Chương 1: Lý luận chung về đầu tư phát triển từ nguồn vốn ngân sách. Chương 2: Thực trạng vốn đầu tư phát triển từ vốn ngân sách nhà nước tại thủ TỉnhViêng Chăn. Chương 3: Giải pháp nhằm tăng cường nguồn vốn đầu tư phát triển từ vốn ngân sách nhà nước trên điạ bàn Tỉnh Viêng Chăn. 5 CHƢƠNG 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ ĐẦU TƢ PHÁT TRIỂN NGUỒN VỐN NGÂN SÁCH NHÀ NƢỚC 1.
Khái niệm và đặc điểm của đầu tƣ phát triển bằng nguồn vốn NSNN 1. Khái niệm Ngân sách nhà nước là một phạm trù kinh tế, lịch sử. Khái niệm ngân sách nhà nước được đưa ra khác nhau tại mỗi quốc gia. Tại Lào, ngân sách nhà nước được quy đinh ̣ ta ̣i Luâ ̣t Ngân sách Nhà nước ban hành năm 2002, đươ ̣c hiểu là “toàn bộ các khoản thu, chi của Nhà nước đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định và được thực hiện trong một năm để bảo đảm thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước”.
Về bản chất, ngân sách thể hiện các quan hệ lợi ích giữa Nhà nước và các chủ thể như là doanh nghiệp, hộ gia đình, cá nhân trong và ngoài nước, gắn liền với quá trình tạo lập, phân phối và sử dụng quỹ ngân sách. Khái niệm đầu tư được đề cập nhiều trong hoạt động kinh tế xã hội, được hiểu như là quá trình bỏ nguồn lực để làm gia tăng tài sản của người sở hữu trong ngắn hạn hoặc dài hạn. Hoạt động đầu tư có vai trò quan trọng trong việc làm gia tăng tài sản của chủ sở hữu. Giá trị tài sản gia tăng có thể được hình thành từ việc chuyển dịch tài sản hoặc tăng tài sản đầu tư làm tăng năng lực mới.
Trong hai hình thức gia tăng tài sản nói trên, hình thức gia tăng bằng cách tăng tài sản có ý nghĩa quan trọng trong phát triển kinh tế. Đầu tư phát triển của Nhà nước là hình thức đầu tư phát triển trong đó, nhà nước là chủ thể tham gia quản lý. Hoạt động đầu tư của nhà nước có thể được thực hiện bởi bộ máy các cơ quan công quyền được phân cấp quản lý theo chức năng, quyền hạn được giao (ở cấp trung ương là chính phủ, ở cấp địa phương là UBND các cấp) hoặc thông qua các doanh nghiệp nhà nước. Các chủ thể tham gia hoạt động đầu tư được nhà nước cấp vốn hoặc phân quyền thực hiện đầu tư trong phạm vi cho phép.
Thông thường, nhà nước tham gia đầu tư vào các lĩnh vực đầu tư mà tư nhân khó có đủ năng lực, điều kiện thực hiện hoặc không được phép, không muốn thực 6 hiện. Các dự án mà nhà nước tiến hành đầu tư là các dự án kinh tế xã hội có vai trò quan trọng trong việc phát triển kinh tế xã hội khả năng thu hồi vốn thấp, khối lượng vốn lớn. Nguồn vốn đầu tư của nhà nước bao gồm: Vốn ngân sách nhà nước; vốn huy động của Nhà nước từ Trái phiếu Chính phủ, trái phiếu chính quyền địa phương, công trái quốc gia và các nguồn vốn khác của Nhà nước theo quy định của pháp luật, vốn tín dụng do nhà nước bảo lãnh, vốn tín dụng đầu tư phát triển của nhà nước. Đầu tư phát triển sử dụng vốn ngân sách nhà nước là một bộ phận của đầu tư phát triển của nhà nước.
