Chương 1: Cơ sở lí luận dạy học chủ đề Thực vật và động vật, Con người và sức khỏe trong môn Tự nhiên và Xã hội lớp Ba theo phương pháp dạy học dựa trên dự án (31 trang) - Chương 2: Thực trạng dạy học chủ để Thực vật và động vật, Con người và sức khỏe trong môn Tự nhiên và Xã hội lớp Ba theo phương pháp dạy học dựa trên dự án ở các trường Tiêu học Quận 5, TPHCM (22 trang). - Chương 3: Xây dựng quy trình dạy học chủ đề Thực vật vả động vật, Con người và sức khỏe trong môn Tự nhiên và Xã hội lớp Ba theo phương pháp dạy học dựa trên dự án (30 trang). CƠ SỞ LÍ LUẬN DẠY HỌC CHỦ ĐÈ THỰC VẶT VÀ ĐỌNG VAT, CON NGUOI VA SUC KHỎE TRONG MÔN TỰ NHIÊN VÀ XÃ HỘI LỚP BA THEO PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC DỰA TRÊN DỰ ÁN 1. Lịch sử nghiên cứu vấn đề 1.
Trên thế giới 1. Dạy học dựa trên dự ám Ý tưởng về một dự án học tập không phải là mới trong giáo dục. Kilpatrick là người đầu tiên mang lại cho dự án học tập một vị trí trong phong trào. giáo dục tiến bộ ững năm 1900, Tuy nhiên, lí thuyế John Dewey đã đặt nền móng để phát triển các dự án học tập trong trường học.
Ý tưởng vẻ giáo dục tiễn bộ bắt nguồn từ lí thuyết Chủ nghĩa thực dụng cho rằng: Kiễn thức sẽ đạt được ý nghĩa của nó thông qua việc ứng dụng thực tế. Dewey coi sự tò mỏ, hành động và kinh nghiệm như những điều kiện cơ bản trong hoạt động học tập. Ông đã giới thiệu khái niệm “Vấn để" trong chương trình giảng dạy, ông cho rằng trẻ em sẽ học tốt hơn thông qua việc giải quyết vẫn để trong các tình huỗng thực tế. Dewey bac bo Ý kiến cho rằng chương trình giảng dạy nên được tách biệt theo các môn học khác nhau.
Trang tưởng học thí nhện của ông, các GV được yêu cầu xây dựng một lạy thị i lực tế trong xã hội. HS phải hocnà cách giải quyết các vấn để giống như trong thế giới thực (Michael Knoll, 2017) Kilpatrick định nghĩa dự án là một hoạt động có mục đích. Đề một hoạt động được coi là có mục đích, cần phải đáp ứng hai điều kiện: thứ nhất, đứa trẻ phải có khả năng lựa chọn hoạt động và về bản chất sẽ là động lực đẻ thực hiện các hoạt động; và hai, hoạt động phải có mục đích trong cuộc sống của đửa trẻ (Kilpatrick, 1929; Pecore, 2015). Tầm nhìn của Kilpatriek về một dự án đã bị chí trích là quá rộng.
Một thiểu sót lớn trong hệ tư tưởng của ông là sử dụng PPDHDA để giải thích triết lí giáo dục chứ không phải PP giảng đạy. Một trong số các lí do làm cho giá trị và việc sử dụng PPDHDA đã giảm vào những năm 1930 là do mô hình giáo dục công nghiệp tăng trưởng vốn coi trọng chương trình giảng dạy theo chủ để, hướng đến mục tiêu hơn là chương trình dựa trên dự án, lấy HS làm trung tâm (Colley, 2016). Sự xuất hiện của lí thuyết kiến tạo cùng với nhiệm vụ thúc đấy HS học khoa học và toán học đã làm cho PPDHDA một lẫn nữa nỗi bat (Tanner & Tanner, 1980). Những người theo chủ nghĩa kiến tạo coi trí thức là do con người tích cực xây dựng thông qua kinh nghiệm của họ.
