CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ VIỆC VẬN DỤNG PHƯƠNG PHÁP TRÒ CHƠI “OLYMPIA” ĐỂ DẠY HỌC LẬP TRÌNH TIN 11 TRÊN NGÔN NGỮ C++ 1. Về cuộc thi “Đường lên đỉnh Olympia” Đường lên đỉnh Olympia là một cuộc thi kiến thức trên truyền hình dành cho học sinh Trung học phổ thông (nay chỉ dành cho học sinh lớp 11 - năm 2021) do Bộ Giáo dục và Đào tạo và Bansản xuất các chương trình giải trí (trước đây là Ban Thể thao Giải trí và Thông tin kinh tế) - Đài Truyền hình Việt Nam phối hợp tổ chức từ năm 1999. Đây là chương trình có tuổi đời dài nhất trong các trò chơi truyền hình của VTV3. Cán phần thi chính: a.
Khởi động Trong vòng 1 phút, mỗi học sinh khởi động với số câu hỏi không giới hạn thuộc các lĩnh vực: Toán, Lý, Hóa, Sinh, Văn, Sử, Địa, Tiếng Anh, Thể thao, Nghệ thuật, hiểu biết chung và các lĩnh vực khác. Mỗi câu trả lời đúng được 10 điểm. Trả lời sai không bị trừ điểm. Vượt chướng ngại vật Phần thi này có 4 từ hàng ngang – cũng chính là 4 gợi ý liên quan đến Chướng ngại vật mà các học sinh phải đi tìm.
Chương trình đưa ra 1 bức tranh (là một gợi ý quan trọng liên quan đến chướng ngại vật) được chia làm 5 phần: 4 góc tương đương với 4 từ hàng ngang và một ô thứ 5 ở giữa. Ô trung tâm cũng là một câu hỏi. Mở được ô này sẽ mở được phần quan trọng nhất của bức tranh. Mỗi học sinh có 1 lượt lựa chọn để chọn trả lời một trong các từ hàng ngang này.
Cả 4 học sinh trả lời câu hỏi bằng máy tính trong thời gian suy nghĩ 15 giây/câu. Trả lời đúng mỗi từ hàng ngang, học sinh được 10 điểm/câu. Tăng tốc Phần thi này có 4 câu hỏi với thời gian suy nghĩ là 30 giây/câu. Các thí sinh cùng trả lời bằng máy tính.
- Thí sinh trả lời đúng và nhanh nhất được 40 điểm; - Thí sinh trả lời đúng và nhanh thứ 2 được 30 điểm; - Thí sinh trả lời đúng và nhanh thứ 3 được 20 điểm; - Thí sinh trả lời đúng và nhanh thứ 4 được 10 điểm. Điểm tối đa đạt được cho 1 thí sinh là 160 điểm khi thí sinh trả lời cả 4 câu đúng và nhanh nhất. Về đích Phần thi về đích của Olympia 20 trở đi được trả lời dưới dạng mức điểm 10, 20 và 30 điểm; mỗi mức điểm sẽ có 3 câu hỏi, nhưng khác với 12 mùa trước, thí sinh được chọn 3 câu hỏi tùy ý. Do đó tổng điểm của 3 câu hỏi có thể là ít nhất 30 và nhiều nhất là 90 điểm.
Thời gian suy nghĩ và trả lời của câu 10 điểm là 10 giây, câu 20 điểm là 15 giây, câu 30 điểm là 20 giây. Thí sinh có quyền được đặt ngôi sao hy vọng một lần trước bất kỳ câu hỏi nào. Trả lời đúng được gấp đôi số điểm, trả lời sai bị trừ đi số điểm tương ứng với số điểm của câu hỏi đặt ngôi sao hy vọng. Về ngôn ngữ lập trình C++ C++ là ngôn ngữ lập trình đa nền tảng được phát triển mở rộng từ lập trình C vào năm 1979 bởi nhà khoa học máy tính Bjarne Stroustrup.
