Chương 1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ LÝ LUẬN DẠY HỌC DÂN CA QUAN HỌ CHO TRẺ 5 – 6 TUỔI TẠI TRƯỜNG MẦM NON QUỐC TẾ WINSTON 1. Một số khái niệm và thuật ngữ Trong phần này, chúng tôi sẽ giải thích một số khái niệm như: Dân ca; Dân ca Quan họ; dạy học, dạy học dân ca Quan họ; phương pháp, phương pháp dạy học; biện pháp, biện pháp dạy học; trải nghiệm, dạy học theo hướng trải nghiệm… làm công cụ nghiên cứu cho đề tài của luận văn. Dân ca Có nhiều quan điểm khác nhau khi bàn về khái niệm dân ca. Để chỉ dân ca, người Anh dùng từ folk song (tạm dịch là bài ca dân gian), người Pháp dùng chữ chanson populaire (tạm dịch: bài ca phổ cập trong quần chúng), người Đức dùng từ volkslied (tạm dịch là bài ca của nhân dân).
Ở Việt Nam cũng có những quan điểm khác nhau về dân ca và chưa có khái niệm nào được coi là chính xác tuyệt đối. Sau đây là một số khái niệm về dân ca mà chúng tôi tìm hiểu, xin được trích dẫn: Theo Trần Văn Khê sau khi thăm quê hương Quan họ có nhận định rằng: “Dân ca là những bài hát truyền khẩu phát sinh trong dân chúng, được truyền tụng và phổ biến trong dân chúng” [26, tr. Tác giả Hoàng Phê chủ biên cuốn Từ điển tiếng Việt nói rằng: “Dân ca là bài hát lưu truyền trong dân gian, thường không rõ tác giả” [45, tr. Khái niệm này tuy ngắn gọn nhưng đã làm rõ được vấn đề cốt lõi có thể hiểu dân ca là những bài hát do dân sáng tác được lưu truyền từ đời này sang đời khác trong dân gian và thường không có tên tác giả sáng tác.
Trong cuốn Tìm hiểu dân ca Việt Nam của tác giả Phạm Phúc Minh có giải thích rõ hơn: "Dân ca là những bài hát cổ truyền do nhân dân sáng tác, được lưu truyền từ thế hệ này qua thế hệ khác và được nhân dân ca hát theo 9 phong tục tập quán của từng địa phương, từng dân tộc" [35, tr. Với cách giải thích của tác giả Phạm Phúc Minh đã nêu được đặc điểm của dân ca gắn với phong tục tập quán của từng vùng, địa phương, từng dân tộc. Như vậy, có thể thấy rằng những bài hát “dân ca” là sản phẩm của nhân dân, được truyền khẩu thế hệ này sang thế hệ khác, đời này qua đời khác và được lưu giữ lại trong nhân dân. Các bài hát dân ca được lưu truyền thường có nhiều dị bản khác nhau trở thành sản phẩm của tập thể và thường không rõ tác giả.
Như vậy, qua tham khảo các cách giải thích của các tác giả ở trên, chúng tôi xin tổng hợp lại và đưa ra khái niệm: Dân ca là những bài hát trong dân gian do một người hoặc tập thể người dân lao động sáng tạo, được lưu truyền từ thế hệ này qua thế hệ khác theo phương thức truyền miệng nên không rõ tên tác giả. Dân ca Quan họ Để hiểu rõ hơn về Dân ca Quan họ (Quan họ folk songs), chúng tôi xin trao đổi kỹ hơn về nghĩa của từ “Quan họ”, cũng như nguồn gốc dân ca Quan họ và một số thuật ngữ dùng trong Quan họ mà hiện vẫn có rất nhiều quan điểm khác nhau được lưu truyền lại 1. Nghĩa của từ Quan họ “Quan họ là nhóm người có cùng sở thích họ với một người đứng đầu được tôn xưng là quan”. Đó là lí giải của tác giả Nguyễn Khắc Bảo (2004) dựa vào bài Văn tế Trường lưu nhị nữ của thi hào Nguyễn Du, trong đó thi hào dùng từ Quan họ đối với các quân phường, chị em, trong làng - Là những từ chỉ “một nhóm người có chung một đặc điểm nào đó liên kết với nhau” [3, tr.