Trong đó, nhà nước dùng nguồn ngân sách nhà nước để thực hiện các dự án đầu tư. Nguồn vốn ngân sách được nhà nước đầu tư vào các chương trình mục tiêu, xây dựng hệ thống hạ tầng kỹ thuật, hỗ trợ doanh nghiệp nhà nước, mua sắm tài sản công… Đây là hoạt động không những chỉ tạo ra tài sản mà còn duy trì hoạt động của những tài sản đó. Những tài sản đó bao gồm cả tài sản vật chất và phi vật chất. Do vậy, kết quả của hoạt động đầu tư khi được xem xét từ góc độ nền kinh tế thì nó cũng phải làm tăng thêm tài sản mới cho nền kinh tế.
Đặc điểm của đầu tư phát triển bằng nguồn vốn ngân sách 1. Đặc điểm về vốn và nguồn vốn hình thành Thứ nhất, ngân sách nhà nước gắn với chủ sở hữu là nhà nước, hoạt động ngân sách nhà nước chứa đựng mục đích chung, mục đích công cộng. Do đặc điểm này nên trong quá trình quản lý, yêu cầu phải có biện pháp quản lý chặt chẽ, sử dụng có hiệu quả. Việc sử dụng ngân sách phải tuân theo những nguyên tắc của Luật Ngân sách, thực hiện quy trình khép kín, được nhiều cơ quan nhà nước chuyên môn tham gia thẩm định.
Đồng thời, sử dụng ngân sách phải vì mục tiêu phát triển chung cho cộng đồng, toàn xã hội. Do đó, hoạt động đầu tư sử dụng vốn ngân sách phải thực hiện các dự án đầu tư có tác động, phục vụ nhu cầu chung, đó là các dự án đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng xã hội, dự án thực hiện các chương trình mục tiêu quốc gia, thực hiện đồ án quy hoạch phát triển kinh tế xã hội. Thứ hai, ngân sách được thực hiện theo nguyên tắc không hoàn trả trực tiếp là chủ yếu. Chính phủ thu thuế, phí của các cá nhân, tổ chức tham gia hoạt động 7 kinh tế trong xã hội nhưng không hoàn trả trực tiếp số thuế, phí ấy mà hoàn trả bằng cách thông qua phúc lơ ̣i công cô ̣ng , xây dựng các công trình đầu tư.
Các đối tượng đóng góp cho nguồn thu ngân sách được thụ hưởng miễn phí các dịch vụ mà nhà nước mang lại như đường sá, sân bay, bệnh viện, trường học… Thứ ba, ngân sách nhà nước là một công cụ quản lý. Ngân sách được sử dụng nhằm mục tiêu điều tiết nền kinh tế thông qua hoạt động thu, chi. Hoạt động thu liên quan trực tiếp đến chính sách thuế, phí; hoạt động chi liên quan đến điều tiết thị trường thông qua việc gia tăng hay cắt giảm chi tiêu công. Khi chính phủ muốn phát triển nền kinh tế, chính phủ tăng đầu tư công bằng cách phê duyệt nhiều danh mục dự án, bố trí vốn cho các dự án đầu tư ngược lại, khi chính phủ muốn giảm lạm phát, giảm chi tiêu công bằng cách thắt chặt ngân sách, hạn chế đầu tư.
Đặc điểm về lĩnh vực đầu tư Căn cứ theo mục đích khoản chi thì chi đầu tư phát triển bao gồm các nội dung: - Chi đầu tư xây dựng các công trình kết cấu hạ tầng kinh tế xã hội không có khả năng thu hồi vốn. Các công trình này nhằm đảm bảo kết cấu hạ tầng cho nền kinh tế quốc dân, bao gồm các loại công trình như: công trình giao thông, công trình kênh mương, công viên, trường học, bệnh viện. - Chi đầu tư hỗ trợ cho các doanh nghiệp, các tổ chức kinh tế của nhà nước; góp cổ phần, liên doanh, liên kết vào các công ty. Khoản chi này có tính chất định hướng cho hoạt động trong các lĩnh vực cần thiết.
