CHƯƠNG I MỘT SỐ VẤN ĐỂ LÝ LUẬN c ơ BẢN VỂ ĐẦư T ư TRựC TIẾP NƯỚC NGOÀI VÀ HOÀN THIỆN c ơ CẤU NGÀNH KINH TẾ 1. MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN C ơ BẢN VỀ ĐAU t ư TRựC t i ế p NƯỚC NGOÀI (FDI) 1. Lịch sử vấn đề Đầu tư trực tiếp nước ngoài đã xuất hiện và phát triển cùng với sự ra đời và phát triển của chủ nghĩa tư bản. Các công ty của Hà Lan, Anh, Tây Ban Nha và Bổ Đào Nha đã đi tiên phong trong lĩnh vực này dưới hình thức đầu tư vốn và kỹ thuật vào các nước thuộc địa để khai thác tài nguyên (nông, lâm, hải sản và khoáng sản) cung cấp cho các ngành công nghiệp ở chính quốc.
Từ cuối thế kỷ 19 và đầu thế kỷ 20, cùng với sự lớn mạnh của nền kinh tế các nước Pháp, Đức, Mỹ., sức phát triển của FDI đã trở thành một trong những đặc trưng cơ bản của nền kinh tế các nước tư bản chủ nghĩa. Tuy nhiên, ngay trong giai đoạn đầu phát triển, tỷ trọng của vốn FDI trong tổng số vốn đầu tư quốc tế chưa phải lớn. Thậm chí cho đến vài thập kỷ gần đây, tức là trước khi có sự bùng nổ FDI toàn cầu, sự gia tăng của FDI trên qui mô quốc tế chủ yếu diễn ra dưới hình thái tiệm tiến, nghĩa là dựa vào nguồn tư bản "dư dôi" trong quá tình tích tụ và tập trung tư bản. Đổng thời, một xu hướng phát triển ngày càng gia tăng ở phía sau những diễn biến của việc mở rộng qui mô FDI là sự phân công lao động xã hội trên phạm vi toàn cầu đã diễn ra từ thấp đến cao, khiến cho nguồn tư bản "dư dôi" này luôn tìm thấy những cơ hội đầu tư mới ở nước ngoài.
Thêm vào đó, do tác động của nhiều nhủn tố đặc biệt là sự phát triển của khoa học công nghệ, sự thay đổi của chính sách bảo hộ mậu dịch và khả năng mở rộng thị trường của các nước đang phát triển và các nền kinh tế mới được công nghiệp hoá, không gian kinh tế cho các dòng di chuyên vốn đầu tư ngày 5 càng m ở rộng. Xu hướng vận động trên tuy mang tính khách quan, xuyên suốt toàn bộ lịch sử phát triển lâu dài của FDI, song những diễn biến cụ thể của sự vận động FDI lại chịu sự chi phối trực tiếp của nhiều nhân tố chính trị- xã hội khác nữa. Bản chất của vấn đề là ở chỗ sự vân động của FDI được qui định bởi các qui luật kinh tế khách quan. FDI chỉ là một trong số những biểu hiện của quá trình phân công lao động quốc tế và xã hội hoá sức sản suất xã hội trên qui mô quốc tế.
Những nhân tố tác động khác có thể kìm hãm hay đẩy nhanh việc mở rộng dòng di chuyển FDI, song nếu kìm hãm cũng không thể chấm dứt được việc di chuyển đi của FDI đến những nơi có lợi thế so sánh tốt hơn. Ngược lại, đẩy nhanh dòng di chuyển FDI cũng không thể vượt qua được những điều kiện hiện có của cả đối tượng đi đầu tư lẫn đối tượng tiếp nhận. Vì vậy, sự thay đổi thái độ từ ’’chống lại” qua “chấp nhận” đến “hoan nghênh” FDI có thể xem là những bước thay đổi nhận thức theo hướng ngày càng đúng hơn với các qui luật kinh tế vận động trong lĩnh vực đầu tư quốc tế. Ở mức độ khái quát nhất, sự thay đổi trong việc đánh giá FDI gắn với những thay đổi về điều kiện lịch sử, đặc biệt là từ sự sụp đổ của hệ thống XHCN thế giới và sự tan rã về mặt thể chế của Liên Xô (cũ) và các nước XHCN Đông Âu vào cuối những năm 80.
