định sự phát triển bản thân người học.
Vậy bản chất của quá trình DHKP là sự tìm kiếm, khám phá tri thức khoa học. Trong DHKP đòi hỏi người GV gia công rất nhiều để chỉ đạo các hoạt động nhận thức của HS. Hoạt động của người thầy bao gồm: Định hướng phát triển tư duy cho HS, lựa chọn nội dung của vấn đề và đảm bảo tính vừa sức với HS; tổ chức HS trao đổi theo nhóm trên lớp; hướng dẫn sử dụng phương tiện trực quan hỗ trợ cần thiết và tạo ra môi trường học tập để HS giải quyết vấn đề. Kết quả DHKP đem lại ý nghĩa về tinh thần cho người học và người dạy.
Hoạt động của người học bao gồm: HS tiếp thu các tri thức khoa học thông qua con đường nhận thức. Từ tri thức của bản thân thông qua hoạt động hợp tác với bạn đã hình thành tri thức có tính chất xã hội của cộng đồng lớp học; GV nhận xét ý kiến của HS và chốt lại ý chính để HS làm cơ sở tự kiểm tra, tự điều chỉnh tri thức của bản thân. Đăc trưng cơ bản của dạy học khám phá. + DHKP trong nhà trường phổ thông không nhằm phát hiện những vấn đề mà loài người chưa biết, mà chỉ giúp HS khám phá lại những tri thức có trong chương trình môn học.
Ðặc trưng của DHKP phá là giải quyết các vấn đề học tập nhỏ, hoạt động hợp tác của lớp, nhóm để giải quyết vấn đề. + DHKP không chỉ làm cho HS lĩnh hội sâu sắc tri thức của môn học, mà quan trọng hơn là trang bị cho người học phương pháp suy nghĩ, cách thức phát hiện và giải quyết vấn đề mang tính độc lập sáng tạo.