Dạy Học Khám Phá Hình Học Trực Quan Toán 7 theo Mô Hình 5E

Dạy học khám phá hình học trực quan lớp 7 theo mô hình 5E. Phát triển năng lực sử dụng công cụ, phương tiện học toán hiệu quả cho học sinh.

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn Thạc sĩ Sư phạm Toán học

2023

178
7
0

Phí lưu trữ

45 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CẢM ƠN

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

DANH MỤC HÌNH ẢNH

DANH MỤC BẢNG BIỂU

MỤC LỤC

LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI

LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU

MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU

NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU

KHÁCH THỂ VÀ ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU

Khách thê nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu

PHẠM VI NGHIÊN CỨU

NỘI DUNG NGHIÊN CỨU

PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Phương pháp nghiên cứu lý luân

Điều tra quan sát thực tiễn

Phương pháp thực nghiệm

CẤU TRÚC CỦA LUẬN VĂN

1. CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN cứu

1.1. Dạy học khám phá

1.1.1. Một số khái niệm

1.2. Các đặc trưng cùa dạy học khám phá

1.3. Các pha dạy học của mô hình 5E

1.4. Hoạt động của giáo viên và học sinh trong quá trình thực hiện mô hình 5E

1.5. Dạy học khám phá theo mô hình 5E

1.6. Dạy học phát triển năng lực

1.6.1. Khái niệm dạy học phát triền năng lực

1.6.2. Đặc điểm dạy học phát triển năng lực

1.6.3. Tô chức hoạt động dạy học theo hướng phát triên năng lực

1.7. Năng lực sử dụng công cụ, phương tiện học toán

1.7.1. Công cụ, phương tiện học toán

1.7.2. Năng lực sử dụng công cụ, phương tiện học toán

1.8. Đặc điêm nội dung chủ đê hình học trực quan trong mạch hình học và đo lường Toán 7

1.9. Điều tra dạy và học chủ đề hình học trực quan theo định hướng phát triển năng lực sử dụng công cụ, phương tiện học Toán

1.9.1. Mục đích điều tra

1.9.2. Đối tượng điều tra

1.9.3. Phương pháp điều tra

1.9.4. Kết quả điều tra thu được

1.10. Vai trò của dạy học khám phá theo mô hình 5E trong phát triên năng lực sử dụng công cụ, phương tiện học Toán cho học sinh

1.11. Sự phù hợp dạy học khám phá theo mô hình 5E chủ đề hình học trực quan toán 7 nhằm phát triển năng lực sử dụng công cụ, phưong tiện học Toán cho học sinh

1.12. KẾT LUẬN CHƯƠNG 1

2. CHƯƠNG 2: MỘT SỐ BIỆN PHÁP ĐẾ PHÁT TRIỂN NĂNG Lực sử DỤNG CÔNG CỤ PHƯƠNG TIỆN HỌC TOÁN CHO HỌC SINH TRONG DẠY HỌC KHÁM PHÁ CHỦ ĐỀ HÌNH HỌC TRựC QUAN TOÁN 7 THÔNG QUA MÔ HÌNH 5E

2.1. Biện pháp 1: Sử dụng linh hoạt một số mô hình có sẵn trong bộ đồ dùng hoặc một số mô hình tự tạo vào các pha dạy học theo mô hĩnh 5E

2.2. Biện pháp 2: Tăng cường khai thác và áp dụng công nghệ thông tin như một phương tiện dạy và học Toán

2.3. Biện pháp 3: Tăng cường thiết kế và sử dụng Rubric tương thích với các pha trong mô hình 5E, phù họp với lứa tuổi học sinh lóp 7

2.4. Áp dụng các biện pháp vào các hoạt động dạy học theo mô hình 5E

2.4.1. Nguyên tắc thiết kế hoạt động theo mô hình 5E

2.4.2. Tiến hành dạy học theo mô hình 5E

2.5. Tiêu chí đánh giá năng lực sử dụng CCPT ở môn toán 7

2.6. Tiêu chí đánh giá năng lực sử dụng CCPT cho học sinh trong dạy học khám phá chủ đề hình học trực quan toán 7 theo mô hình 5E