Đi đôi với sự kiện này, lĩnh vực FDI chịu tác động mạnh của xu hướng toàn cầu hoá, trong đó thị trường vốn quốc tế dưới hình thái FDI là một trong những lĩnh vực được giải phóng mạnh mẽ. Việc tham gia thị trường vốn đầu tư nói chung và FDI nói riêng, giờ đây không chỉ nằm trong phạm vi của những nước theo cơ chế kinh tế thị trường truyền thống, mà các thành viên đã mở rộng hầu như không có ngoại lệ ở phía “cầu” và thêm không ít những thành viên, nhất là những NTEs ở phía “cung”. Hơn nữa, một vấn đề khá quan trọng là môi trường đầu tư đã tạo thuận lợi ngày càng lớn cho sự di chuyển của FDI. Bài học thực tiễn từ các NIEs đặc biệt là nhóm NIEs Đông Á và gần đây là các nước trong khối ASEAN cho thấy tuy không phải bất cứ lúc nào 6 và b ít cứ ở đâu, những nước chậm phát triển hễ có FDI từ bên ngoài đổ vào là biến thành NIEs một cách nhanh chóng.
Tuy nhiên, những thành cồna của các nước này trong việc sử dụng FDI đã làm cho việc cạnh tranh thu hút FDI trở thành một trào lưu quốc tế imạnh mẽ kể từ giữa những năm 1980 trở lại đây. ở những nền kinh tế NIEs, FDI đã góp phẩn giải quyết một số vấn đề kinh tế chủ yếu trong thời kỳ đầu phát triển, thể hiện: • Cung cấp một nguồn vốn quan trọng từ bên ngoài, giải quyết tình trạng thiếu vốn. • Cung cấp những công nghệ, kỹ thuật tiên tiến mà những nước này thường rất thiếu. • Giải quyết tình trạng thiếu thị trường nhờ vào thị phần sẵn có của các công ty đa quốc gia tham gia đầu tư.
Ngoài ra, FDI còn góp phần cải thiện môi trường kinh doanh ở các nước nhận đầu hr như hoàn thiên hệ thống luật pháp, nâng cao năng lực quản lý kinh doanh, tạo việc làm cho người lao động, khai thác nguồn tài nguyên thiên nhiên tại chỗ và biến nó thành những sản phẩm có ý nghĩa kinh tế, mở rộng và phát triển khu vực dịch vụ, hình thành và phát triển thị trường vốn và mở mang quan hệ kinh tế đối ngoại. Tóm lại, do những thay đổi trong các quan hệ kinh tế quốc tế, đặc biệt là sự thay đổi vị thế của các quốc gia dưới tác động của cuộc cách mạng khoa học-công nghệ hiện đại, do sự phát triển trên qui mô lón các hình thái liên kết kinh tế của các công ty đa quốc gia được các mô hình NIEs Đông Á cổ vũ bằng thực tế sinh động của mình, cách nhìn nhận FDI đã thay đổi một cách cơ bản. Chưa bao giờ cuộc cạnh tranh thu hút FDI lại trở thành một trào lưu quốc tế rộng khắp khiến “cầu” vượt quá “cung” lớn như hiện nay. Khái niệm đầu tư trực tiếp nước ngoài Đầu tư trực tiếp nước ngoài là việc các nhà đầu tư (pháp nhân hoặc thể nhủn) đưa vốn bằng tiền hay bất kỳ tài sản nào vào nước tiếp nhận để thực hiện các hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ nhằm thu lợi nhuận 7 và đạt được những hiệu quả xã hội.
