Tổng quan nghiên cứu

Thực trạng dạy học Ngữ văn tại các trường trung học phổ thông trong giai đoạn đổi mới cho thấy hơn 65% học sinh cảm thấy giờ đọc hiểu tác phẩm văn xuôi còn nặng tính thụ động, và chỉ khoảng 20% học sinh có khả năng tự giải mã văn bản dựa trên thi pháp thể loại. Phần lớn các tiết dạy vẫn sa vào lối phân tích xã hội học dung tục, biến tác phẩm nghệ thuật thành các bài giảng đạo đức khô khan hoặc sơ đồ minh họa lịch sử cằn cỗi. Đề tài luận văn thạc sĩ chuyên ngành Lý luận và phương pháp dạy học bộ môn Ngữ văn (mã số: 601410) của tác giả Nguyễn Văn Tuấn, dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS. Nguyễn Viết Chữ tại Trường Đại học Giáo dục – Đại học Quốc gia Hà Nội, đã tập trung giải quyết triệt để rào cản phương pháp này.

Mục tiêu nghiên cứu trọng tâm của đề tài là vận dụng có hệ thống thành tựu của thi pháp học hiện đại để thiết kế tiến trình dạy học đoạn trích "Hạnh phúc của một tang gia" (thuộc chương XV tiểu thuyết "Số đỏ") trong chương trình Ngữ văn 11 ban cơ bản. Về phạm vi, công trình tập trung khảo sát thực tiễn dạy học tại các trường trung học phổ thông trên địa bàn Hà Nội trong năm học 2009-2010, đồng thời phân tích cấu trúc nghệ thuật 129 trang của toàn bộ luận văn để đúc kết thành các biện pháp sư phạm khả thi.

Nghiên cứu có ý nghĩa thực tiễn to lớn khi hiện thực hóa yêu cầu đổi mới căn bản phương pháp giáo dục theo Khoản 2 Điều 4 Luật Giáo dục năm 1998 và định hướng phát triển giáo dục của Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX. Bằng cách lấy hình thức nghệ thuật làm điểm tựa tiếp cận nội dung tư tưởng, luận văn hướng tới mục tiêu nâng tỷ lệ học sinh đạt chuẩn cảm thụ thẩm mỹ độc lập lên trên 80%, đồng thời cắt giảm hơn 50% tình trạng học vẹt và sao chép văn mẫu trong các kỳ kiểm tra định kỳ.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng trên nền tảng vững chắc của hệ thống lý thuyết văn học hiện đại, bao gồm:

  • Lý thuyết Thi pháp học hiện đại do GS. Trần Đình Sử kế thừa và phát triển từ các công trình kinh điển của M. Bakhtin, R. Jakobson và V. Vinogradov. Thi pháp học hiện đại coi tác phẩm văn chương là một chỉnh thể nghệ thuật toàn vẹn, trong đó "hình thức mang tính nội dung" và mọi tư tưởng đều phải được giải mã từ cấu trúc văn bản.
  • Lý thuyết tiếp nhận văn học của GS. Phan Trọng Luận, nhấn mạnh vai trò chủ động sáng tạo của người đọc trong việc đồng sáng tạo và tìm kiếm nghĩa của văn bản.
  • Lý thuyết thể loại tiểu thuyết và phương pháp dạy học tác phẩm văn chương của PGS.TS. Nguyễn Viết Chữ, xác định tiểu thuyết là bức tranh đa thanh, rộng lớn về đời sống với cấu trúc cốt truyện, nhân vật và điểm nhìn trần thuật phức hợp.

Các khái niệm cốt lõi được vận dụng xuyên suốt gồm: thi pháp tác giả, kết cấu không gian vĩ mô, tình huống trào phúng nghịch dị, chân dung hí họa và ngôn ngữ giễu nhại. Về mặt văn học sử, nhà văn Vũ Trọng Phụng chỉ với 27 năm tuổi đời (1912-1939) và khoảng 8 năm cầm bút ngắn ngủi đã để lại một gia tài đồ sộ gồm 9 tiểu thuyết, 6 phóng sự, 23 truyện ngắn và 5 vở kịch. Riêng năm 1936, ông tạo ra bước ngoặt chấn động với bộ ba kiệt tác "Giông tố", "Số đỏ" và "Cơm thầy cơm cô", khẳng định vị thế đỉnh cao của nghệ thuật trào phúng tả chân xã hội.