Lập trình C++ ngoài những điểm vốn có của lập trình C thì còn có thêm lập trình hướng đối tượng. Trong suốt thời gian phát triển của ngôn ngữ C, Microsoft không ngừng thực hiện nhũng dự án để hoàn thiện ngôn ngữ của mình, dự án bugnetproject do MS bắt đầu đã đánh dấu bước tiến mạnh mẽ trong sự phát triển của ngôn ngữ C++ cũng như bộ ngôn ngữ. C++ là ngôn ngữ cơ bản ở mức độ tầm trung tương đối dễ học và ứng dụng. Bởi lập trình C++ có những đặc tính gần giống với lập trình bậc cơ sở như (Pascal, C,…).
Một số ưu điểm của ngôn ngữ C/C++: - Học C++ tương đối thú vị và dễ học. Nó được coi là môn cơ sở ngành cho các trường đại học ở Việt Nam. - C++ đáp ứng được những bài toán có hiệu năng cao. Bên cạnh đó C++ còn có hướng đối tượng vì thế nên việc cập nhật, bảo trì sẽ trở nên dễ dàng hơn.
- C++ cung cấp cho bạn những kiến thức nền tảng, những tư duy về lập trình sơ khai. Vì thế nếu bạn thực hành tốt với C++ các bạn sẽ dễ dàng làm chủ các ngôn ngữ lập trình khác. - C++ là một trong số các ngôn ngữ lập trình được xếp vào nhóm biên dịch, và nó có thể hoạt động trên hầu hết các hệ điều hành như: Windows, MacOS và cả Unix. - Các ứng dụng của C++ cũng không thua kém gì so với những ngôn ngữ lập trình khác.
Đối với game có thể nói C++ là nền tảng hoàn hảo cho các lập trình viên khi lập trình game 3D.Chưa dừng lại ở đây C++ còn được ứng dụng trong tính toán và đồ họa, và còn nhiều hơn thế nữa.Về dạy học phát triển phẩm chất và năng lực học sinh Trong gần mươi năm trở lại đây, việc sử dụng các phương pháp dạy học tích cực trong giáo dục đã và đang phát triển rộng rãi trên mọi miền Tổ Quốc ở tất cả các cấp học như: dạy học phân nhóm nhỏ, dạy học giải quyết vấn đề, dạy học theo dự án, dạy học Stem, dạy học Pisa…v. Việc đổi mới phương pháp dạy học dựa trên sự đổi mới toàn diện không thể thiếu việc vận dụng các phương pháp dạy học tích cực nhằm phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo, giúp cho học sinh có cơ hội được hình thành và rèn luyện tổng thể các năng lực cơ bản của người học. Trong quá trình dạy học, 5 phẩm chất và 10 năng lực có thể hình thành cho học sinh được thể hiện như hình sau: Hình 1: Ảnh 5 phẩm chất và 10 năng lực được hình thành cho học sinh Bên cạnh những phẩm chất và năng lực chung cần giúp cho học sinh hình thành và phát triển năng lực đặc thù về CNTT và truyền thông (ICT) như là một công cụ để mở rộng khả năng tiếp nhận tri thức và sáng tạo trong bối cảnh bùng nổ thông tin, đáp ứng yêu cầu của thời đại số hóa và toàn cầu hóa biến quá trình đào tạo thành quá trình tự đào tạo. Cụ thể, trong nhóm phân môn Tin học cần hình thành và phát triển cho học sinh những năng lực như: - Năng lực sử dụng, quản lý các công cụ của ICT, bao gồm cả khả năng khai thác các ứng dụng thông dụng trên Internet và các dịch vụ kỹ thuật số khác để phục vụ cho học tập và đời sống; - Năng lực nhận biết và ứng xử đúng với quy định pháp luật trong sử dụng ICT, phù hợp với chuẩn mực đạo đức, văn hóa của xã hội Việt Nam và đảm bảo an toàn thông tin cho bản thân cũng như cộng đồng; - Năng lực phát hiện và giải quyết vấn đề một cách sáng tạo với sự hỗ trợ của các công cụ ICT; 6 skkn - Năng lực học và tự học với sự hỗ trợ của ICT, bao gồm khả năng khai thác các ứng dụng, các dịch vụ của công nghệ kỹ thuật số của môi trường ICT; - Năng lực sử dụng các công cụ và môi trường ICT để chia sẻ thông tin, hợp tác với mọi thành viên trong nhà trường, trong cộng đồng và trong xã hội để nâng cao hiệu quả công việc,nâng cao chất lượng cuộc sống.
