Vận dụng phương pháp dự án trong dạy GDCD tại THPT Thuận Thành, Bắc Ninh - Luận văn ThS

GDCD THPT Thuận Thành, Bắc Ninh đổi mới với phương pháp dạy học bằng dự án. Tìm hiểu cách tiếp cận sáng tạo giúp học sinh hứng thú hơn với môn học.

Chuyên ngành

Giáo dục công dân

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2019

154
1
0

Phí lưu trữ

45 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

MỤC LỤC

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

DANH MỤC CÁC BẢNG

DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ

MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài

2. Mục đích nghiên cứu của đề tài

3. Nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài

4. Đối tượng, khách thể và phạm vi nghiên cứu của đề tài

5. Giả thuyết nghiên cứu

6. Phương pháp nghiên cứu của đề tài

7. Kết cấu của đề tài

1. CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VẬN DỤNG PHƯƠNG PHÁP DỰ ÁN TRONG DẠY HỌC MÔN GIÁO DỤC CÔNG DÂN Ở TRUNG HỌC PHỔ THÔNG

1.1. Lịch sử nghiên cứu vấn đề

1.1.1. Các công trình nghiên cứu nước ngoài

1.1.2. Các công trình nghiên cứu trong nước

1.2. Những vấn đề lý luận chung về phương pháp dự án trong dạy học

1.2.1. Quan niệm về phương pháp dạy học và phương pháp dự án (phương pháp dạy học dự án)

1.2.2. Đặc điểm và các hình thức của phương pháp dạy học dự án

1.2.3. Ưu, nhược điểm của phương pháp dự án trong dạy học môn Giáo dục công dân ở THPT

1.2.4. Sự cần thiết của vận dụng phương pháp dự án trong dạy học môn Giáo dục công dân ở THPT hiện nay

1.2.5. Đánh giá về những nội dung cơ bản của chương trình môn GDCD

1.2.6. Xu hướng đổi mới dạy học, nên DHDA là lựa chọn hiệu quả để nâng cao chất lượng dạy học môn GDCD

1.3. Kết luận chương 1

2. CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG VẬN DỤNG PHƯƠNG PHÁP DỰ ÁN TRONG DẠY HỌC MÔN GIÁO DỤC CÔNG DÂN Ở CÁC TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG HUYỆN THUẬN THÀNH, TỈNH BẮC NINH

2.1. Khái quát về các trường THPT trên địa bàn huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh

2.2. Những kết quả đạt được và hạn chế của vận dụng phương pháp dự án trong dạy học môn Giáo dục công dân ở các trường THPT huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh

2.2.1. Những kết quả đạt được trong vận dụng phương pháp dự án vào dạy học môn Giáo dục công dân ở các trường THPT huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh

2.2.2. Những hạn chế và nguyên nhân trong vận dụng phương pháp dự án vào dạy học môn Giáo dục công dân ở các trường THPT huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh

2.2.3. Vai trò của việc đổi mới vận dụng phương pháp dự án trong dạy học môn Giáo dục công dân ở các trường THPT huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh

2.3. Kết luận chương 2

3. CHƯƠNG 3: BIỆN PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ VẬN DỤNG PHƯƠNG PHÁP DỰ ÁN TRONG DẠY HỌC MÔN GIÁO DỤC CÔNG DÂN Ở CÁC TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG HUYỆN THUẬN THÀNH, TỈNH BẮC NINH

3.1. Nguyên tắc đề xuất các biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả vận dụng phương pháp dự án trong dạy học môn Giáo dục công dân ở các trường THPT huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc ninh

3.1.1. Nguyên tắc đảm bảo tính khách quan

3.1.2. Nguyên tắc đảm bảo tính thực tiễn

3.1.3. Nguyên tắc đảm bảo tính khả thi và hiệu quả

3.2. Biện pháp chủ yếu nhằm nâng cao hiệu quả vận dụng phương pháp dự án trong tổ chức dạy học môn Giáo dục công dân ở các trường THPT huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh

3.2.1. Nâng cao nhận thức cho giáo viên và học sinh về vai trò của phương pháp dự án trong dạy học môn Giáo dục công dân ở các trường THPT huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh

3.2.2. Xây dựng quy trình dạy học vận dụng phương pháp dự án trong dạy học môn Giáo dục công dân theo định hướng năng lực

