CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN TRONG DOANH NGHIỆP 1. Tổng quan về các lý thuyết có liên quan đến doanh nghiệp và đầu tư phát triển doanh nghiệp 1. Doanh nghiệp Khái niệm về doanh nghiệp Theo Trần Thị Bạch Diệp (2008), doanh nghiệp là nơi trực tiếp tạo ra của cải vật chất trong quá trình hình thành và phát triển của mỗi quốc gia. Các doanh nghiệp sẽ kết hợp những yếu tố sản xuất theo cách tối ưu nhất có thể để tạo ra các loại hình hàng hóa, sản phẩm, dịch vụ khác nhau với mục tiêu đáp ứng được nhu cầu của người tiêu dùng.
Theo Luật doanh nghiệp (2005), doanh nghiệp chính là các tổ chức kinh tế có tên riêng, có tài sản và trụ sở giao dịch ổn định, các tổ chức kinh tế này được đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật để thực hiện các hoạt động sản xuất kinh doanh. Các loại hình doanh nghiệp Theo quan điểm của các nhà kinh tế học phương Tây, chỉ có 2 hình thức ở hữu trong hoạt động kinh doanh là sở hữu công cộng và sở hữu tư nhân. Sở hữu tư nhân được biểu hiện dưới nhiều hình thức. Tuy nhiên ở Việt Nam, phần đông các nhà kinh tế đều cho rằng có 3 hình thức sở hữu trong hoạt động kinh doanh là: Sở hữu công cộng, sở hữu tập thể, sở hữu tư nhân ngoài ra còn có rất nhiều hình thức kết hợp, đan xen lẫn nhau giữa các hình thức sở hữu nói trên dưới tên gọi sở hữu hỗn hợp tạo nên bức tranh đa dạng về các loại hình ở hữu trong nền kinh tế nước ta hiện nay.
Người điều hành và quản trị doanh nghiệp Nhà quản trị Kết quả tổng quan tài liệu cho thấy thuật ngữ quản trị có thể được giải thích theo nhiều cách khác nhay nên đến nay vẫn chưa có một định nghĩ thông nhất và được mọi người hoàn toàn chấp nhận. Một trong những định nghĩa có thể được xem là phổ biến nhất chính là định nghĩa về quản trị của Mary Parker Follet (1941) “Quản trị là nghệ thuật đạt được mục đích thông qua người khác”. Theo như định nghĩa này thì nhà quản trị sẽ tổ chức sắp xếp và giao việc cho người khác để thực hiện các công việc khác nhau nhằm đạt được mụctiêu của tổ chức chứ không tự mình đứng ra thực hiện công việc. Nhà lãnh đạo 5 Theo Nguyễn Phạm Thanh Nam và Trương Chí Tiến (2007), nhà lãnh đạo sẽ là người đứng đầu của một tổ chức, họ có năng lực điều khiển tất cả các hoạt động của tổ chức và chịu trách nhiệm đưa tổ chức đó hoàn thành các mục tiêu đã đặt ra.
Sự thành công của một nhà lãnh đạo phụ thuộc rất nhiều vào năng lực lãnh đạo nhân viên cấp dưới do đó mà nhà lãnh đạo thường phải là người có kinh nghiệm, ý chí,. Không những vậy, lãnh đạo còn phải là người biết cách thực hiện, chỉ dẫn, động viên và giúp đỡ người khác hoàn thành tốt các nhiệm vụ được giao. Thông thường, Giám đốc hoặc Tổng Giám đốc sẽ lãnh đạo cấp cao nhất trong doanh nghiệp. Như vạy, theo cách phân loại này thì nhà lãnh đạo cũng bao gồm Giám đốc.
Phân biệt nhà lãnh đạo và nhà quản trị Thông thường, mọi người hay nhầm lẫn giữa khái niệm “nhà lãnh đạo” với “nhà quản trị” hay “chủ doanh nghiệp”. Thực chất những đối tượng này là hoàn toàn không giống nhau nên cần phải được phân biệt. Theo Maxwell (1993), nhà lãnh đạo và nhà quản trị sẽ khác nhau cơ bản ở khả năng gây ảnh hưởng và tầm nhìn của họ. Nhà lãnh đạo sẽ có khả năng gây ảnh hưởng để tạo ra những thay đổi tích cực của tổ chức đã đặt ra.
