CHƯƠNG 1: Cơ SỞ LÝ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN cúu 1. Dạy học khám phá 1. Một số khái niệm Theo Collin, “Inquiry teaching” hay “Inquiry-based learning”, dạy học khám phá là phương pháp dạy học lấy học sinh làm trung tâm mà ở đó khuyến khích học sinh đặt câu hởi, khảo sát các vấn đề thực tế. Trong môi trường học tập này, học sinh tích cực tham gia vào quá trình học tập và được cho cơ hội khám phá những tò mò tự nhiên của bản thân.
[13, tr31 ] Dạy học khám phá là một phương pháp giảng dạy tập trung vào việc khuyến khích học sinh tìm hiểu, khám phá và giải quyết vấn đề thông qua quá trình tự học. Thay vì chỉ truyền đạt kiến thức một cách trực tiếp, phương pháp này đặt học sinh vào trung tâm của quá trình học tập, khuyến khích học sinh tự tìm hiểu thông qua việc đặt câu hỏi, thực hành thử nghiệm, nghiên cứu, và tìm hiểu thực tế. Dạy học khám phá đề cao việc phát triển các năng lực và kỹ năng, tư duy logic, tư duy sáng tạo, giải quyết vấn đề, khám phá và làm việc nhóm. Học sinh không chỉ thu thập thông tin một cách cơ học, mà còn phải xác định vấn đề, nghiên cửu, phân tích và rút ra kết luận dựa trên những phát hiện của chính mình.
[161 Phương pháp dạy học khám phá khuyến khích sự tò mò và sự tự phát triến của học sinh. Nó giúp học sinh trở thành người học chủ động, có khả năng tự học suốt đời và áp dụng kiến thức vào thực tế. Bên cạnh đó, dạy học khám phá còn giúp học sinh phát triền các kỹ năng xã hội, như giao tiếp, làm việc nhóm và giải quyết vấn đề khi tranh biện. Trong dạy học khám phá, học sinh chiếm lĩnh tri thức thông qua con đường nhận thức: từ vốn tri thức đã có của bản thân thông qua hoạt động trao đổi, chia sẻ, hợp tác với các bạn đã hình thành tri thức có tính chất xã hội của 8 cộng đông lớp học, giáo viên nhận xét, chôt lại tri thức làm cơ sở cho học sinh tự kiểm tra, tự điều chỉnh tri thức của bản thân góp phần làm tăng cường tính mềm dẻo và linh hoạt trong tư dưy và tự học, khiến cho hoạt động khám phá tri thức mới trở thành quá trình nhận thức độc đáo riêng có của mỗi người học.
Đầu tiên, các nhà nghiên cứu đưa ra phương pháp dạy học khám phá như là một kiểu dạy học đặc thù cho các môn khoa học, trong đó được hiểu rằng, học sinh học tập thông qua sử dụng các kĩ năng và thái độ như các nhà khoa học khi nghiên cứu khoa học. Trong quá trình hình thành và phát triển, với việc ngày càng chú trọng tới phát triển năng lực người học, giúp người học không chỉ có thể chiếm lĩnh được các kiến thức mà còn có được năng lực phát hiện và giải quyết vấn đề, năng lực sử dụng CCPT học tập, năng lực ngôn ngữ, năng lực tính toán, tư duy phê phán và phản biện, kĩ năng lãnh đạo, kĩ năng đưa ra quyết định, dạy học khám phá ngày càng được mớ rộng và phát triển. Phương pháp dạy học khám phá có thể được áp dụng trong nhiều lĩnh vực và môn học khác nhau, từ khoa học, toán học, ngôn ngừ, đến nghệ thuật và xã hội, với nhiều cấp học khác nhau. Các đặc trưng của dạy học khám phá Sự tò mò và đặt câu hỏi: Dạy học khám phá khuyến khích học sinh đặt câu hởi và tìm hiểu thông qua sự tò mò tự nhiên.