3.2.3. Đổi mới hoạt động kiểm tra, đánh giá nhằm phát huy tính tích cực, sáng tạo của người học

3.2.4. Đảm bảo những điều kiện vật chất trong quá trình vận dụng phương pháp dự án vào dạy học môn Giáo dục công dân

3.2.5. Thực nghiệm sư phạm

3.2.5.1. Mục đích, nguyên tắc, nội dung, phương pháp và quy trình TN
3.2.5.2. Tiêu chí và cách đánh giá kết quả thực nghiệm
3.2.5.3. Giả thuyết thực nghiệm
3.2.5.4. Thời gian, địa điểm, đối tượng thực nghiệm và đối chúng
3.2.5.5. Kết quả thực nghiệm

3.3. Kết luận chương 3

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Tóm tắt

I. GDCD Thuận Thành Tổng Quan Về Dạy Học Dự Án 55 ký tự

Dạy học môn Giáo dục công dân (GDCD) tại các trường THPT huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh đang có những chuyển biến tích cực nhờ áp dụng phương pháp dạy học dự án (DHDA). Phương pháp này giúp học sinh tiếp cận kiến thức một cách chủ động, sáng tạo, và gắn liền với thực tiễn cuộc sống. GDCD là môn học có vai trò quan trọng trong việc hình thành nhân cách, phẩm chất đạo đức, và năng lực công dân cho học sinh. Vì vậy, việc đổi mới phương pháp dạy học, đặc biệt là thông qua các dự án, là vô cùng cần thiết. Nhiều năm qua, các trường THPT trên địa bàn huyện Thuận Thành đã tiến hành nhiều hoạt động cải cách, đổi mới nhằm nâng cao chất lượng giáo dục. Một trong những hoạt động trọng tâm được Sở GD&ĐT tỉnh Bắc Ninh đẩy mạnh là rà soát toàn bộ nội dung chương trình, thí điểm xây dựng các chương trình nhà trường theo định hướng năng lực. Riêng với môn Giáo dục công dân, ngoài đẩy mạnh việc đổi mới phương pháp, phương tiện dạy học, Sở GD&ĐT cùng với các phòng ban chức năng đã chỉ đạo nghiên cứu nội dung, cấu trúc chương trình bộ môn, chủ động xây dựng kế hoạch, triển khai thí điểm và xây rộng việc xây dựng và thiết kế các chủ đề dạy học tích hợp nhằm tinh giảm một số nội dung chồng chéo, qua đó nhằm rèn luyện, phát huy những năng lực cần thiết cho người học. Theo luận văn Thạc sĩ của Nguyễn Thị Thanh Tuyền năm 2019, dạy học dự án là một phương pháp dạy học lấy hoạt động của người học làm trung tâm. Quá trình giảng dạy luôn định hướng vào các khái niệm cơ bản của môn học nhưng phải gắn liền với thực tế. Theo phương pháp này thì người học phải tự mình giải quyết các vấn đề, nhiệm vụ có liên quan khác để có được kiến thức, khả năng giải quyết vấn đề và cho ra những kết quả thực tế nhất. Bản chất của dạy học dự án là người học lĩnh hội kiến thức và kĩ năng thông qua việc giải quyết một bài tập tình huống gắn liền với thực tiễn (bài tập dự án). Kết thúc dự án người học phải cho ra được sản phẩm gắn với thực tiễn cụ thể.

1.1. Tầm Quan Trọng Của GDCD Trong Giáo Dục Hiện Đại

Môn GDCD đóng vai trò then chốt trong việc xây dựng nền tảng đạo đức và ý thức công dân cho thế hệ trẻ. Nó không chỉ cung cấp kiến thức về pháp luật, quyền và nghĩa vụ, mà còn giúp học sinh hình thành các giá trị sống tích cực, tinh thần trách nhiệm với cộng đồng và đất nước. Sự phát triển của xã hội hiện đại đòi hỏi công dân phải có tư duy độc lập, khả năng giải quyết vấn đề, và kỹ năng hợp tác. Việc tích hợp dạy học dự án vào môn GDCD giúp đáp ứng những yêu cầu này, tạo ra những công dân có năng lực và phẩm chất tốt.