2.7. KẾT LUẬN CHƯƠNG 2

3. CHƯƠNG 3: THựC NGHIỆM SƯ PHẠM

3.1. Mục đích thực nghiệm

3.2. ĐỐĨ tượng và nội dung của thực nghiệm sư phạm

3.3. Phương pháp thực nghiệm

3.4. Kết quả thực nghiệm

3.4.1. Ket quả định lượng

3.4.2. Kết quả định tính

3.5. KẾT LUẬN CHƯƠNG 3

KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ

TÀI LIỆU THAM KHẢO

MỞ ĐẦU

Lý do chọn đề tài

Tóm tắt

I. Tổng Quan Dạy Hình Học Trực Quan Toán 7 Với Mô Hình 5E

Hình học trực quan là một phần quan trọng trong chương trình Toán 7 hình học. Nó không chỉ giúp học sinh làm quen với các hình khối trong toán 7 mà còn phát triển tư duy không gian. Tuy nhiên, việc dạy và học hình học trực quan 7 đôi khi gặp nhiều khó khăn. Mô hình 5E là một phương pháp sư phạm hiệu quả, có thể giúp khắc phục những thách thức này. Mô hình này bao gồm 5 giai đoạn: Kích thích (Engage), Khám phá (Explore), Giải thích (Explain), Mở rộng (Elaborate) và Đánh giá (Evaluate). Mô hình 5E tạo điều kiện cho học sinh tham gia tích cực vào quá trình học tập, khám phá kiến thức và áp dụng vào thực tế.

Theo Collin, “Inquiry teaching” hay “Inquiry-based learning”, dạy học khám phá là phương pháp dạy học lấy học sinh làm trung tâm mà ở đó khuyến khích học sinh đặt câu hỏi, khảo sát các vấn đề thực tế. [13, tr31 ]. Điều này rất quan trọng trong việc phát triển năng lực sử dụng công cụ, phương tiện học toán (CCPT) cho học sinh. Sự kết hợp giữa dạy học hình học trực quanmô hình dạy học 5E tạo ra một môi trường học tập lý tưởng, giúp học sinh không chỉ nắm vững kiến thức mà còn phát triển các kỹ năng cần thiết cho tương lai.

1.1. Vì Sao Hình Học Trực Quan Toán 7 Cần Tiếp Cận Mới

Chương trình Toán 7 hình học mới tập trung vào phát triển năng lực và phẩm chất của học sinh. Dạy học hình học trực quan truyền thống thường nặng về lý thuyết, ít chú trọng đến thực hành và ứng dụng. Điều này khiến học sinh khó tiếp thu kiến thức và không hứng thú với môn học. Theo Nguyễn Thị Minh Tâm trong luận văn thạc sĩ của mình, dạy học khám phá chủ đề hình học trực quan Toán 7 theo mô hình 5E nhằm phát triển năng lực sử dụng công cụ, phương tiện học toán cho học sinh.

1.2. Ưu Điểm Nổi Bật Của Mô Hình 5E Trong Dạy Toán 7

Mô hình 5E trong dạy học toán 7 có nhiều ưu điểm. Đầu tiên, nó tạo ra một môi trường học tập chủ động, nơi học sinh tự khám phá kiến thức. Thứ hai, nó giúp học sinh hiểu sâu sắc hơn về các khái niệm hình học trực quan, thông qua các hoạt động thực hành và ứng dụng. Thứ ba, nó phát triển các kỹ năng tư duy, giải quyết vấn đề và làm việc nhóm. Đặc biệt, mô hình này giúp học sinh phát triển năng lực sử dụng CCPT, một kỹ năng quan trọng trong thời đại công nghệ.