Ngoài ra, nhà lãnh đạo sẽ có tầm nhìn hướng đến tương lai cho tổ chức, trong khi nhà quản trị thường tập trung vào những mục tiêu trước mắt. Thêm vào đó, Hickman (1990) cho rằng “trong khi nhà lãnh đạo là người cải cách thì nhà quản trị là người điều hành. Nếu nhà quản trị là người thực hiện hành động thì nhà lãnh đạo là người suy nghĩ. Cuối cùng, nhà quản trị nhìn thấy vấn đề và nhà lãnh đạo nhìn thấy tương lai”.
CEO Theo Lê Văn Hưởng (2016), CEO thường là người đại diện cho DN về mặt pháp luật và cũng là người chịu trách nhiệm quản lý, điều hành cao nhất trong DN. CEO thực hiện công việc điều hành DN nhằm mục đích mang lại lợi ích cho các nhóm đối tượng khác nhau. Trong đó nhóm thứ nhất sẽ là các cổ đồng (đại diện là hội đồng quản trị), nhóm thứ hai là khách hàng của DN và cuối cùng là các bên hữu quan. Hiệu quả hoạt động sản xuất của doanh nghiệp Hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh là một phạm trù kinh tế phản ánh việc các DN sử dụng nguồn lực để đạt được kết quả cao nhất trong kinh doanh với một chi phí thấp nhất.
Có nhiều quan điểm về cách đo lường hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh của DN tùy theo mục tiêu nghiên cứu. Tuy nhiên, theo kết quả tổng hợp của Tudose (2012) thì có thể chia thành hai quan điểm chính: quan điểm tài chính (đo lường bằng ROE, ROA, Tobin’s Q, EPS,…) và quan điểm về tổ chức (năng suất, sự tăng trưởng hay thậm chí là sự hài lòng của khách hàng,…). Khái niệm về đầu tư phát triển và đầu tư phát triển trong doanh nghiệp Đầu tư: Theo Bùi Xuân Phong (2006), đầu tư là hoạt động sử dụng các nguồn lực tài chính, nguồn lực vật chất, nguồn lực lao động và trí tuệ để phục vụ cho các hoạt động sản xuất kinh doanh trong một thời gian tương đối dài nhằm thu về lợi nhuận và lợi ích kinh tế xã hội. Đầu tư phát triển: Đầu tư phát triển là một bộ phận cơ bản của đầu tư, là việc sử dụng các nguồn lực ở hiện tại để tiến hành các hoạt động nhằm làm tăng thêm hoặc tạo ra những tài sản vật chất và tài sản trí tuệ, gia tăng năng lực sản xuất, tạo thêm việc làm và vì mục tiêu phát triển.
Xét về bản chất, đầu tư phát triển chính là đầu tư tài sản vật chất (nhà xưởng, máy móc thiết bị,…) và tài sản trí tuệ (tri thức, kỹ năng, sức lao động,…) trong đó người có tiền bỏ tiền ra để tiến hành các hoạt động nhằm tăng thêm hoặc tạo ra tài sản mới cho mình đồng thời cho cả nền kinh tế, từ đó làm tăng tiềm lực sản xuất kinh doanh và hoạt động sản xuất khác, là điều kiện chủ yếu tạo việc làm, nâng cao đời sống của mọi người dân trong xã hội. Đó chính là việc bỏ tiền ra để xây dựng, sữa chữa nhà cửa và kết cấu hạ tầng, mua sắm trang thiết bị và lắp đặt chúng, bồi dưỡng đào tạo nguồn nhân lực, thực hiện các chi phí thường xuyên gắn liền với sự hoạt động của tài sản nhằm duy trì hoặc tăng thêm tiềm lực hoạt động của các cơ sở đang tồn tại và bổ sung tài sản. Ngoài ra, đầu tư phát triển có thể hiểu là đầu tư nguồn lực hiện có (vốn vật chất, vốn con người) nhằm làm tăng thêm hoặc tạo ra tài sản cho cá nhân, tổ chức đồng thời cho cả nền kinh tế. Chính điều này sẽ giúp cải thiện được khả năng sản xuất kinh doanh, tạo ra nhiều việc làm mới, góp phần nâng cao đời sống của người dân trong xã hội.