1.2. Sự Cần Thiết Đổi Mới Phương Pháp Dạy GDCD

Phương pháp dạy học truyền thống, chủ yếu dựa trên việc truyền thụ kiến thức một chiều, thường gây ra sự nhàm chán và thụ động cho học sinh. Việc đổi mới phương pháp dạy học, đặc biệt là thông qua dạy học dự án, giúp tạo ra môi trường học tập tích cực, khuyến khích học sinh tham gia chủ động vào quá trình học tập, khám phá kiến thức và phát triển kỹ năng. Điều này không chỉ nâng cao hiệu quả học tập mà còn giúp học sinh yêu thích môn GDCD hơn.

II. Thách Thức Dạy GDCD Tính Trừu Tượng Và Thiếu Thực Tế 59 ký tự

Một trong những thách thức lớn nhất trong dạy học GDCD là tính trừu tượng của nhiều khái niệm và nội dung kiến thức. Học sinh thường gặp khó khăn trong việc liên hệ những kiến thức này với thực tế cuộc sống, dẫn đến sự khó hiểu và thiếu hứng thú. Bên cạnh đó, việc thiếu các hoạt động thực tế, trải nghiệm cũng là một hạn chế khiến cho việc học GDCD trở nên khô khan và xa rời thực tiễn. Để khắc phục những hạn chế này, việc áp dụng phương pháp dự án là một giải pháp hiệu quả. Phương pháp này giúp học sinh có cơ hội vận dụng kiến thức vào giải quyết các vấn đề thực tế, từ đó hiểu sâu hơn về ý nghĩa và tầm quan trọng của môn GDCD. Theo Nguyễn Thị Thanh Tuyền (2019), DHDA không phù hợp với việc truyền thụ tri thức lý thuyết mang tính trừu tượng, hệ thống cũng như không phù hợp trong rèn luyện hệ thống kỹ năng mang tính đơn lẻ mà nó là hệ thống hóa của nhiều kỹ năng và nội dung khoa học khác nhau trong một bài học.DHDA đòi hỏi nhiều thời gian. Vì vậy người giáo viên và người học cần có sự chuẩn bị tốt trước một tiết học nếu không có sự chuẩn bị sẽ gặp rất nhiều khó khăn trong quá trình hoàn thành dự án học tập. Là một phương pháp giảng dạy mới, hiện đại và tích hợp nên dạy học dự án đòi hỏi nhiều phương tiện vật chất và tài chính phù hợp.

2.1. Khó Khăn Trong Việc Tiếp Thu Kiến Thức Trừu Tượng

Nhiều nội dung trong chương trình GDCD, như các khái niệm về quyền, nghĩa vụ, công bằng, dân chủ, có tính trừu tượng cao và khó hình dung đối với học sinh. Điều này đòi hỏi giáo viên phải có phương pháp giảng dạy sáng tạo, giúp học sinh hiểu rõ bản chất của các khái niệm này thông qua các ví dụ, tình huống cụ thể, hoặc các hoạt động trải nghiệm.

2.2. Thiếu Liên Hệ Giữa Lý Thuyết Và Thực Tế

Việc thiếu các hoạt động thực tế, các buổi thảo luận, tranh luận, hoặc các dự án thực tế khiến cho việc học GDCD trở nên khô khan và xa rời thực tiễn. Học sinh cần có cơ hội vận dụng kiến thức đã học vào giải quyết các vấn đề thực tế, tham gia vào các hoạt động xã hội, để hiểu rõ hơn về vai trò và trách nhiệm của mình với tư cách là một công dân.

2.3. Hạn Chế Về Cơ Sở Vật Chất Và Nguồn Lực

Việc triển khai dạy học dự án đòi hỏi cơ sở vật chất và nguồn lực đầy đủ, bao gồm phòng học đa năng, thiết bị trình chiếu, máy tính, internet, và các tài liệu tham khảo. Tuy nhiên, không phải trường THPT nào cũng có đủ điều kiện để đáp ứng những yêu cầu này. Cần có sự đầu tư và hỗ trợ từ các cấp quản lý để cải thiện cơ sở vật chất và nguồn lực cho các trường THPT.