II. Thách Thức Dạy Hình Học Trực Quan Toán 7 Hiện Nay

Mặc dù có tầm quan trọng, việc dạy hình học trực quan Toán 7 vẫn đối mặt với nhiều thách thức. Một trong những thách thức lớn nhất là sự thiếu hụt về đồ dùng dạy học và trang thiết bị. Nhiều trường học không có đủ đồ dùng dạy học hình học lớp 7 để học sinh thực hành. Thêm vào đó, nhiều giáo viên chưa được đào tạo bài bản về phương pháp dạy học khám pháứng dụng mô hình 5E. Điều này dẫn đến việc áp dụng mô hình một cách hình thức, không đạt hiệu quả cao. Cuối cùng, việc đánh giá năng lực của học sinh trong hình học trực quan cũng là một vấn đề nan giải. Các bài kiểm tra truyền thống thường chỉ tập trung vào kiến thức lý thuyết, ít chú trọng đến khả năng vận dụng và giải quyết vấn đề.

2.1. Giáo Viên Thiếu Kinh Nghiệm Với Phương Pháp Dạy Học Mới

Nhiều giáo viên Toán 7 hình học vẫn quen với phương pháp dạy học truyền thống, ít chú trọng đến việc tạo ra môi trường học tập chủ động và khuyến khích học sinh tự khám phá. Theo kinh nghiệm giảng dạy của nhiều giáo viên, việc chuyển đổi sang phương pháp dạy học khám phá đòi hỏi sự thay đổi về tư duy và kỹ năng sư phạm. Tuy nhiên, không phải giáo viên nào cũng có đủ thời gian và nguồn lực để tự bồi dưỡng và nâng cao trình độ.

2.2. Học Sinh Thiếu Hứng Thú Với Các Bài Giảng Lý Thuyết

Hình học trực quan là một môn học đòi hỏi sự tư duy không gian và khả năng hình dung. Tuy nhiên, nhiều học sinh cảm thấy khó khăn khi tiếp thu các bài giảng lý thuyết, đặc biệt là khi không có đủ đồ dùng dạy học hình học lớp 7 để thực hành và trải nghiệm. Theo kết quả khảo sát của luận văn, nhiều học sinh cho rằng các bài giảng hình học trực quan thường khô khan và nhàm chán.

III. Cách Dạy Hình Học Trực Quan Toán 7 Bằng Mô Hình 5E

Mô hình 5E là một phương pháp sư phạm hiệu quả, có thể giúp khắc phục những thách thức trong việc dạy hình học trực quan Toán 7. Giai đoạn Kích thích (Engage) giúp thu hút sự chú ý của học sinh và tạo động lực học tập. Giai đoạn Khám phá (Explore) cho phép học sinh tự tìm hiểu kiến thức thông qua các hoạt động thực hành và trải nghiệm. Giai đoạn Giải thích (Explain) giúp học sinh hệ thống hóa kiến thức và hiểu sâu sắc hơn về các khái niệm hình học trực quan. Giai đoạn Mở rộng (Elaborate) khuyến khích học sinh áp dụng kiến thức vào thực tế và giải quyết các vấn đề. Giai đoạn Đánh giá (Evaluate) giúp đánh giá năng lực của học sinh một cách toàn diện.

3.1. Kích Thích Engage Tạo Hứng Thú Ban Đầu Cho Học Sinh

Trong giai đoạn Kích thích, giáo viên cần tạo ra một tình huống gợi mở, thu hút sự chú ý của học sinh và khơi gợi sự tò mò. Ví dụ, giáo viên có thể cho học sinh xem một đoạn video về các công trình kiến trúc nổi tiếng, sau đó đặt câu hỏi về các hình khối trong toán 7 được sử dụng trong các công trình này. Giáo viên cũng có thể sử dụng các trò chơi, câu đố hoặc các hoạt động tương tác để tạo hứng thú cho học sinh.