Tác giả Hồng Thao đã phát biểu: “Dù sao thì những cuộc bàn cãi về ý nghĩa của từ Quan họ, nếu không phải đưa đến một sự nhất trí thì ít nhất nó cũng làm cho mọi người mỗi ngày một thấy sáng rõ vấn đề hơn” [50, tr. 10 Quan niệm này biểu hiện rõ trong các giai thoại Lý Công Uẩn chạy giặc qua Bắc Ninh và các quan nhà Lý đi kinh lý xứ Bắc. Quan quân giặc nghe tiếng hát hay dừng lại nghe nhờ đó Lý Công Uẩn chạy thoát; các quan nhà Lý đang đi trên đường chợt nghe có tiếng hát từ cánh đồng vẳng lên, bèn dừng lại nghe. Như vậy, Quan họ là nói tắt của cụm từ “quan dừng lại”.
Ở đây, “quan” nghĩa là quan quân, quan lại, “họ” nghĩa là dừng lại [3, tr. Tác giả Hồng Thao còn cho rằng: “những liền anh, liền chị gọi nhau là “Quan họ” là “để đề cao, đồng thời để thi vị hóa bạn mình [50, tr. Với nhà nghiên cứu về văn hóa Quan họ Lê Danh Khiêm có viết: “Quan họ với tư cách là từ định danh (tên gọi). Khi tác giả nói Quan họ là “để đề cao, để thi vị hóa bạn mình”, tức là tác giả đang nói tới từ “Quan họ” đại từ chứ không phải là từ “Quan họ” danh từ - tên gọi như tên của bài viết” [27, tr.
Qua những quan điểm của các tác giả nêu trên, chúng tôi xin tóm lược về nghĩa của “Quan họ” như sau: Quan họ là thể loại dân ca đặc sắc, giai điệu đa dạng, các làn điệu rất phong phú, được truyền lại trong dân gian từ thế hệ này đến thế hệ khác dùng phương thức truyền khẩu. Hát Quan họ thường là lối hát đối đáp giao duyên giữa các “liền anh” và “liền chị”. Quan họ loại hình sinh hoạt văn hóa vô cùng độc đáo, là di sản văn hóa phi vật thể có giá trị to lớn góp phần bảo tồn văn hóa dân tộc. Vào ngày 30 tháng 9 năm 2009, Dân ca Quan họ Bắc Ninh là loại hình dân ca đầu tiên của Việt Nam được UNESCO công nhận là “Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại”.
Đây không chỉ là niềm vinh dự, tự hào của người dân vùng Kinh Bắc mà còn là niềm tự hào chung của người Việt Nam. Nguồn gốc dân ca Quan họ và một số thuật ngữ Có nhiều giai thoại về nguồn gốc ra đời của dân ca Quan họ: Giai thoại về liên tục kết thúc Điềm – Bự; Giai thoại về liên tục kết chạ Lũng Giang – 11 Tam Sơn; Giai thoại về liên tục kết nghĩa Bựu – Lũng Giang; Giai thoại về Trang Bửu tổ chức hát Đúm; Giai thoại Lý Công Uẩn trốn giặc; Giai thoại về làng Đình Bảng tổ chức giỗ Lý Công Uẩn; Giai thoại về việc các quan nhà Lý đi kinh lý xứ bắc; Giai thoại về tiếng hát của Ý Lan; Giai thoại về tiếng hát của bà Nhũ Hương; Giai thoại cho rằng Quan họ bắt nguồn từ hát Tuồng, chèo. Dù nó có nguồn gốc như thế nào đi chăng nữa thì Quan họ ngày nay không chỉ là lối hát giao duyên giữa liền anh và liền chị đơn thuần mà nó còn thể tình cảm yêu thích của họ với người nghe, thưởng thức. “Những tiêu chí dùng để xác định các làng Quan họ phản ánh được bản chất nội tại của sinh hoạt văn hóa Quan họ.