III. Cách Dạy GDCD Bằng Dự Án Gắn Lý Thuyết Với Thực Tiễn 57 ký tự

Để nâng cao hiệu quả dạy học GDCD tại Thuận Thành, việc áp dụng phương pháp dạy học dự án cần được thực hiện một cách bài bản và có hệ thống. Điều này đòi hỏi giáo viên phải có sự chuẩn bị kỹ lưỡng về nội dung, phương pháp, và các hoạt động hỗ trợ. Các dự án cần được thiết kế sao cho phù hợp với trình độ và khả năng của học sinh, đồng thời đảm bảo tính thực tiễn và tính ứng dụng cao. Một trong những cách tiếp cận hiệu quả là xây dựng các dự án dựa trên các vấn đề thực tế mà học sinh quan tâm, như bảo vệ môi trường, an toàn giao thông, hoặc phòng chống bạo lực học đường. Theo nghiên cứu của Tuyền (2019), DHDA có 7 đặc điểm cơ bản. Định hướng thực tiễn, định hướng hứng thú người học, mang tính phức hợp, liên môn, định hướng hành động, tính tự lực của người học, cộng tác làm việc và định hướng sản phẩm.

3.1. Xây Dựng Dự Án Dựa Trên Vấn Đề Thực Tế

Các dự án nên tập trung vào các vấn đề mà học sinh quan tâm và có thể liên hệ trực tiếp với cuộc sống của mình, như bảo vệ môi trường, an toàn giao thông, phòng chống bạo lực học đường, hoặc vấn đề việc làm sau khi tốt nghiệp. Điều này giúp tăng tính hứng thú và động lực cho học sinh tham gia vào dự án.

3.2. Tạo Cơ Hội Cho Học Sinh Vận Dụng Kiến Thức

Các dự án cần tạo cơ hội cho học sinh vận dụng những kiến thức đã học trong môn GDCD và các môn học khác để giải quyết các vấn đề thực tế. Điều này giúp học sinh hiểu sâu hơn về ý nghĩa và tầm quan trọng của kiến thức, đồng thời phát triển kỹ năng tư duy, sáng tạo, và giải quyết vấn đề.

3.3. Khuyến Khích Sự Tham Gia Chủ Động Của Học Sinh

Giáo viên nên tạo điều kiện cho học sinh tham gia chủ động vào tất cả các giai đoạn của dự án, từ việc lựa chọn chủ đề, xây dựng kế hoạch, thực hiện dự án, đến trình bày kết quả và đánh giá. Điều này giúp học sinh phát triển kỹ năng tự quản lý, làm việc nhóm, và giao tiếp.

IV. Đánh Giá Hiệu Quả Dự Án GDCD Tiêu Chí Và Phương Pháp 58 ký tự

Việc đánh giá hiệu quả của các dự án dạy học GDCD là vô cùng quan trọng để đảm bảo rằng phương pháp này đang mang lại những kết quả tích cực. Các tiêu chí đánh giá cần được xây dựng rõ ràng, cụ thể, và phù hợp với mục tiêu của dự án. Các phương pháp đánh giá cần đa dạng, bao gồm đánh giá quá trình, đánh giá sản phẩm, và đánh giá kết quả. Giáo viên cần chú trọng đến việc đánh giá cả kiến thức, kỹ năng, và thái độ của học sinh. Bên cạnh đó, cần khuyến khích học sinh tự đánh giá và đánh giá lẫn nhau để nâng cao tính khách quan và công bằng. Để đánh giá cần dựa trên những hiểu biết và nghiên cứu về quá trình này. Theo Tuyền (2019) có các tiêu chí và cách đánh giá kết quả thực nghiệm, có mục đích, nguyên tắc, nội dung, phương pháp và quy trình TN. Ngoài ra, cần thực nghiệm sư phạm để đánh giá chính xác nhất hiệu quả của dự án.

4.1. Xây Dựng Tiêu Chí Đánh Giá Rõ Ràng Cụ Thể

Các tiêu chí đánh giá cần được xây dựng dựa trên mục tiêu của dự án và các yêu cầu về kiến thức, kỹ năng, và thái độ mà học sinh cần đạt được. Các tiêu chí này cần được thông báo rõ ràng cho học sinh trước khi bắt đầu dự án để các em có thể định hướng và nỗ lực phấn đấu.

4.2. Sử Dụng Phương Pháp Đánh Giá Đa Dạng

Các phương pháp đánh giá cần đa dạng, bao gồm đánh giá quá trình (quan sát, ghi chép, phỏng vấn), đánh giá sản phẩm (báo cáo, poster, video), và đánh giá kết quả (bài kiểm tra, thuyết trình). Điều này giúp có được cái nhìn toàn diện về năng lực và sự tiến bộ của học sinh.