Phương pháp nghiên cứu

Nguồn dữ liệu của luận văn được thu thập từ văn bản chương XV tiểu thuyết "Số đỏ" trong sách giáo khoa Ngữ văn 11 ban cơ bản, hệ thống hơn 40 công trình nghiên cứu chuyên sâu về Vũ Trọng Phụng của các học giả tên tuổi như GS. Nguyễn Đăng Mạnh, nhà văn Nguyễn Khải, cùng hệ thống phiếu khảo sát thực trạng giáo viên và học sinh.

Nghiên cứu áp dụng phương pháp chọn mẫu phân tầng ngẫu nhiên với cỡ mẫu khảo sát thực nghiệm gồm 84 học sinh lớp 11 (chia đều thành lớp thực nghiệm 42 học sinh và lớp đối chứng 42 học sinh) có học lực tương đương tại trường trung học phổ thông. Luận văn kết hợp 3 nhóm phương pháp phân tích chính:

  • Phương pháp nghiên cứu lý luận: Phân tích, tổng hợp và hệ thống hóa các luận điểm thi pháp học nhằm xác lập khung quy trình dạy học tác phẩm tự sự trào phúng.
  • Phương pháp khảo sát thực tế: Sử dụng bảng hỏi và dự giờ để đánh giá chính xác những bất cập trong nhận thức và thao tác giảng dạy của giáo viên phổ thông.
  • Phương pháp thực nghiệm sư phạm: Tổ chức dạy học đối chứng định lượng trong timeline 6 tháng để đo lường tính khả thi của hệ thống giáo án mới. Lý do lựa chọn tổ hợp phương pháp này là nhằm đảm bảo tính khách quan khoa học, lượng hóa được sự tiến bộ về năng lực tiếp nhận thẩm mỹ của người học.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Quá trình nghiên cứu và thực nghiệm sư phạm đã mang lại những kết quả mang tính đột phá về hiệu quả dạy học văn bản "Hạnh phúc của một tang gia":

  • Nâng cao vượt bậc kết quả học tập định lượng: Bài kiểm tra đánh giá năng lực sau tiết dạy thực nghiệm ghi nhận lớp thực nghiệm đạt tỷ lệ điểm khá - giỏi (từ 7.0 điểm trở lên) là 78.6%, trong khi lớp đối chứng dạy theo phương pháp truyền thống chỉ đạt 50.0% (mức chênh lệch tích cực đạt 28.6%). Tỷ lệ điểm trung bình và yếu ở lớp thực nghiệm giảm mạnh xuống còn 21.4%, so với 50.0% của lớp đối chứng.
  • Phát triển năng lực giải mã các cấu trúc trào phúng đặc thù: Có 85.7% học sinh lớp thực nghiệm phân tích sâu sắc được ý nghĩa tương phản nghịch dị trong nhan đề chương XV và phát hiện trọn vẹn 6 màn kịch hí họa (như cụ cố Hồng nhắm nghiền mắt mơ màng, vợ chồng Văn Minh sốt ruột chia gia tài, Tuyết mặc bộ y phục Ngây thơ, cậu Tú Tân bấm máy ảnh liên tục). Ở lớp đối chứng, chỉ có 42.8% học sinh nhận biết được các tầng nghĩa này, phần còn lại dừng lại ở việc tóm tắt nội dung cốt truyện thuần túy.
  • Khả năng thụ cảm ngôn ngữ nghệ thuật tăng rõ rệt: Tỷ lệ học sinh giải mã thành công các phát ngôn vô nghĩa lý (như câu nói bất hủ "Biết rồi, khổ lắm, nói mãi!") và kỹ thuật giễu nhại đa thanh tăng thêm 42.9% so với phương pháp cũ.
  • Gia tăng chỉ số hứng thú học tập: Khảo sát thái độ học tập ghi nhận mức độ hào hứng phát biểu xây dựng bài ở nhóm thực nghiệm đạt 88.1%, tăng 50.1% so với mức 38.0% trước khi can thiệp phương pháp thi pháp học.

Thảo luận kết quả

Sự vượt trội của nhóm thực nghiệm bắt nguồn từ việc thay đổi căn bản quy trình tiếp cận tác phẩm. Thay vì áp đặt học sinh ghi nhớ những nhận định xã hội học có sẵn, giáo viên đã hướng dẫn các em xuất phát từ hình thức nghệ thuật để khám phá nội dung tư tưởng. Việc giải mã các tín hiệu thẩm mỹ như không gian đám ma biến thành hội chợ, thời gian trì hoãn tâm lý và góc máy điện ảnh chuyển cảnh linh hoạt đã biến giờ học thành một quá trình khám phá đầy kích thích trí tuệ.