3.2. Khám Phá Explore Học Sinh Tự Tìm Hiểu Kiến Thức

Trong giai đoạn Khám phá, học sinh được tự do khám phá kiến thức thông qua các hoạt động thực hành và trải nghiệm. Giáo viên cần cung cấp cho học sinh đầy đủ tài liệu dạy hình học trực quanđồ dùng dạy học hình học lớp 7, đồng thời hướng dẫn học sinh cách sử dụng chúng. Ví dụ, học sinh có thể sử dụng các phần mềm hình học trực quan để vẽ các hình khối trong toán 7, tính toán diện tích và thể tích, hoặc xây dựng các mô hình 3D.

3.3. Giải Thích Explain Giáo Viên Hệ Thống Hóa Kiến Thức

Sau khi học sinh đã tự khám phá kiến thức, giáo viên cần hệ thống hóa kiến thức và giúp học sinh hiểu sâu sắc hơn về các khái niệm hình học trực quan. Giáo viên có thể sử dụng các phương pháp giảng dạy trực quan, như sơ đồ tư duy, biểu đồ hoặc mô hình 3D, để giúp học sinh dễ dàng tiếp thu kiến thức. Giáo viên cũng cần giải thích rõ ràng các khái niệm khó hiểu và trả lời các câu hỏi của học sinh.

IV. Ứng Dụng Thực Tiễn Mô Hình 5E Bài Giảng Toán 7 Hiệu Quả

Ứng dụng mô hình 5E trong dạy toán mang lại nhiều lợi ích thiết thực. Học sinh không chỉ nắm vững kiến thức lý thuyết mà còn phát triển các kỹ năng tư duy, giải quyết vấn đề và làm việc nhóm. Đặc biệt, mô hình này giúp học sinh phát triển năng lực sử dụng CCPT, một kỹ năng quan trọng trong thời đại công nghệ. Dưới đây là một ví dụ về cách ứng dụng mô hình 5E trong dạy hình học trực quan Toán 7

4.1. Ví Dụ Dạy Bài Hình Hộp Chữ Nhật Với Mô Hình 5E

Trong giai đoạn Kích thích, giáo viên có thể cho học sinh xem một hộp quà hình hộp chữ nhật và đặt câu hỏi về các đặc điểm của hộp quà này. Trong giai đoạn Khám phá, học sinh có thể sử dụng thước kẻ, bút chì và giấy để vẽ các hình hộp chữ nhật với các kích thước khác nhau. Trong giai đoạn Giải thích, giáo viên có thể giới thiệu công thức tính diện tích xung quanh và thể tích của hình hộp chữ nhật. Trong giai đoạn Mở rộng, học sinh có thể giải các bài tập vận dụng về hình hộp chữ nhật. Trong giai đoạn Đánh giá, giáo viên có thể cho học sinh làm bài kiểm tra hoặc thực hiện một dự án về hình hộp chữ nhật.

4.2. Tạo Giáo Án Hình Học Trực Quan Lớp 7 Với Mô Hình 5E

Giáo viên có thể tạo giáo án hình học trực quan lớp 7 dựa trên mô hình 5E để đảm bảo tính khoa học và hiệu quả. Giáo án cần xác định rõ mục tiêu, nội dung, phương pháp và hình thức tổ chức dạy học cho từng giai đoạn của mô hình. Giáo án cũng cần dự kiến các hoạt động của giáo viên và học sinh, cũng như các phương tiện và đồ dùng dạy học hình học lớp 7 cần thiết.

V. Kết Quả Nghiên Cứu Hiệu Quả Của Mô Hình 5E Trong Toán 7

Nghiên cứu của Nguyễn Thị Minh Tâm đã chứng minh hiệu quả của mô hình 5E trong dạy học khám phá chủ đề hình học trực quan Toán 7. Kết quả cho thấy rằng học sinh được học theo mô hình 5E có khả năng nắm vững kiến thức tốt hơn, phát triển các kỹ năng tư duy và giải quyết vấn đề tốt hơn, và có thái độ tích cực hơn đối với môn học. Đặc biệt, học sinh được học theo mô hình 5E có năng lực sử dụng CCPT cao hơn so với học sinh được học theo phương pháp truyền thống.