4.3. Khuyến Khích Tự Đánh Giá Và Đánh Giá Lẫn Nhau

Giáo viên nên khuyến khích học sinh tự đánh giá và đánh giá lẫn nhau để nâng cao tính khách quan và công bằng. Điều này giúp học sinh phát triển kỹ năng tự nhận thức, phản biện, và hợp tác.

V. Ứng Dụng Thực Tế Dự Án GDCD Tại THPT Thuận Thành 56 ký tự

Tại các trường THPT Thuận Thành, nhiều dự án GDCD đã được triển khai thành công, mang lại những kết quả tích cực. Ví dụ, dự án về "An toàn giao thông cho nụ cười ngày mai" đã giúp học sinh nâng cao ý thức về an toàn giao thông và có những hành động cụ thể để góp phần giảm thiểu tai nạn giao thông. Dự án về "Giáo dục truyền thống cho học sinh" đã giúp học sinh hiểu rõ hơn về giá trị của các truyền thống văn hóa tốt đẹp của dân tộc và có những hành động thiết thực để bảo tồn và phát huy những giá trị này. Danh mục các dự án học tập môn GDCD được xây dựng ở các trường THPT trên địa bàn huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh bao gồm: Giữ gìn các di sản văn hoá, bảo vệ môi trường ở các làng nghề truyền thống, quyền học tập, sáng tạo của công dân, an toàn giao thông cho nụ cười ngày mai, giáo dục truyền thống cho học sinh, nghề nào là đáng quý, công dân với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

5.1. Dự Án Về An Toàn Giao Thông

Dự án này tập trung vào việc nâng cao ý thức về an toàn giao thông cho học sinh và cộng đồng. Học sinh tham gia vào các hoạt động như tuyên truyền, vẽ tranh cổ động, tổ chức các buổi diễn kịch về an toàn giao thông, và tham gia vào các hoạt động tình nguyện để giúp đỡ người tham gia giao thông.

5.2. Dự Án Về Giáo Dục Truyền Thống

Dự án này tập trung vào việc giúp học sinh hiểu rõ hơn về giá trị của các truyền thống văn hóa tốt đẹp của dân tộc. Học sinh tham gia vào các hoạt động như tìm hiểu về lịch sử, văn hóa, phong tục tập quán của địa phương, tham gia vào các hoạt động bảo tồn di sản văn hóa, và tổ chức các buổi biểu diễn văn nghệ truyền thống.

5.3. Dự Án Về Phòng Chống Bạo Lực Học Đường

Dự án này tập trung vào việc nâng cao nhận thức về bạo lực học đường và các biện pháp phòng chống. Học sinh tham gia vào các hoạt động như thảo luận, diễn kịch, vẽ tranh cổ động, và tổ chức các buổi nói chuyện với các chuyên gia về phòng chống bạo lực học đường.

VI. Tương Lai GDCD Thuận Thành Phát Triển Dạy Học Dự Án 58 ký tự

Để tiếp tục nâng cao chất lượng dạy học GDCD tại Thuận Thành, việc phát triển phương pháp dạy học dự án cần được xem là một ưu tiên hàng đầu. Điều này đòi hỏi sự phối hợp chặt chẽ giữa các cấp quản lý, giáo viên, học sinh, và cộng đồng. Cần có sự đầu tư về cơ sở vật chất, nguồn lực, và đào tạo giáo viên. Đồng thời, cần có sự đổi mới về nội dung, phương pháp, và các hình thức tổ chức dự án để đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của xã hội. Theo Nguyễn Thị Thanh Tuyền (2019), để nâng cao hiệu quả dạy học GDCD thì cần đảm bảo tính khách quan, nguyên tắc đảm bảo tính thực tiễn, nguyên tắc đảm bảo tính khả thi và hiệu quả.Biện pháp chủ yếu nhằm nâng cao hiệu quả vận dụng phương pháp dự án trong tổ chức dạy học môn Giáo dục công dân ở các trường THPT huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh là: Nâng cao nhận thức cho giáo viên và học sinh về vai trò của phương pháp dự án trong dạy học môn Giáo dục công dân ở các trường THPT huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh, xây dựng quy trình dạy học vận dụng phương pháp dự án trong dạy học môn Giáo dục công dân theo định hướng năng lực, đổi mới hoạt động kiểm tra, đánh giá nhằm phát huy tính tích cực, sáng tạo của người học và đảm bảo những điều kiện vật chất trong quá trình vận dụng phương pháp dự án vào dạy học môn Giáo dục công dân.