Vi kinh nghiệm của mỗi cá nhân là chủ quan nên kiến thức cũng có bản chất chủ quan. Thêm vào đó, việc xây dựng kiến thức mang tính cá nhân vì dựa trên kinh nghiệm trước đây của cá nhân người học và trên môi trường mà người học xây dựng kiến thức. Dạy học kiến tạo là một lí thuyết dạy và học bắt nguồn từ thuyết kiến tạo quan điểm học tập. Mặc dù PPDH kiến tạo chỉ định một số.
die điểm nhất định cho việc giảng dạy. nhưng nó không phải là một PP giảng dạy mà la éu chién luge giang day khac. Khong gid ách hiết trước đây về dự án. PPDHDA bắt nguồn từ ý tưởng về lí thuyết học tập theo chủ nghĩa kiển tạo, không phải là một triết lí giáo dục mà là một PP được sử dụng đề hiện thực hóa cách dạy và học theo chủ nghĩa kiến tạo (Jumaat et al.
Phương pháp dạy học kiến tạo cho rằng xung đột nhận thức tạo ra nhu cầu học hỏi ở mỗi cá nhân (Pecore, 2015). Do đó, trong mỗi trường DIIDA, HS được coi là có động lực khi tham gia một cách có nhận thức về một ai vụ mà có liên quan đến những điều gần gũi th cuộc sống của HS. đây củ học đóng một vai trò tích cực trong việc phát triển sự hiểu biết. Các nhà lí thuyết hiện đại tin rằng học tập dựa trên dự án phải được thiết kế theo cách thúc đây HS học các khái niệm cốt lõi trong một chủ đề nhất định.
Các khía cạnh như hợp tác, cùng làm việc và làm việc theo nhóm là những bổ sung quan trọng cho các dự án (Jumaat et al. Lev Vygotsky cho ring vige hoc va béi cảnh xã hội không thể được xem xét một cách tách biệt bởi vì việc học xảy ra đầu tiên ở cấp độ xã hội vả sau đó là cấp độ cá nhân (Vygotsky, 1978). Do đó, kiến thức là một quá trình mả qua đó các cá nhân xây dựng ý nghĩa bằng cách tương tác với những người khác và xã hội mà họ đang sống. Người học trong môi trường học tập dựa trên dự án sẽ phát triển sự hiểu biết, được chia sẻ thông qua giao tiếp và thảo luận với những người khác (Krajcik & Blumenfeld, 2005).
Ngày nay, DHDA được sử dụng phỏ biển trên toàn thế giới ở mọi ngành học và 10 mọi trình độ, với nhiều tên gọi khác nhau: Project Method, Project based learning. Dạy học dựa trên dự án trong lĩnh vực khoa học “Trong ba thập kỉ qua, học tập dựa trên dự án đã hỗ trợ rộng rãi trong việc dạy học khoa học. Nhiều chương trình giảng dạy hiện nay nhắn mạnh dạy học theo dự án như một PP được ưa chuộng dé tạo động lực cho HS và tạo điều kiện duy trì việc học tốt hơn. Trong bối cảnh này, Hiệp hội Tiến bộ Khoa học Hoa Kỳ (1993), Hội đồng Nghiên cứu Quốc gia (1996) và Bộ Giáo dục Quốc gia Thỏ Nhĩ Kỳ (2005) đã nhắn.
mạnh các PP hướng dẫn để cải thiện việc học tập của HS trong môn khoa học và dé nâng cao sự thành công của các phong trào cải cách giáo dục. Nhiễu nghiên cứu cho. thấy rằng việc tích hợp các PP tiếp cận dựa trên điều tra thông qua các nghiên cứu. di khóa học khoa họ: é é nnk„ 2010) Khi xem xét các tài liệu về giáo dục khoa học, ngày càng nhiều nghiên cứu tác động của việc giảng dạy khoa học dựa trên dự án.