5.1. So Sánh Kết Quả Học Tập Giữa Hai Nhóm Học Sinh

Nghiên cứu so sánh kết quả học tập giữa nhóm học sinh được học theo mô hình 5E và nhóm học sinh được học theo phương pháp truyền thống. Kết quả cho thấy rằng nhóm học sinh được học theo mô hình 5E có điểm trung bình cao hơn, tỷ lệ học sinh đạt điểm khá giỏi cao hơn và tỷ lệ học sinh yếu kém thấp hơn so với nhóm học sinh được học theo phương pháp truyền thống.

5.2. Đánh Giá Khả Năng Vận Dụng Kiến Thức Vào Thực Tế

Nghiên cứu cũng đánh giá khả năng vận dụng kiến thức vào thực tế của học sinh thông qua các bài tập thực hành và các dự án. Kết quả cho thấy rằng học sinh được học theo mô hình 5E có khả năng vận dụng kiến thức vào thực tế tốt hơn so với học sinh được học theo phương pháp truyền thống. Học sinh có thể giải quyết các vấn đề thực tế liên quan đến hình học trực quan một cách sáng tạo và hiệu quả.

VI. Kết Luận Tương Lai Phát Triển Hình Học Trực Quan 7

Tóm lại, mô hình 5E là một phương pháp sư phạm hiệu quả, có thể giúp nâng cao chất lượng dạy và học hình học trực quan Toán 7. Để phát huy tối đa hiệu quả của mô hình này, cần có sự đầu tư về đồ dùng dạy học hình học lớp 7, sự bồi dưỡng về phương pháp dạy học cho giáo viên và sự đổi mới về phương pháp đánh giá. Trong tương lai, cần tiếp tục nghiên cứu và phát triển các tài liệu dạy hình học trực quan và các phần mềm hình học trực quan để hỗ trợ giáo viên và học sinh trong quá trình dạy và học.

6.1. Đề Xuất Giải Pháp Để Nâng Cao Chất Lượng Dạy Học

Để nâng cao chất lượng dạy học hình học trực quan Toán 7, cần thực hiện đồng bộ các giải pháp sau: Đầu tư về đồ dùng dạy học hình học lớp 7, bao gồm các mô hình 3D, các phần mềm hình học trực quan và các công cụ đo đạc. Bồi dưỡng về phương pháp dạy học khám pháứng dụng mô hình 5E cho giáo viên. Đổi mới về phương pháp đánh giá, chú trọng đến khả năng vận dụng kiến thức vào thực tế và khả năng giải quyết vấn đề của học sinh. Khuyến khích học sinh tham gia vào các hoạt động ngoại khóa liên quan đến hình học trực quan, như các cuộc thi vẽ hình, xây dựng mô hình hoặc thiết kế các công trình kiến trúc.

6.2. Tầm Quan Trọng Của Việc Ứng Dụng Công Nghệ Trong Dạy Toán

Công nghệ đóng vai trò ngày càng quan trọng trong giáo dục, đặc biệt là trong dạy hình học trực quan. Các phần mềm hình học trực quan và các công cụ mô phỏng 3D giúp học sinh dễ dàng hình dung và khám phá các hình khối trong toán 7. Giáo viên cần khai thác tối đa tiềm năng của công nghệ để tạo ra các bài giảng sinh động và hấp dẫn, đồng thời giúp học sinh phát triển năng lực sử dụng CCPT.