Về kiểm tra đánh giá theo hướng phát triển phẩm chất và năng lực học sinh Đánh giá trong giáo dục là một quá trình thu thập, tổng hợp, diễn giải thông tin về đối tượng cần đánh giá một cách có hệ thống nhằm mục đích hiểu biết sâu và sử dụng các thông tin này để ra quyết định về học sinh. Hình thức và phương pháp kiểm tra đánh giá Việc đánh giá người học được tổ chức với nhiều hình thức đánh giá khác nhau, kết hợp giữa đánh giá quá trình trong hoạt động học và đánh giá kết quả sau học, cụ thể như: - Đánh giá bằng nhận xét sự tiến bộ về thái độ, hành vi và kết quả thực hiện các nhiệm vụ học tập của học sinh trong quá trình học tập môn học, hoạt động giáo dục quy định trong Chương trình giáo dục phổ thông do Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành. - Đánh giá bằng điểm số kết quả thực hiện các yêu cầu về chuẩn kiến thức, kĩ năng đối với môn học quy định trong Chương trình giáo dục phổ thông do Bộ trưởng Bộ Giáo dục và đào tạo ban hành. Kết quả đánh giá theo thang điểm 10, nếu sử dụng thang điểm khác thì phải quy đổi về thang điểm 10.
Việc kiểm tra, đánh giá định kì, gồm kiểm tra, đánh giá giữa kì và kiểm tra, đánh giá cuối kì, được thực hiện bài kiểm tra, đánh giá bằng điểm số: đề kiểm tra phải được xây dựng theo ma trận câu hỏi tự luận hoặc trắc nghiệm kết hợp với tự luận biên soạn theo mức độ cần đạt của các chương trình môn học, hoạt động giáo dục được thể hiện qua các phương pháp kiểm tra đánh giá sau: Hình 2: Ảnh về hệ thống các phương pháp kiểm tra đánh giá người học 7 skkn b. Mức độ yêu cầu của các câu hỏi trong đề kiểm tra đánh giá: Mức nhận biết: nhắc lại hoặc mô tả đúng kiến thức, kĩ năng đã học theo các bài học; Mức thông hiểu: giải thích, so sánh, áp dụng trực tiếp kiến thức, kĩ năng đã học theo các bài học; Mức vận dụng: vận dụng kiến thức, kĩ năng đã học để giải quyết vấn đề đặt ra trong các tình huống gắn với nội dung các bài học; Mức vận dụng cao: vận dụng kiến thức, kĩ năng đã học để giải quyết vấn đề đặt ra trong các tình huống mới, gắn với thực tiễn. THỰC TRẠNG VÀ NGUYÊN NHÂN 1.Về giáo viên Kết quả thăm dò 38 giáo viên (GV) dạy tại trường nơi tôi công tác về vận dụng các phương pháp dạy học tích cực vào tổ chức dạy học, chúng tôi thấy: Đa số GV đều sử dụng phương pháp truyền thống hoặc có đổi mới nhưng chưa thường xuyên và hiệu quả mang lại chưa cao; do cách tổ chức chưa thu hút học sinh, đặc biệt học sinh ham chơi, nhác học, lười suy nghĩ; Mặt khác với phương pháp dạy học tích cực đã và đang dùng chỉ có thể dạy hiệu quả ở các lớp chọn khá, giỏi; không hiệu quả ở các lớp bình thường và yếu. Câu hỏi kháo sát:Thầy (cô) thường dạy bài luyện tập kiến thức đã học bằng phương pháp nào và hiệu quả ra sao? Hãy nêu phương pháp và điền dấu (v) tích vào ô tương ứng?