Cụ thể, đầu tư phát triển được biểu hiện qua việc xây dựng, tu sửa nhà xưởng, máy móc thiết bị, trang bị cơ sở vật chất, hạ tầng hiện đại hơn, bồi dưỡng kiến thức, nâng cao kỹ năng cho nguồn nhân lực nhằm mục tiêu làm tăng thêm khả năng hoạt động của tổ chức và của cả nền kinh tế (Nguyễn Ngọc Mai, 1998). Đầu tư phát triển trong doanh nghiệp là hoạt động sử dụng các nguồn lực tài chính, nguồn lực vật chất, nguồn lực lao động và trí tuệ để xây dựng, sửa chữa nhà cửa và cấu trúc hạ tầng, mua sắm trang thiết bị và lắp đặt chúng trên nền bệ, bồi dưỡng đào tạo nguồn nhân lực, thực hiện chi phí thường xuyên gắn liền với hoạt động của các tài sản này nhằm duy trì tiềm lực mới cho nền kinh tế - xã hội, tạo ra việc làm và nâng cao đời sống của mọi thành viên trong xã hội. Vốn đầu tư của doanh nghiệp: Theo Tổng cục thống kê, khái niệm vốn đầu tư của DN được hiểu là số vốn phục vụ cho sản xuất kinh doanh của DN mà thực tế 7 DN chi ra để thực hiện mục đích đầu tư cho xây dựng cơ bản (xây dựng trụ sở làm việc, xây dựng nhà xưởng sản xuất, kho tàng,…); mua sắm TSCĐ dùng cho sản xuất không qua xây dựng cơ bản; sửa chữa, nâng cấp TSCĐ; bổ sung thêm vốn lưu động từ nguồn vốn tự có của DN; đầu tư cho nghiên cứu khoa học, phát triển công nghệ và nguồn nhân lực của DN nhằm tăng năng lực sản xuất kinh doanh của DN, hơn nữa thu về một giá trị kinh tế lớn hơn giá trị vốn đã bỏ ra ban đầu sau một chu kỳ hoạt động, hoặc sau một thời gian nhất định. Để có thể đo lường vốn đầu tư của DN, Tổng cục thống kê tiến hành chia theo các phân tổ sau: - Theo nguồn vốn đầu tư: bao gồm nguồn vốn từ ngân sách Nhà nước, trái phiếu Chính phủ, tín dụng đầu tư phát triển, vốn vay, vốn tự có và vốn khác.
- Chia theo khoản mục đầu tư: bao gồm đầu tư xây dựng cơ bản; mua sắm TSCĐ dùng cho sản xuất không qua xây dựng cơ bản; sửa chữa, nâng cấp TSCĐ; vốn lưu động bổ sung bằng vốn tự có; đầu tư cho nghiên cứu khoa học, phát triển công nghệ và nguồn nhân lực của DN. - Chia theo mục đích đầu tư: vốn đầu tư của DN chi ra nhằm mục đích nâng cao năng lực sản xuất của DN. DN hoạt động sản xuất kinh doanh ngành nào thì tính mục đích đầu tư cho ngành đó. Trường hợp DN hoạt động sản xuất kinh doanh đa ngành (một ngành chính và nhiều ngành khác) thì vốn đầu tư của DN cho ngành nào thì tính cho ngành đó.
- Chia theo tỉnh/thành phố trực thuộc Trung ương: là vốn đầu tư của DN để tăng năng lực của DN được thực hiện trên địa điểm đứng chân của DN. DN đứng chân tại tỉnh/thành phố nào thì vốn đầu tư được tính cho tỉnh/thành phố đó.