11/09/2025
Dạy học khám phá chủ đề hình học trực quan toán 7 theo mô hình 5e nhằm phát triển năng lực sử dụng công cụ phương tiện học toán cho học sinh

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1: Cơ SỞ LÝ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN cúu 1. Dạy học khám phá 1. Một số khái niệm Theo Collin, “Inquiry teaching” hay “Inquiry-based learning”, dạy học khám phá là phương pháp dạy học lấy học sinh làm trung tâm mà ở đó khuyến khích học sinh đặt câu hởi, khảo sát các vấn đề thực tế. Trong môi trường học tập này, học sinh tích cực tham gia vào quá trình học tập và được cho cơ hội khám phá những tò mò tự nhiên của bản thân.

[13, tr31 ] Dạy học khám phá là một phương pháp giảng dạy tập trung vào việc khuyến khích học sinh tìm hiểu, khám phá và giải quyết vấn đề thông qua quá trình tự học. Thay vì chỉ truyền đạt kiến thức một cách trực tiếp, phương pháp này đặt học sinh vào trung tâm của quá trình học tập, khuyến khích học sinh tự tìm hiểu thông qua việc đặt câu hỏi, thực hành thử nghiệm, nghiên cứu, và tìm hiểu thực tế. Dạy học khám phá đề cao việc phát triển các năng lực và kỹ năng, tư duy logic, tư duy sáng tạo, giải quyết vấn đề, khám phá và làm việc nhóm. Học sinh không chỉ thu thập thông tin một cách cơ học, mà còn phải xác định vấn đề, nghiên cửu, phân tích và rút ra kết luận dựa trên những phát hiện của chính mình.

[161 Phương pháp dạy học khám phá khuyến khích sự tò mò và sự tự phát triến của học sinh. Nó giúp học sinh trở thành người học chủ động, có khả năng tự học suốt đời và áp dụng kiến thức vào thực tế. Bên cạnh đó, dạy học khám phá còn giúp học sinh phát triền các kỹ năng xã hội, như giao tiếp, làm việc nhóm và giải quyết vấn đề khi tranh biện. Trong dạy học khám phá, học sinh chiếm lĩnh tri thức thông qua con đường nhận thức: từ vốn tri thức đã có của bản thân thông qua hoạt động trao đổi, chia sẻ, hợp tác với các bạn đã hình thành tri thức có tính chất xã hội của 8 cộng đông lớp học, giáo viên nhận xét, chôt lại tri thức làm cơ sở cho học sinh tự kiểm tra, tự điều chỉnh tri thức của bản thân góp phần làm tăng cường tính mềm dẻo và linh hoạt trong tư dưy và tự học, khiến cho hoạt động khám phá tri thức mới trở thành quá trình nhận thức độc đáo riêng có của mỗi người học.

Đầu tiên, các nhà nghiên cứu đưa ra phương pháp dạy học khám phá như là một kiểu dạy học đặc thù cho các môn khoa học, trong đó được hiểu rằng, học sinh học tập thông qua sử dụng các kĩ năng và thái độ như các nhà khoa học khi nghiên cứu khoa học. Trong quá trình hình thành và phát triển, với việc ngày càng chú trọng tới phát triển năng lực người học, giúp người học không chỉ có thể chiếm lĩnh được các kiến thức mà còn có được năng lực phát hiện và giải quyết vấn đề, năng lực sử dụng CCPT học tập, năng lực ngôn ngữ, năng lực tính toán, tư duy phê phán và phản biện, kĩ năng lãnh đạo, kĩ năng đưa ra quyết định, dạy học khám phá ngày càng được mớ rộng và phát triển. Phương pháp dạy học khám phá có thể được áp dụng trong nhiều lĩnh vực và môn học khác nhau, từ khoa học, toán học, ngôn ngừ, đến nghệ thuật và xã hội, với nhiều cấp học khác nhau. Các đặc trưng của dạy học khám phá Sự tò mò và đặt câu hỏi: Dạy học khám phá khuyến khích học sinh đặt câu hởi và tìm hiểu thông qua sự tò mò tự nhiên.

