Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VẬN DỤNG PHƯƠNG PHÁP DỰ ÁN TRONG DẠY HỌC MÔN GIÁO DỤC CÔNG DÂN Ở TRUNG HỌC PHỔ THÔNG 1. Lịch sử nghiên cứu vấn đề Thuật ngữ “Dự án” (project) có nguồn gốc từ tiếng Latinh là “Proicere” được dùng với nghĩa là một đề án, một dự án, một kế hoạch cần được thực hiện nhằm đạt được mục đích đã đề ra. Các công trình nghiên cứu nước ngoài Từ đầu thế kỷ 20, các nhà sư phạm đã xây dựng cơ sở lý luận cho phương pháp dự án “Project method” và coi đây là phương pháp dạy học quan trọng để thực hiện dạy học hướng vào người học nhằm khắc phục những nhược điểm của dạy học truyền thống. Phương pháp này được áp dụng khá phổ biến ở các nước phương Tây, tiêu biểu kể đến ở các quốc gia có nền giáo dục tiên tiến như: Mĩ, Đức, Pháp, Đan Mạch… các nước này đã có những công trình có giá trị lý luận và thực tiễn trong việc nghiên cứu phương pháp dạy học dự án.
Năm 1981 nhà tâm lý học William H. Kilpatric (1871- 1955) đã viết một bài báo với tiêu đề “Phương pháp dự án” gây một tiếng vang trong các cơ sở đào tạo giáo viên cũng như trong các trường học. Ông cùng các nhà nghiên cứu của trường Đại học Coolumbia đã có những đóng góp để nhằm truyền bá phương pháp này qua các giờ học, các hôi nghị và tác phẩm xuất bản năm 1925. Langdon với công trình: “Quản lý dự án” được dịch giả Lê Ngọc Phương Anh biên dịch xuất bản năm 2005, NXB Tổng hợp thành phố Hồ Chí Minh đã có những kiến giải hết sức hữu ích về việc tổ chức và hoạch định một dự án.
Công trình chứa đựng rất nhiều lời khuyên về lập kế Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn hoạch, lập ngân sách, xây dựng và thúc đẩy một nhóm, đánh giá các yếu tố rủi ro, phát triển kỹ năng lãnh đạo, v. Cabral trong một loạt các bài viết: “Học tập dựa trên dự án: chiến lược dạy và học” đăng ở các chuyên mục MA thuộc Trung tâm Thanh thiếu niên ở Boston cũng phân tích quy trình thiết kế, vận hành một dự án học tập nhằm đạt các mục tiêu giáo dục cho lứa tuổi thanh thiếu niên. [52] Ngoài ra còn rất nhiều bài viết, sách chuyên khảo và các công trình nghiên cứu của nhiều nhà khoa học trên thế giới đề cập đến vai trò, đặc điểm, cách thức tổ chức một dự án học tập như: Thomas J. (2000), Điển lại các nghiên cứu về phương pháp dạy học theo dự án, San Rafael, CA Autodesk.
(1992), Những ảnh hưởng đến tổ chức dạy học dự án, Gifted Child Quarterly, 36, 195-200. (2001), Học trực tuyến: Từ phổ biến thông tin đến thúc đẩy hợp tác Cộng đồng. Tạp chí nghiên cứu học tập tương tác, 12 (1), 105 - 143. Phát triển kiến thức và hình dạng thông qua học tập dựa trên dự án, Tạp chí về các vấn đề chuyên môn trong giáo dục và thực hành kỹ thuật, Tập 132 tr.[46] Điều đó cho thấy phương pháp dự án nói chung, DHDA nói riêng đã có những đóng góp tích cực vào quá trình đổi mới và nâng cao chất lượng dạy học, chất lượng làm việc ở hầu khắp các lĩnh vực khoa học.