6.1. Đầu Tư Về Cơ Sở Vật Chất Và Nguồn Lực

Cần có sự đầu tư về cơ sở vật chất và nguồn lực để đáp ứng yêu cầu của dạy học dự án, bao gồm phòng học đa năng, thiết bị trình chiếu, máy tính, internet, và các tài liệu tham khảo. Ngoài ra, cần có sự hỗ trợ về tài chính để tổ chức các hoạt động thực tế, mời các chuyên gia, và tham quan học tập.

6.2. Đào Tạo Nâng Cao Năng Lực Cho Giáo Viên

Giáo viên cần được đào tạo và bồi dưỡng thường xuyên về dạy học dự án, bao gồm các kiến thức về phương pháp, kỹ năng thiết kế dự án, và cách đánh giá hiệu quả dự án. Đồng thời, cần tạo điều kiện cho giáo viên chia sẻ kinh nghiệm và học hỏi lẫn nhau.

6.3. Đổi Mới Về Nội Dung Và Phương Pháp Tổ Chức Dự Án

Nội dung và phương pháp tổ chức dự án cần được đổi mới để đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của xã hội. Các dự án cần tập trung vào các vấn đề thực tế, có tính ứng dụng cao, và khuyến khích sự tham gia chủ động của học sinh. Đồng thời, cần có sự linh hoạt trong việc lựa chọn chủ đề, hình thức, và thời gian thực hiện dự án.

22/09/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VẬN DỤNG PHƯƠNG PHÁP DỰ ÁN TRONG DẠY HỌC MÔN GIÁO DỤC CÔNG DÂN Ở TRUNG HỌC PHỔ THÔNG 1. Lịch sử nghiên cứu vấn đề Thuật ngữ “Dự án” (project) có nguồn gốc từ tiếng Latinh là “Proicere” được dùng với nghĩa là một đề án, một dự án, một kế hoạch cần được thực hiện nhằm đạt được mục đích đã đề ra. Các công trình nghiên cứu nước ngoài Từ đầu thế kỷ 20, các nhà sư phạm đã xây dựng cơ sở lý luận cho phương pháp dự án “Project method” và coi đây là phương pháp dạy học quan trọng để thực hiện dạy học hướng vào người học nhằm khắc phục những nhược điểm của dạy học truyền thống. Phương pháp này được áp dụng khá phổ biến ở các nước phương Tây, tiêu biểu kể đến ở các quốc gia có nền giáo dục tiên tiến như: Mĩ, Đức, Pháp, Đan Mạch… các nước này đã có những công trình có giá trị lý luận và thực tiễn trong việc nghiên cứu phương pháp dạy học dự án.

Năm 1981 nhà tâm lý học William H. Kilpatric (1871- 1955) đã viết một bài báo với tiêu đề “Phương pháp dự án” gây một tiếng vang trong các cơ sở đào tạo giáo viên cũng như trong các trường học. Ông cùng các nhà nghiên cứu của trường Đại học Coolumbia đã có những đóng góp để nhằm truyền bá phương pháp này qua các giờ học, các hôi nghị và tác phẩm xuất bản năm 1925. Langdon với công trình: “Quản lý dự án” được dịch giả Lê Ngọc Phương Anh biên dịch xuất bản năm 2005, NXB Tổng hợp thành phố Hồ Chí Minh đã có những kiến giải hết sức hữu ích về việc tổ chức và hoạch định một dự án.

Công trình chứa đựng rất nhiều lời khuyên về lập kế Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn hoạch, lập ngân sách, xây dựng và thúc đẩy một nhóm, đánh giá các yếu tố rủi ro, phát triển kỹ năng lãnh đạo, v. Cabral trong một loạt các bài viết: “Học tập dựa trên dự án: chiến lược dạy và học” đăng ở các chuyên mục MA thuộc Trung tâm Thanh thiếu niên ở Boston cũng phân tích quy trình thiết kế, vận hành một dự án học tập nhằm đạt các mục tiêu giáo dục cho lứa tuổi thanh thiếu niên. [52] Ngoài ra còn rất nhiều bài viết, sách chuyên khảo và các công trình nghiên cứu của nhiều nhà khoa học trên thế giới đề cập đến vai trò, đặc điểm, cách thức tổ chức một dự án học tập như: Thomas J. (2000), Điển lại các nghiên cứu về phương pháp dạy học theo dự án, San Rafael, CA Autodesk.