- Chi lập các quỹ dự trữ nhà nước: Là khoản chi mua các loại hàng hóa nhằm bình ổn, hỗ trợ sản xuất kinh doanh trong, có tính chất dự phòng trong điều kiện nền kinh tế có nhiều bất ổn. - Chi đầu tư phát triển các chương trình mục tiêu quốc gia: Như các chương trình xóa đói giảm nghèo, chương trình nước sạch vệ sinh môi trường nông thôn, Chương trình này nhằm hỗ trợ thực thi chính sách, tạo công bằng xã hội. - Chi đầu tư phát triển khác. Căn cứ vào tính chất của chi đầu tư phát triển thì nội dung chi đầu tư phát triển được phân loại thành các khoản chi xây dựng cơ bản và các khoản chi không có tính chất xây dựng cơ bản.
8 - Chi đầu tư xây dựng cơ bản là các khoản chi đầu tư mới, đầu tư nâng cấp, cải tạo, sữa chửa các công trình kết cấu hạ tầng; xây dựng quy hoạch. Theo cơ cấu nguồn vốn thì chi đầu tư xây dựng cơ bản bao gồm các khoản chi: Chi xây lắp, chi thiết bị, chi khác. Thực chất chi đầu tư xây dựng cơ bản là quá trình phân phối, sử dụng ngân sách nhà nước để tái sản xuất tài sản cố định nhằm tạo ra, duy trì, gia tăng, hoàn thiện năng lực sản xuất của cơ sở vật chất tại địa phương, quốc gia. - Các khoản chi không có tính chất đầu tư xây dựng cơ bản: như chi cấp vốn ban đầu, chi cấp vốn pháp định, chi bổ sung vốn điều lệ, chi hỗ trợ cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước, chi mua sắm tài sản, hàng hóa cho các doanh nghiệp nhà nước, chi trợ cấp ưu đãi.
Đặc điểm về cơ cấu chi đầu tư Thứ nhất, xét về mục đích kinh tế - xã hội thì chi đầu tư phát triển của ngân sách nhà nước mang tính chất chi cho tích lũy. Chi đầu tư phát triển nhằm tạo ra cơ sở vật chất kỹ thuật, năng lực sản xuất phục vụ, tích lũy và làm gia tăng tài sản của nền kinh tế quốc dân. Mặt khác, các tài sản được hình thành từ hoạt động chi đầu tư phát triển đảm bảo tăng trưởng và phát triển xã hội. Do đó, chi đầu tư phát triển là khoản chi có tính chất tích lũy cho nền kinh tế.
Thứ hai, chi đầu tư phát triển là khoản chi lớn của nhà nước nhưng có tính chất không ổn định. Chi đầu tư phát triển là khoản chi nhằm tạo ra năng lực cơ sở vật chất kỹ thuật, đồng thời là “vốn mồi” để tạo ra môi trường đầu tư nhằm thu hút vốn đầu tư trong nước và nước ngoài theo định hướng trong từng thời kỳ. Do đó, tùy theo tình hình kinh tế, mục tiêu chính trị mà cơ cấu chi đầu tư phát triển của ngân sách có tính chất không đều nhau giữa các thời kỳ. Tỷ trọng, thứ tự ưu tiên chi đầu tư phát triển có sự thay đổi qua các thời kỳ khác nhau.
Thứ ba, phạm vi và mức độ chi đầu tư phát triển của ngân sách nhà nước luôn gắn liền với việc thực hiện mục tiêu kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của nhà nước. Chi đầu tư phát triển gắn với nhiệm vụ cụ thể kế hoạch phát triển kinh tế xã hội trong từng thời kỳ. Kế hoạch có ý nghĩa quyết định tới mức độ và thứ tự ưu tiên chi ngân sách. Chi đầu tư phải tuân thủ yêu cầu do kế hoạch đề ra.
Do đó, chi 9 đầu tư phát triền từ ngân sách nhà nước phải gắn với kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội qua từng thời kỳ khác nhau. Thứ tư, chi đầu tư phát triển có quan hệ chặt chẽ với chi thường xuyên.