Các công trình nghiên cứu trong nước Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn Khi đất nước ta bước vào thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá (CNH, HĐH) và hội nhập kinh tế thế giới, giáo dục Việt Nam có nhiều thay đổi trong đó đặc biệt là xu hướng đổi mới mạnh mẽ phương pháp, hình thức tổ chức dạy học. Các dự án học tập cũng được thiết kế và triển khai rộng khắp. Năm 2003, Bộ Giáo dục và Đào tạo (GD&ĐT) kết hợp với công ty Intel Việt Nam triển khai thí điểm chương trình “Dạy học cho tương lai” cho 20 trường thuộc 9 tỉnh thành trên cả nước với mục tiêu nhằm nâng cao chất lượng giáo dục trong các lĩnh vực toán học, khoa học và công nghệ giúp học sinh, sinh viên phát triển các kỹ năng tư duy ở cấp độ cao. Chương trình cũng hướng đội ngũ giáo viên cách thức sử dụng Internet hiệu quả; thiết kế các trang Web dạy học và triển khai hàng loạt các dự án cho học sinh.
Chương trình đặt ra mục tiêu đến là năm 2020 sẽ có 40.000 giáo viên trên cả nước được tham gia trải nghiệm, thụ hưởng và phát triển các dự án học tập đến người học. Song song với quá trình thực hiện trong thực tiễn, nhiều bài viết và công trình khoa học về dạy học dự án cũng được nhiều học giả trong nước quan tâm nghiên cứu. Có thể đơn cử một số công trình tiêu biểu sau đây: Tác giả Nguyễn Văn Cường và Nguyễn Thị Diệu Thảo với bài viết: “Dạy học theo dự án - một phương pháp có chức năng kép trong đào tạo giáo viên” đăng trên tạp chí Giáo dục số 80, phát hành tháng 4/ 2004 đã có những đánh giá hết sức xác đáng về vai trò, tính năng của phương pháp dạy học dự án trong tổ chức dạy học ở các trường sư phạm. Theo các tác giả, nếu sinh viên sư phạm thường xuyên được rèn nghề qua các dự án học tập thì bản thân đội ngũ này sẽ có khả năng thay đổi cả một thế hệ tương lai.
[10] Các tác giả Đỗ Hương Trà, Phùng Việt Hải với bài viết: “Hoạt động học tập trong DHDA và những kết quả thu được” đăng trên Tạp chí khoa học, trường ĐHSP Hà Nội, tháng 6-2008 đã nêu lên quy trình, các thiết kế một dự án học tập hiệu quả. Qua đó, các nhà nghiên cứu đã nhấn mạnh việc tập hợp và huy động Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn các nguồn lực có vai trò quan trọng trong tổ chức thành công một dự án học tập. [41] Ngoài ra, còn phải kể đến nhiều luận văn, luận án nghiên cứu về việc thiết kế và tổ chức DHDA, như: Luận văn thạc sĩ của Đào Thị Thu Thủy - Đại học sư phạm Hà Nội (2006) với đề tài “Tổ chức dạy học một số kiến thức trong chương “Cảm ứng điện từ” sách giáo khoa Vật lý 11 nhằm phát triển nhận thức tích cực, tự chủ của học sinh trong học tập”. Trong công trình này, từ việc nghiên cứu lý luận DHDA, tác giả đã đề xuất cách thức thiết kế và tổ chức một DAHT áp dụng cho một nội dung cụ thể.