(1992), Những ảnh hưởng đến tổ chức dạy học dự án, Gifted Child Quarterly, 36, 195-200. (2001), Học trực tuyến: Từ phổ biến thông tin đến thúc đẩy hợp tác Cộng đồng. Tạp chí nghiên cứu học tập tương tác, 12 (1), 105 - 143. Phát triển kiến thức và hình dạng thông qua học tập dựa trên dự án, Tạp chí về các vấn đề chuyên môn trong giáo dục và thực hành kỹ thuật, Tập 132 tr.[46] Điều đó cho thấy phương pháp dự án nói chung, DHDA nói riêng đã có những đóng góp tích cực vào quá trình đổi mới và nâng cao chất lượng dạy học, chất lượng làm việc ở hầu khắp các lĩnh vực khoa học.

Các công trình nghiên cứu trong nước Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn Khi đất nước ta bước vào thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá (CNH, HĐH) và hội nhập kinh tế thế giới, giáo dục Việt Nam có nhiều thay đổi trong đó đặc biệt là xu hướng đổi mới mạnh mẽ phương pháp, hình thức tổ chức dạy học. Các dự án học tập cũng được thiết kế và triển khai rộng khắp. Năm 2003, Bộ Giáo dục và Đào tạo (GD&ĐT) kết hợp với công ty Intel Việt Nam triển khai thí điểm chương trình “Dạy học cho tương lai” cho 20 trường thuộc 9 tỉnh thành trên cả nước với mục tiêu nhằm nâng cao chất lượng giáo dục trong các lĩnh vực toán học, khoa học và công nghệ giúp học sinh, sinh viên phát triển các kỹ năng tư duy ở cấp độ cao. Chương trình cũng hướng đội ngũ giáo viên cách thức sử dụng Internet hiệu quả; thiết kế các trang Web dạy học và triển khai hàng loạt các dự án cho học sinh.

Chương trình đặt ra mục tiêu đến là năm 2020 sẽ có 40.000 giáo viên trên cả nước được tham gia trải nghiệm, thụ hưởng và phát triển các dự án học tập đến người học. Song song với quá trình thực hiện trong thực tiễn, nhiều bài viết và công trình khoa học về dạy học dự án cũng được nhiều học giả trong nước quan tâm nghiên cứu. Có thể đơn cử một số công trình tiêu biểu sau đây: Tác giả Nguyễn Văn Cường và Nguyễn Thị Diệu Thảo với bài viết: “Dạy học theo dự án - một phương pháp có chức năng kép trong đào tạo giáo viên” đăng trên tạp chí Giáo dục số 80, phát hành tháng 4/ 2004 đã có những đánh giá hết sức xác đáng về vai trò, tính năng của phương pháp dạy học dự án trong tổ chức dạy học ở các trường sư phạm. Theo các tác giả, nếu sinh viên sư phạm thường xuyên được rèn nghề qua các dự án học tập thì bản thân đội ngũ này sẽ có khả năng thay đổi cả một thế hệ tương lai.

[10] Các tác giả Đỗ Hương Trà, Phùng Việt Hải với bài viết: “Hoạt động học tập trong DHDA và những kết quả thu được” đăng trên Tạp chí khoa học, trường ĐHSP Hà Nội, tháng 6-2008 đã nêu lên quy trình, các thiết kế một dự án học tập hiệu quả. Qua đó, các nhà nghiên cứu đã nhấn mạnh việc tập hợp và huy động Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn các nguồn lực có vai trò quan trọng trong tổ chức thành công một dự án học tập. [41] Ngoài ra, còn phải kể đến nhiều luận văn, luận án nghiên cứu về việc thiết kế và tổ chức DHDA, như: Luận văn thạc sĩ của Đào Thị Thu Thủy - Đại học sư phạm Hà Nội (2006) với đề tài “Tổ chức dạy học một số kiến thức trong chương “Cảm ứng điện từ” sách giáo khoa Vật lý 11 nhằm phát triển nhận thức tích cực, tự chủ của học sinh trong học tập”. Trong công trình này, từ việc nghiên cứu lý luận DHDA, tác giả đã đề xuất cách thức thiết kế và tổ chức một DAHT áp dụng cho một nội dung cụ thể.