So sánh với các nghiên cứu phương pháp truyền thống trước năm 2000, hướng tiếp cận thi pháp học đã giải quyết triệt để tình trạng "thầy đọc - trò chép" từng bị chỉ trích trong nhiều thập kỷ. Dữ liệu thực nghiệm của luận văn có thể được trình bày trực quan thông qua bảng so sánh kết quả học lực giữa hai lớp và biểu đồ cột kép thể hiện mức độ tiến bộ vượt bậc ở 5 tiêu chí năng lực: nhận diện tình huống, phân tích nhân vật hí họa, giải mã ngôn từ nghệ thuật, đánh giá điểm nhìn trần thuật và liên hệ thực tiễn đời sống. Cách tiếp cận này khẳng định tính đúng đắn của quan điểm tiếp cận đồng bộ trong dạy học Ngữ văn.

Đề xuất và khuyến nghị

Dựa trên kết luận thực nghiệm, luận văn đưa ra 4 giải pháp hành động cụ thể nhằm nâng cao chất lượng dạy học tác phẩm văn chương theo hướng tiếp cận thi pháp tác giả:

  • Thiết kế tiến trình dạy học 4 bước theo hướng đọc sáng tạo và giải mã thi pháp: Giáo viên Ngữ văn tại các trường trung học phổ thông cần cấu trúc lại giáo án 2 tiết của đoạn trích, chuyển từ giảng giải thụ động sang tổ chức cho học sinh tự tìm tòi đặc sắc nghệ thuật (nhan đề, tình huống, chân dung hí họa, ngôn ngữ trào phúng). Mục tiêu: 100% học sinh tự lập được sơ đồ giải mã nghệ thuật trào phúng trong học kỳ I năm học.
  • Tích hợp phương tiện trực quan và hoạt động liên môn nghệ thuật: Ban giám hiệu và tổ chuyên môn cần khuyến khích giáo viên kết hợp nghệ thuật điện ảnh (sử dụng các trích đoạn phim "Số đỏ" sản xuất năm 1989) và hội họa hí họa báo chí thập niên 1930 vào bài giảng. Mục tiêu: Đạt tỷ lệ tối thiểu 70% tiết dạy có ứng dụng tư liệu nghe nhìn tương tác trong vòng 3 tháng đầu triển khai.
  • Đổi mới công cụ kiểm tra đánh giá theo định hướng phát triển năng lực: Tổ chuyên môn các nhà trường cần tái cấu trúc ngân hàng đề thi định kỳ, thay thế ít nhất 40% câu hỏi tái hiện kiến thức bằng các câu hỏi mở đánh giá kỹ năng phân tích điểm nhìn trần thuật và giọng điệu nghệ thuật của tác giả. Timeline thực hiện: Hoàn thành cập nhật ngân hàng đề trong quý II của năm học.
  • Tổ chức tập huấn chuyên sâu về thi pháp học ứng dụng: Sở Giáo dục và Đào tạo phối hợp cùng các trường đại học sư phạm tổ chức tối thiểu 2 khóa bồi dưỡng chuyên đề mỗi năm cho 100% giáo viên Ngữ văn cốt cán, tập trung vào kỹ năng vận dụng thi pháp thể loại tiểu thuyết và truyện ngắn vào bài giảng thực tế.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Công trình nghiên cứu này là tài liệu học thuật và cẩm nang thực hành có giá trị ứng dụng cao cho 4 nhóm đối tượng chính:

  • Giáo viên Ngữ văn cấp trung học phổ thông: Khai thác trực tiếp hệ thống giáo án thực nghiệm 22 trang tại Chương III với cấu trúc bảng biểu khoa học, hệ thống câu hỏi gợi mở giàu tính tương tác và phương pháp đọc sáng tạo chuẩn mực để áp dụng cho bài "Hạnh phúc của một tang gia" lớp 11.
  • Học viên cao học và sinh viên ngành Sư phạm Ngữ văn: Tham khảo khung phương pháp luận kết hợp giữa lý thuyết thi pháp học hiện đại và thực hành sư phạm ứng dụng, làm khuôn mẫu chuẩn mực cho việc hoàn thành khóa luận, luận văn thạc sĩ chuyên ngành phương pháp dạy học.
  • Cán bộ quản lý chuyên môn tại các trường phổ thông và Sở Giáo dục và Đào tạo: Sử dụng các số liệu thực nghiệm định lượng và giải pháp đổi mới trong luận văn làm căn cứ khoa học để xây dựng kế hoạch bồi dưỡng giáo viên, chỉ đạo đổi mới phương pháp kiểm tra đánh giá môn Ngữ văn cấp cụm trường.
  • Nhà nghiên cứu văn học và độc giả yêu mến Vũ Trọng Phụng: Khai thác góc nhìn thi pháp học hệ thống về 9 tiểu thuyết cùng những phân tích sắc sảo về thế giới nhân vật, nghệ thuật phóng sự - kịch trường trong kiệt tác "Số đỏ" để phục vụ các công trình phê bình chuyên khảo.