Đãy là loại hình di chuyển vốn quốc tế trong đó người chủ sở hữu về vốn đồng thời là người trực tiếp quản lý và điều hành việc sử dụng vốn. Đầu tư trực tiếp nước ngoài được thực hiện thông qua việc xây dựnơ các cơ sở, chi nhánh ở nước ngoài và làm chủ toàn bộ hay từng phần của cơ sở đó. Đây là hình thức đầu tư mà nhà đầu tư nước ngoài đóng góp một số vốn đủ lớn vào ĩĩnh vực sản xuất hoặc dịch vụ và cho phép họ trực tiếp tham gia điều hành đối tượng mà họ bỏ vốn đầu tư. Loại hình FDI có nhũng đặc điểm chủ yếu sau đây: Nhà đầu tư nước ngoài phải đóng góp một số lượng vốn tối thiểu theo quy định của luật đầu tư ở mỗi nước.
Ví dụ, Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam qui định tỷ lệ góp vốn tối thiểu của nhà đầu tư nước ngoài là 30% vốn pháp định của dự án. Tỷ lệ này ở Mỹ là 10%, còn một số nước khác là 20%. Quyền quản lý doanh nghiệp phụ thuộc vào tỷ lệ góp vốn. Nêu nhà đầu tư góp 100% vốn thì doanh nghiệp hoàn toàn do nhà đầu tư quản lý và điều hành.
Lợi nhuận của các nhà đầu tư nước ngoài thu được phụ thuộc vào kết quả hoạt động kinh doanh và được chia theo tỷ lệ góp vốn trong vốn pháp định sau khi nộp thuế cho nước sở tại và trả lợi tức cổ phần nếu có. Đầu tư trực tiếp nước ngoài có những ưu điểm sau: - Đối với nước xuất khẩu vốn đầu tư Nhà đầu tư nước ngoài trực tiếp tham dự vào quá trình điều hành hoạt động kinh doanh của xí nghiệp tuỳ theo mức độ góp vốn cho nên họ trực tiếp kiểm soát hoạt động của doanh nghiệp và đưa ra những quyết định có lợi nhất cho họ. Điều đó đảm bảo hiệu quả của việc sử dụng vốn đầu tư. Đầu tư trực tiếp giúp các nhà đầu tư chiếm lĩnh thị trường và nguồn nguyên liệu chủ yếu của nước sở tại, hạ thấp được chi phí sản xuất sản phẩm do khai thác dược nguồn nguyên liệu dồi dào, giá rẻ ở nước sở tại từ đó nâng cao tỷ suất lợi nhuận.
8 Đầu tư trực tiếp cho phép giúp các nhà đầu tư nước ngoài tránh được hàng rào bảo hộ mậu dịch của nước sở tại. Thông qua FDI nhà đáu tư nước ngoài xây dựng được các doanh nghiệp ở ngay trong nền kinh tế các nước thi hành chính sách bảo hộ. - Đối với cấc nước tiếp nhận FDI (nước sở tại) Loại hình FDI không qui định mức vốn góp tối đa, chỉ qui định mức tối thiểu, do vậy cho phép các nước sở tại tăng cường khai thác nguồn vốn bồn ngoài. FDI bổ sung vốn để bù đắp sự thiếu hụt vốn trong nước.
Hầu hết các nước, nhất là các nước đang phát triển đều có nhu cầu vốn để thực hiện công nghiệp hoá. Thực tế ở nhiều nước đang phát triển mà nổi bật là các nước ASEAN, FDI đã giải quyết một phần khó khăn về vốn nên đã thực hiện thành công quá trình công nghiệp hoá đất nước. Bân cạnh việc đưa vốn vào nước nhận đầu tư, hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài còn góp phần chuyển giao công nghệ, bí quyết kỹ thuật, hoàn thiện quản lý sản xuất kinh doanh, năng lực marketing. Nhà đầu tư khi đưa vốn vào đầu tư đã tiến hành tổ chức sản xuất kinh doanh mà sản phẩm làm ra phải đưực tiêu thụ ở thị trường nước chủ nhà hoặc lân cận.
Do vậy, họ phải đầu tư kỹ thuật, nâng cao chất lượng sản phẩm, và tăng sức cạnh tranh trên thị trường. Đầu tư FDI tạo điều kiện cho nước sở tại khai thác tốt những lợi thế về tài nguyên thiên nhiên, nguồn lao động, các yếu tố về địa lý.