[39] Luận văn thạc sĩ của tác giả Đào Thị Hà khoa Giáo dục Chính trị, trường ĐHSP Hà Nội (2009) với đề tài “Vận dụng phương pháp dạy học theo dự án trong dạy học phần “Công dân với kinh tế’’ chương trình Giáo dục công dân lớp 11 tại trường THPT Cầu Giấy - Hà Nội’’ cũng có những đánh giá bước đầu về tính hiệu quả của các dự án học học tập trong tổ chức dạy học môn GDCD ở THPT. Đồng thời, tác giả cũng đề xuất một số biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả tổ chức phương pháp dự án trong thực tiễn dạy học các nội dung kinh tế là một trong những nội dung khó nhất của chương trình GDCD ở THPT hiện nay. [16] Bên cạnh đó, còn có một số luận án tiến sĩ nghiên cứu chuyên sâu về phương pháp dự án gắn với các lĩnh vực đặc thù như: Luận án của Nghiên cứu sinh (NCS) Nguyễn Thị Diệu Thảo với đề tài: “Dạy học theo dự án và vận dụng trong đào tạo giáo viên THCS môn công nghệ”, Đại học sư phạm Hà Nội, năm 2009; Luận án của NCS Lê Khoa với đề tài: “Vận dụng phương pháp dạy học theo dự án trong dạy học kiến thức về sản xuất và sử dụng điện năng cho học sinh trung học phổ thông”, Đại học Sư phạm Thái Nguyên, năm 2015; Luận án của Nguyễn Ngọc Trang với nhan đề: “Dạy học dựa vào dự án trong đào tạo Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn công nghệ thông tin trình độ cao đẳng với sự hỗ trợ của Elearning”, viện Khoa học Giáo dục Việt Nam, năm 2017…. Với nhiều công trình, bài viết của các nhà khoa học trong và ngoài nước chứng tỏ, phương pháp dự án có vai trò quan trọng trong dạy học các môn khoa học nói chung và tổ chức dạy học môn GDCD nói riêng.

Đồng thời, phương pháp này còn có khả năng cộng hưởng, khai thác hiệu quả phương pháp dạy học khác trong một dự án dạy học, góp phần quan trọng trong đẩy mạnh và nâng cao chất lương dạy học trong giai đoạn hiện nay. Những vấn đề lý luận chung về phương pháp dự án trong dạy học 1. Quan niệm về phương pháp dạy học và phương pháp dự án (phương pháp dạy học dự án) 1. Quan niệm về phương pháp và phương pháp dạy học Phương pháp là một thuật ngữ bắt nguồn từ tiếng Hy Lạp “Methodos” nghĩa là con đường nghiên cứu, cách thức nhận thức, cách thức để đạt mục đích.

Trong thực tế, phương pháp còn được hiểu là hệ thống những quy tắc, nguyên tắc, quy phạm dùng để chỉ đạo kỹ thuật; tổ hợp các bước đi, các quy trình mà trí tuệ phải đi theo để tìm ra và chứng minh chân lý. Phương pháp cũng còn được hiểu là kế hoạch được tổ chức hợp lý trong ngành quản lý. Theo nghĩa chung nhất thì phương pháp là cách thức, là con đường, là phương tiện để đạt mục đích, là hoạt động được sắp sếp theo một trật tự nhất định để giải quyết những nhiệm vụ nhất định trong nhận thức và thực tiễn. Như vậy, với tư cách là con đường, cách thức để đạt mục đích, phương pháp bao gồm hai mặt: Mặt khách quan: là các quy luật khách quan chi phối đối tượng mà chủ thể (giáo viên) phải ý thức được như các quy luật tâm lý, lý luận dạy học… chi phối quá trình lĩnh hội tri thức của học sinh (đối tượng).

Mặt chủ quan: các thao tác và các phương tiện hướng vào đối tượng mà chủ thể (giáo viên) phải lựa chọn hợp với quy luật chi phối đối tượng (học sinh). Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn Hai mặt này có mối quan hệ ràng buộc chặt chẽ. Chính những cách thức và phương tiện được xây dựng nhờ những quy luật khách quan được dùng để tiếp cận và cải biến hiện thực, để thu lượm những kết quả mới tạo thành phương pháp. Các quy luật tự chúng không thể trở thành phương pháp nhưng thiếu chúng thì không thể có được phương pháp và phương tiện đúng đắn, không thể có phương pháp khoa học.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