Câu hỏi thường gặp

  • Tiếp cận thi pháp học có làm cho giờ học Ngữ văn lớp 11 trở nên quá tải và trừu tượng không? Hoàn toàn không. Thi pháp học trong nhà trường phổ thông không đi sâu vào lý thuyết hàn lâm mà tập trung vào các tín hiệu nghệ thuật trực quan trên văn bản như nhan đề, lời thoại và cử chỉ nhân vật. Cách tiếp cận này giúp học sinh hào hứng hơn khi tự tay giải mã văn bản trong 45 phút của tiết học mà không bị quá tải.
  • Luận văn đã lựa chọn những phương diện thi pháp đặc thù nào của tiểu thuyết "Số đỏ" để đưa vào bài dạy? Tác giả tập trung vào 4 phương diện nghệ thuật xuất sắc nhất: nghệ thuật xây dựng nhan đề tương phản, kết cấu tình huống trào phúng nghịch dị, thủ pháp khắc họa chân dung hí họa qua 3 nhóm nhân vật điển hình và ngôn ngữ giễu nhại đa thanh đặc trưng của Vũ Trọng Phụng.
  • Việc tích hợp điện ảnh và hội họa vào dạy học đoạn trích được tiến hành ra sao để tránh lạm dụng? Luận văn khuyến nghị chỉ sử dụng các đoạn clip ngắn từ 10 đến 15 phút từ phim "Số đỏ" năm 1989 hoặc tranh biếm họa báo chí nhằm mục đích trực quan hóa không gian đám tang, làm điểm tựa để học sinh đối chiếu với ngôn ngữ văn bản chữ viết, tuyệt đối không biến giờ văn thành giờ chiếu phim.
  • Cơ sở nào chứng minh tính khả thi và độ tin cậy của mô hình dạy học này? Tính tin cậy được xác lập qua quy trình thực nghiệm sư phạm chặt chẽ trên 84 học sinh lớp 11 với bài kiểm tra định lượng rõ ràng. Tỷ lệ điểm khá giỏi ở lớp thực nghiệm đạt 78.6%, cao hơn lớp đối chứng 28.6%, chứng minh tính hiệu quả vượt trội của mô hình can thiệp.
  • Mô hình dạy học từ thi pháp tác giả này có thể mở rộng cho các tác phẩm khác không? Phương pháp này hoàn toàn có thể nhân rộng cho toàn bộ các tác phẩm văn xuôi hiện thực giai đoạn 1930-1945 trong chương trình phổ thông, tiêu biểu như truyện ngắn của Nam Cao, Nguyễn Công Hoan, hay tiểu thuyết của Ngô Tất Tố, thông qua việc bám sát đặc trưng thi pháp riêng biệt của từng tác giả.

Kết luận

  • Luận văn 129 trang đã giải quyết thành công vấn đề khủng hoảng phương pháp dạy học tác phẩm văn chương bằng việc ứng dụng khoa học thi pháp học hiện đại vào nhà trường phổ thông.
  • Hệ thống hóa toàn diện các đặc trưng thi pháp của Vũ Trọng Phụng trong 9 tiểu thuyết, làm sáng tỏ giá trị trào phúng đỉnh cao của tác phẩm "Số đỏ" xuất bản năm 1936.
  • Thiết lập quy trình dạy học 4 bước chuẩn mực từ hình thức nghệ thuật đến nội dung tư tưởng, giúp nâng tỷ lệ điểm khá giỏi của học sinh lên 78.6% và tăng mức độ hứng thú học tập lên 88.1%.
  • Đóng góp hệ thống giáo án thể nghiệm 22 trang tại Chương III với tính thực tiễn cao, có thể chuyển giao ngay cho hơn 2.500 trường trung học phổ thông trên toàn quốc.
  • Khẳng định giá trị nhân văn và tinh thần phản biện xã hội sâu sắc của văn nghiệp Vũ Trọng Phụng trong tiến trình hiện đại hóa văn học dân tộc.

Kế hoạch hành động tiếp theo cần tập trung nhân rộng mô hình thực nghiệm này tới các tổ bộ môn Ngữ văn trong vòng 12 tháng tới. Các thầy cô giáo và nhà nghiên cứu hãy áp dụng ngay quy trình tiếp cận thi pháp học vào tiết dạy "Hạnh phúc của một tang gia" để khơi dậy niềm đam mê văn chương đích thực và phát triển tư duy thẩm mỹ độc lập cho thế hệ học sinh hôm nay.