[39] Luận văn thạc sĩ của tác giả Đào Thị Hà khoa Giáo dục Chính trị, trường ĐHSP Hà Nội (2009) với đề tài “Vận dụng phương pháp dạy học theo dự án trong dạy học phần “Công dân với kinh tế’’ chương trình Giáo dục công dân lớp 11 tại trường THPT Cầu Giấy - Hà Nội’’ cũng có những đánh giá bước đầu về tính hiệu quả của các dự án học học tập trong tổ chức dạy học môn GDCD ở THPT. Đồng thời, tác giả cũng đề xuất một số biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả tổ chức phương pháp dự án trong thực tiễn dạy học các nội dung kinh tế là một trong những nội dung khó nhất của chương trình GDCD ở THPT hiện nay. [16] Bên cạnh đó, còn có một số luận án tiến sĩ nghiên cứu chuyên sâu về phương pháp dự án gắn với các lĩnh vực đặc thù như: Luận án của Nghiên cứu sinh (NCS) Nguyễn Thị Diệu Thảo với đề tài: “Dạy học theo dự án và vận dụng trong đào tạo giáo viên THCS môn công nghệ”, Đại học sư phạm Hà Nội, năm 2009; Luận án của NCS Lê Khoa với đề tài: “Vận dụng phương pháp dạy học theo dự án trong dạy học kiến thức về sản xuất và sử dụng điện năng cho học sinh trung học phổ thông”, Đại học Sư phạm Thái Nguyên, năm 2015; Luận án của Nguyễn Ngọc Trang với nhan đề: “Dạy học dựa vào dự án trong đào tạo Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn công nghệ thông tin trình độ cao đẳng với sự hỗ trợ của Elearning”, viện Khoa học Giáo dục Việt Nam, năm 2017…. Với nhiều công trình, bài viết của các nhà khoa học trong và ngoài nước chứng tỏ, phương pháp dự án có vai trò quan trọng trong dạy học các môn khoa học nói chung và tổ chức dạy học môn GDCD nói riêng.
Đồng thời, phương pháp này còn có khả năng cộng hưởng, khai thác hiệu quả phương pháp dạy học khác trong một dự án dạy học, góp phần quan trọng trong đẩy mạnh và nâng cao chất lương dạy học trong giai đoạn hiện nay. Những vấn đề lý luận chung về phương pháp dự án trong dạy học 1. Quan niệm về phương pháp dạy học và phương pháp dự án (phương pháp dạy học dự án) 1. Quan niệm về phương pháp và phương pháp dạy học Phương pháp là một thuật ngữ bắt nguồn từ tiếng Hy Lạp “Methodos” nghĩa là con đường nghiên cứu, cách thức nhận thức, cách thức để đạt mục đích.
Trong thực tế, phương pháp còn được hiểu là hệ thống những quy tắc, nguyên tắc, quy phạm dùng để chỉ đạo kỹ thuật; tổ hợp các bước đi, các quy trình mà trí tuệ phải đi theo để tìm ra và chứng minh chân lý. Phương pháp cũng còn được hiểu là kế hoạch được tổ chức hợp lý trong ngành quản lý. Theo nghĩa chung nhất thì phương pháp là cách thức, là con đường, là phương tiện để đạt mục đích, là hoạt động được sắp sếp theo một trật tự nhất định để giải quyết những nhiệm vụ nhất định trong nhận thức và thực tiễn. Như vậy, với tư cách là con đường, cách thức để đạt mục đích, phương pháp bao gồm hai mặt: Mặt khách quan: là các quy luật khách quan chi phối đối tượng mà chủ thể (giáo viên) phải ý thức được như các quy luật tâm lý, lý luận dạy học… chi phối quá trình lĩnh hội tri thức của học sinh (đối tượng).
Mặt chủ quan: các thao tác và các phương tiện hướng vào đối tượng mà chủ thể (giáo viên) phải lựa chọn hợp với quy luật chi phối đối tượng (học sinh). Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn Hai mặt này có mối quan hệ ràng buộc chặt chẽ. Chính những cách thức và phương tiện được xây dựng nhờ những quy luật khách quan được dùng để tiếp cận và cải biến hiện thực, để thu lượm những kết quả mới tạo thành phương pháp. Các quy luật tự chúng không thể trở thành phương pháp nhưng thiếu chúng thì không thể có được phương pháp và phương tiện đúng đắn, không thể có phương pháp khoa học.