Học sinh được khuyến khích tìm hiểu vấn đề, đặt câu hỏi và điều tra đế tìm câu trả lời. Tự khám phá và thí nghiệm: Dạy học khám phá tạo điều kiện cho học sinh thực hiện các hoạt động thí nghiệm và tìm hiểu bằng cách trực tiếp thực hành và trải nghiệm. Học sinh có cơ hội khám phá và tìm hiểu thông qua việc thử nghiệm, quan sát và ghi nhận kết quả. Học tập hướng dần và học tập họp tác: Dạy học khám phá khuyến khích học sinh học tập dưới sự hướng dẫn cũa giáo viên, nhung cũng khuyến 9 khích học sinh làm việc nhóm và hợp tác với nhau.
Học sinh có thê chia sẻ ý kiến, thào luận và giải quyết vấn đề cùng nhau. Tự chủ và giám sát: học sinh có sự tự chủ trong việc lựa chọn và tổ chức quá trình học tập của mình. Giáo viên đóng vai trò người hướng dẫn và giám sát, giúp học sinh xác định mục tiêu, cung cấp hướng dẫn và phản hồi. Phân tích và suy luận: Dạy học khám phá khuyến khích học sinh phân tích thông tin, suy luận và rút ra kết luận dựa trên những gì học sinh đã khám phá và tìm hiểu.
Học sinh được khuyến khích suy nghĩ sâu và phát triển tư duy logic. Áp dụng kiến thức vào thực tế: Dạy học khám phá khuyến khích học sinh áp dụng kiến thức và kỹ năng của mình vào thực tế. Học sinh có cơ hội tìm hiểu cách sử dụng kiến thức để giải quyết vấn đề và gặt hái thành công trong các tình huống thực tế. Dạy học khám phá đặt học sinh vào trung tâm của quá trình học tập, khuyến khích học sinh sử dụng CCPT tốt hơn.
Mô hình 5E Mô hình 5E là một mô hình dạy học được thiết kế để khuyến khích việc tham gia tích cực và khám phá của học sinh. Mô hình này bao gồm năm pha chính: Kích thích, Khám phá, Giải thích , Mở rộng và Đánh giá. Theo Bybee, mồi pha trong quy trình 5 pha của mô hình 5E được hướng dẫn cụ thể như sau [15] 1. Các pha dạy học của mô hình 5E Kích thích (Engage): Mục tiêu trong giai đoạn này là nhằm thu hút sự chú ý và quan tâm của học sinh với chủ đề bài học.
Ớ trong pha này đồng thời gợi mở sự tò mò và khám phá của học sinh đối với chủ đề học. Hướng học sinh tập trung vào một tình huống, sự kiện, một thực hành minh họa, một vấn đề chứa đựng nội dung và năng lực đề cập tới của bài học là mục tiêu chính của pha này. Từ quan điểm dạy học, giáo viên tạo ra một tình huống khởi đầu 10 hấp dẫn, sử dụng câu hòi, hình ảnh, câu chuyện hoặc một tình huống thực tế để kích thích học sinh nắm bắt vấn đề và đặt câu hỏi. Mục tiêu là kích thích sự tò mò và chuẩn bị cho quá trình khám phá.
Nếu học sinh tở ra bối rối và tự xuất hiện câu hỏi “Điều đó xảy ra như thế nào”; “Em thật thắc mắc về điều đó”; “Em muốn biết thêm về điều đó” thì có nghĩa là học sinh đã thực sự tham gia thích thú vào tình huống học tập. Học sinh nảy ra một ý tưởng nhưng việc diễn đạt các khái niệm và việc sử dụng khả năng của các em có thế không chính xác và hiệu quả về mặt khoa học. Trong pha này có hai điều cần chú ý. Thứ nhất là: sự kích thích (the engagement) cần thiết không nhất định phải là tất cả nội dung bài học mà thường là chỉ cần làm nổi lên vấn đề liên quan và đánh giá kiến thức sần có của học sinh.