Cho nên, tiêu chí phải là những cơ sở, những điều kiện cần và đủ để bảo đảm cho làng có sinh hoạt văn hóa Quan họ thường xuyên và lâu dài” [18, tr. Một số thuật ngữ đặc thù: “Bọn”: “Là chỉ một tổ chức, tập thể người đồng chất về giới tính bọn Quan họ nam hoặc bọn Quan họ nữ. “Nhà chứa”: đơn giản chỉ là nhà để chứa bọn Quan họ. “Nhà chứa là nơi hội họp, tập luyện, nơi “ngủ bọn” của bọn Quan họ và lớp đàn em học nghề chơi.
“Ông trùm hoặc Bà trùm”: Các liền anh, liền chị đã lớn tuổi, không trực tiếp đi “chơi Quan họ” nữa, đứng ra (tập hợp lực lượng để thành lập bọn Quan họ, Những người này gọi là “ông trùm” (nếu là bọn Quan họ nam) hoặc “bà trùm” (nếu là bọn Quan họ nữ), Ông trùm, bà trùm làm nhiệm vụ quản lý, điều hành mọi hoạt động của bọn Quan họ [18, tr. “Chơi”: Nói đến chơi Quan họ là nói đến một lối chơi có quy củ, nền nếp, buộc người chơi phải tuân thủ theo luật chơi gồm nhiều thể loại: Hát đối đáp, giao duyên, hát canh, hát kết chạ, hát lễ hội, hát mời nước, mời trầu… 12 “Chơi thì thanh tao, khiêm nhường, có lề, có lối, phải giữ cái gốc. Nhưng không chỉ có thế, Quan họ còn có lối hát tự do, ngẫu hứng thể hiện sự phóng khoáng trong những canh hát” [3, tr. “Kết bạn”: “Ngày xưa, chỉ những bọn Quan họ kết bạn với nhau thì mới chơi Quan họ với nhau” [28, tr.
“Tên phiếm chỉ”: Quan họ đều phân định tên phiếm chỉ theo thứ thứ tự số lượng; Bọn nam: Anh Hai, anh Ba, anh Tư, anh Năm, anh Sáu. Bọn nữ: Chị Hai, chị Ba, chị Tư, chị Năm, chị Sáu. “Quan họ sử dụng nhiều nhã ngữ khi giao tiếp và ca hát, nghĩa là lối nói gián tiếp, tránh gọi tên trực tiếp các sự vật hiện tượng” [18, tr. Dạy học Dạy học là một hoạt động tương tác giữa hai đối tượng người dạy và người học (giữa thầy và trò) với mục đích chuyển các giá trị văn hóa, tinh thần, những hiểu biết mà nhân loại đã đạt được.
Quá trình hoạt động truyền (dạy) và lĩnh hội (học) từ các nguồn tri thức ta có thể hiểu là dạy học. Từ xưa người Việt Nam đã quan niệm rằng: người thầy là con đò của bến bờ tri thức đây là nhân tố rất quan trọng quyết định hình thành nhân cách, sự nghiệp giáo dục con người. Có vô số quan niệm về dạy học như: Tác giả Nguyễn Ngọc Quang trong cuốn Nguyễn Ngọc Quang - nhà sư phạm, người góp phần xây dựng lí luận dạy học nói rằng: “Học là quá trình tự giác, tích cực, tự chiếm lĩnh khái niệm khoa học dưới sự điều khiển khoa học của giáo viên” [47, tr. “Dạy là việc giáo viên điều khiển quá trình học sinh chiếm lĩnh khái niệm khoa học, để phát triển và hình thành nhân cách học sinh” [47, tr.
Tác giả Hồ Ngọc Đại (1983) đã viết trong cuốn Tâm lý học dạy học, Nxb giáo dục, Hà Nội, khi bàn về vấn đề dạy học: 13 Dạy học là một quá trình gồm toàn bộ các thao tác có tổ chức và có định hướng giúp người học từng bước có năng lực tư duy và năng lực hành động với mục đích chiếm lĩnh các giá trị tinh thần, các hiểu biết, các kỹ năng, các giá trị văn hóa mà nhân loại đã đạt được để trên cơ sở đó có khả năng giải quyết được các bài toán thực tế đặt ra trong toàn bộ cuộc sống của mỗi người học [9, tr.