Học sinh được khuyến khích tìm hiểu vấn đề, đặt câu hỏi và điều tra đế tìm câu trả lời. Tự khám phá và thí nghiệm: Dạy học khám phá tạo điều kiện cho học sinh thực hiện các hoạt động thí nghiệm và tìm hiểu bằng cách trực tiếp thực hành và trải nghiệm. Học sinh có cơ hội khám phá và tìm hiểu thông qua việc thử nghiệm, quan sát và ghi nhận kết quả. Học tập hướng dần và học tập họp tác: Dạy học khám phá khuyến khích học sinh học tập dưới sự hướng dẫn cũa giáo viên, nhung cũng khuyến 9 khích học sinh làm việc nhóm và hợp tác với nhau.

Học sinh có thê chia sẻ ý kiến, thào luận và giải quyết vấn đề cùng nhau. Tự chủ và giám sát: học sinh có sự tự chủ trong việc lựa chọn và tổ chức quá trình học tập của mình. Giáo viên đóng vai trò người hướng dẫn và giám sát, giúp học sinh xác định mục tiêu, cung cấp hướng dẫn và phản hồi. Phân tích và suy luận: Dạy học khám phá khuyến khích học sinh phân tích thông tin, suy luận và rút ra kết luận dựa trên những gì học sinh đã khám phá và tìm hiểu.

Học sinh được khuyến khích suy nghĩ sâu và phát triển tư duy logic. Áp dụng kiến thức vào thực tế: Dạy học khám phá khuyến khích học sinh áp dụng kiến thức và kỹ năng của mình vào thực tế. Học sinh có cơ hội tìm hiểu cách sử dụng kiến thức để giải quyết vấn đề và gặt hái thành công trong các tình huống thực tế. Dạy học khám phá đặt học sinh vào trung tâm của quá trình học tập, khuyến khích học sinh sử dụng CCPT tốt hơn.

Mô hình 5E Mô hình 5E là một mô hình dạy học được thiết kế để khuyến khích việc tham gia tích cực và khám phá của học sinh. Mô hình này bao gồm năm pha chính: Kích thích, Khám phá, Giải thích , Mở rộng và Đánh giá. Theo Bybee, mồi pha trong quy trình 5 pha của mô hình 5E được hướng dẫn cụ thể như sau [15] 1. Các pha dạy học của mô hình 5E Kích thích (Engage): Mục tiêu trong giai đoạn này là nhằm thu hút sự chú ý và quan tâm của học sinh với chủ đề bài học.

Ớ trong pha này đồng thời gợi mở sự tò mò và khám phá của học sinh đối với chủ đề học. Hướng học sinh tập trung vào một tình huống, sự kiện, một thực hành minh họa, một vấn đề chứa đựng nội dung và năng lực đề cập tới của bài học là mục tiêu chính của pha này. Từ quan điểm dạy học, giáo viên tạo ra một tình huống khởi đầu 10 hấp dẫn, sử dụng câu hòi, hình ảnh, câu chuyện hoặc một tình huống thực tế để kích thích học sinh nắm bắt vấn đề và đặt câu hỏi. Mục tiêu là kích thích sự tò mò và chuẩn bị cho quá trình khám phá.

Nếu học sinh tở ra bối rối và tự xuất hiện câu hỏi “Điều đó xảy ra như thế nào”; “Em thật thắc mắc về điều đó”; “Em muốn biết thêm về điều đó” thì có nghĩa là học sinh đã thực sự tham gia thích thú vào tình huống học tập. Học sinh nảy ra một ý tưởng nhưng việc diễn đạt các khái niệm và việc sử dụng khả năng của các em có thế không chính xác và hiệu quả về mặt khoa học. Trong pha này có hai điều cần chú ý. Thứ nhất là: sự kích thích (the engagement) cần thiết không nhất định phải là tất cả nội dung bài học mà thường là chỉ cần làm nổi lên vấn đề liên quan và đánh giá kiến thức sần có của học sinh.