Nó có thể ngắn gọn như một câu hỏi hoặc một minh họa ngắn. Điểm chính là học sinh bối rối và suy nghĩ về nội dung liên quan đến kiến thức cần lình hội; Thứ hai là: giai đoạn này tạo cơ hội cho giáo viên có những đánh giá sơ bộ không chính thức những quan niệm sai lầm mà học sinh thể hiện ra, chú ý đây chỉ là những quan sát tự nhiên ban đầu cho giáo viên chứ không phải là đánh giá chuẩn đoán. Khám phá (Exploring): Trong pha này, học sinh được tham gia vào các hoạt động có thời gian và có cơ hội để giải quyết mâu thuần giữa cái đã biết và cái cần tìm hiểu. Học sinh được thực hành và khám phá để xây dựng kiến thức và hiểu biết.
Học sinh tiếp cận với các tài liệu, thực hiện thí nghiệm, quan sát và thu thập dữ liệu. Quá trình này khuyến khích học sinh tìm hiểu sâu hơn về chủ đề, đặt câu hỏi và xây dựng giả thuyết. Pha khám phá cung cấp những trải nghiệm thực tế, cụ thể mà ở đó học sinh thể hiện được ra quan điểm hiện tại và minh họa cho năng lực của mình khi cố gắng làm sáng tỏ các yếu tố khó hiểu của pha Kích thích (Engage). Các thí nghiệm khám phá nên được thiết kể để sau này có thể giới thiệu, mô tả các khái niệm, các yêu cầu kĩ năng cần đạt.
Học sinh cần có kinh nghiệm và cơ hội để hình thành các giải 11 thích, điều tra hiện tượng, quan sát các mô hình và phát triển các năng lực về tri thức cũng như về thế chất. Vai trò của giáo viên trong giai đoạn khám phá là khởi xướng hoạt động, mô tả bối cảnh phù hợp, cung cấp đầy đủ tài liệu và thiết bị cũng như hiệu chỉnh những quan niệm sai lầm. Sau đó giáo viên lùi lại và trở thành huấn luyện viên với nhiệm vụ lắng nghe, quan sát và hướng dẫn học sinh khi các em làm rõ hiểu biết và bắt đầu xây dựng lại các khái niệm khoa học cũng như phát triển các năng lực của bản thân. Giải thích (Explain): Sau khi học sinh đã khám phá và thu thập dữ liệu, pha giải thích giúp học sinh rút ra kết luận và hiểu rõ hơn về các khái niệm và quy luật liên quan đến chủ đề.
Sự giải thích khoa học là đặc điểm nổi bật của pha này. Giáo viên cung cấp thông tin bố sung, giải thích khái niệm và liên kết với những gì học sinh đã khám phá. Học sinh có thể thào luận và chia sẻ ý kiến để xây dựng hiểu biết chung. Các khái niệm, các nãng lực mà ban đầu học sinh được gợi mở sau đó được khám phá giờ đây đã trở nên rõ ràng và dề hiểu.
Giáo viên hướng sự chú ý của học sinh tới các khía cạnh chính cùa các giai đoạn trước và trước hết yêu cầu học sinh giải thích. Bằng cách giải thích và trải nghiệm của học sinh, giáo viên giới thiệu các khái niệm, tri thức cần đạt một cách ngắn gọn và rõ ràng, đặc biệt những kinh nghiệm, kiến thức vổn có trước đây nên được sử dụng làm bối cảnh cho những giải thích. Nhìn chung việc giải thích bàng lời nói được dùng chủ yếu trong pha này, tuy nhiên việc sử dụng các video, các trang web hay các phần mềm ứng dụng có thể sử dụng tạo ra sự giải thích tốt hơn nhiều so với việc chỉ dùng lời.