Ví dụ, nhằm nâng cao HS có thành tích thắp, Doppelt thực hiện các dự án ban đầu nhằm tận dụng các kĩ năng và khả năng đặc biệt của HS. Ông báo cáo rằng học tập dựa trên dự án đã nâng cao động lực của HS ở mọi cấp độ và đạt được hiệu quá học tập đáng kẻ (Doppelt, 2003). Nam 2000, PPDHDA ở Singapore được Bộ Giáo dục giới thiệu với các trường học như một sáng kiến giáo dục lớn. PP nảy đại diện cho một sự thay đổi mô hình.
lớn trong lĩnh vực dạy và học, từ lấy GV làm trung tâm sang lấy HS làm trung tâm. HS kết nối kiến thức từ các môn học khác nhau để giải quyết các vấn dé mang tinh thực tế trong đời sống khi tham gia vào các dự án học tập. cung cấp lộ trình hoc tập dé giúp HS bắt đầu công việc và trình bảy ý tưởng cúa mình. không còn lả "nhà hiển triết trên sân khấu” mả trở thành “người bên cạnh hướng dẫn" nhiéu hon (Ministry of Education Singapore, 1999).
Trong một nghiên cứu cúa Kanter và Konstantopoulos (2010). nhằm xác định tác động của chương trình giảng dạy TNXH dựa trên dự án, cung cắp sự phát triển chuyên môn để cúng cỏ kiến thức nội dung khoa học và kiến thức sư phạm khoa học của GV, Họ phát hiện ra rằng thành tích khoa học của HS được cái thiện nhở chương trình giảng dạy khoa học theo dự án (Kanter eL al. Krajcik và Charlene M, Czerniak là tác giả cúa quyển sách. Giảng dạy khoa học trong lớp học tiểu học và trưng học cơ sở: Học tập dựa trên dự án.
Nội dung quyển sách tập trung vào việc nghiên cứu va đưa ra cách dạy khoa học cho trẻ em ở độ tuổi tiểu học và trung học cơ sở (THCS) bằng việc học tập dựa trên dự án. DHDA thu hút tất cả HS nhỏ tuổi - bắt văn hỏa, chủng tộc hay giới tinh - trong việc khám phá những câu hỏi quan trọng và có ý nghĩa thông qua quá trình điều tra và hợp tác. Ngày nay, một trong những mục tiêu chính của giáo dục khoa học. trong trường học tập trung vào việc hỗ trợ tắt cả trẻ em giải thích các hiện tượng mà chúng trái nghiệm trong thế giới của chúng (Krajcik & Czerniak, 2018).
Nam 2019, bài báo viết về sự thúc đây học tập khoa học thông qua học tập dựa trên dự án của tác giả Emily C. Miller vả Joseph Krajcik đã trình bày chỉ tiết về quy. trình thiết kế để phát triển các môi trường DHDA nhằm thúc đây quá trình hướng tới sử dụng kiến thức chuyên sâu. Tác giá đã phát triển một quy trình tập hợp các tiêu chuẩn nghiêm ngặt dựa trên kiến thức sử dụng ở Hoa Kỳ với những lợi thể thúc đầy, sáng tạo và cá nhân hóa của DHDA.
Bài báo đã trình bảy một giải pháp được thiết kế để duy trì sự quan tâm của HS theo thời gian vả đồng thời xây dựng các mục tiêu học tập quan trọng gắn liễn với các tiêu chuẩn quốc gia. Các tác giả nhắn mạnh việc các quốc gia có thể sửa đối các nguyên tắc thiết kế mà họ đưa ra để phù hợp với môi trưởng và tiêu chuẩn (Miller & Krajcik, 2019). 6 MP, các GV tiểu học đã sử dụng mô hình học tập dựa trên dự án của Đại học Michigan trong môn Khoa học, thay vì lo lắng vì phải thay đổi cách tiếp cận giảng dạy, GV đã chuyển thành niễm vui và hài lòng khi nhìn thấy HS không chí học mà còn hiểu về thể giới xung quanh với tâm thể đẩy chủ động và hứng thú. Giáo dục khoa học thông qua nhiều kiến thức: Học tập dựa trên dự án ở trưởng tiểu học do các tác giả Joseph Krajcik và Barbara Sehneider đồng biên tập, được Nhà xuất bản i fi ang 12 nim 2021.