Nó có thể ngắn gọn như một câu hỏi hoặc một minh họa ngắn. Điểm chính là học sinh bối rối và suy nghĩ về nội dung liên quan đến kiến thức cần lình hội; Thứ hai là: giai đoạn này tạo cơ hội cho giáo viên có những đánh giá sơ bộ không chính thức những quan niệm sai lầm mà học sinh thể hiện ra, chú ý đây chỉ là những quan sát tự nhiên ban đầu cho giáo viên chứ không phải là đánh giá chuẩn đoán. Khám phá (Exploring): Trong pha này, học sinh được tham gia vào các hoạt động có thời gian và có cơ hội để giải quyết mâu thuần giữa cái đã biết và cái cần tìm hiểu. Học sinh được thực hành và khám phá để xây dựng kiến thức và hiểu biết.

Học sinh tiếp cận với các tài liệu, thực hiện thí nghiệm, quan sát và thu thập dữ liệu. Quá trình này khuyến khích học sinh tìm hiểu sâu hơn về chủ đề, đặt câu hỏi và xây dựng giả thuyết. Pha khám phá cung cấp những trải nghiệm thực tế, cụ thể mà ở đó học sinh thể hiện được ra quan điểm hiện tại và minh họa cho năng lực của mình khi cố gắng làm sáng tỏ các yếu tố khó hiểu của pha Kích thích (Engage). Các thí nghiệm khám phá nên được thiết kể để sau này có thể giới thiệu, mô tả các khái niệm, các yêu cầu kĩ năng cần đạt.

Học sinh cần có kinh nghiệm và cơ hội để hình thành các giải 11 thích, điều tra hiện tượng, quan sát các mô hình và phát triển các năng lực về tri thức cũng như về thế chất. Vai trò của giáo viên trong giai đoạn khám phá là khởi xướng hoạt động, mô tả bối cảnh phù hợp, cung cấp đầy đủ tài liệu và thiết bị cũng như hiệu chỉnh những quan niệm sai lầm. Sau đó giáo viên lùi lại và trở thành huấn luyện viên với nhiệm vụ lắng nghe, quan sát và hướng dẫn học sinh khi các em làm rõ hiểu biết và bắt đầu xây dựng lại các khái niệm khoa học cũng như phát triển các năng lực của bản thân. Giải thích (Explain): Sau khi học sinh đã khám phá và thu thập dữ liệu, pha giải thích giúp học sinh rút ra kết luận và hiểu rõ hơn về các khái niệm và quy luật liên quan đến chủ đề.

Sự giải thích khoa học là đặc điểm nổi bật của pha này. Giáo viên cung cấp thông tin bố sung, giải thích khái niệm và liên kết với những gì học sinh đã khám phá. Học sinh có thể thào luận và chia sẻ ý kiến để xây dựng hiểu biết chung. Các khái niệm, các nãng lực mà ban đầu học sinh được gợi mở sau đó được khám phá giờ đây đã trở nên rõ ràng và dề hiểu.

Giáo viên hướng sự chú ý của học sinh tới các khía cạnh chính cùa các giai đoạn trước và trước hết yêu cầu học sinh giải thích. Bằng cách giải thích và trải nghiệm của học sinh, giáo viên giới thiệu các khái niệm, tri thức cần đạt một cách ngắn gọn và rõ ràng, đặc biệt những kinh nghiệm, kiến thức vổn có trước đây nên được sử dụng làm bối cảnh cho những giải thích. Nhìn chung việc giải thích bàng lời nói được dùng chủ yếu trong pha này, tuy nhiên việc sử dụng các video, các trang web hay các phần mềm ứng dụng có thể sử dụng tạo ra sự giải thích tốt hơn nhiều so với việc chỉ dùng lời.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