Chương 1. MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ THỰC HIỆN PHÁP LUẬT KHUYẾN KHÍCH ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN NÔNG NGHIỆP CÔNG NGHỆ CAO 1. Khái niệm, đặc điểm, vai trò và yêu cầu của thực hiện pháp luật khuyến khích đầu tư phát triển nông nghiệp công nghệ cao 1. Các khái niệm liên quan 1.
Khái niệm nông nghiệp Nông nghiệp là một trong hai ngành sản xuất vật chất cơ bản nhằm cung cấp các sản phẩm về lương thực và thực phẩm cho xã hội và nguyên liệu cho công nghiệp chế biến. Theo Từ điển tiếng Việt do Hoàng Phê chủ biên: nông nghiệp là ngành sản xuất vật chất cơ bản của xã hội, cung cấp sản phẩm trồng trọt và sản phẩm chăn nuôi.1 Như vậy, theo quan niệm trên, nông nghiệp là ngành sản xuất có những đặc điểm khác với những ngành khác. Cụ thể như sau: Thứ nhất, quá trình sản xuất nông nghiệp phụ thuộc rất lớn vào điều kiện tự nhiên như khí hậu, đất đai,thời tiết… Thứ hai, tư liệu sản xuất trong nông nghiệp chủ yếu là ruộng đất. Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin, đây là một loại tư liệu sản xuất đặc biệt.
Do đó, nếu ứng dụng khoa học công nghệ vào sản xuất nông nghiệp sẽ đem lại năng suất cao, cải thiện đời sống của người dân. Khái niệm công nghệ, công nghệ cao Về khái niệm công nghệ, theo Từ điển Tiếng Việt: “Công nghệ là tổng thể các phương tiện kỹ thuật, các phương pháp tổ chức, quản lý được sử dụng vào quy trình sản xuất để tạo ra các sản phẩm vật chất và dịch vụ” 2. Như vậy, 1 Hoàng Phê, 2000, Từ điển Tiếng Việt, NXB Đà Nẵng. 2 Viện Ngôn ngữ học, 2018, Từ điển Tiếng Việt, NXB Hồng Đức.
8 công nghệ bao gồm các khâu: điều tra, nghiên cứu, thử nghiệm, sản xuất thử…, các vấn đề thông tin, tư vấn, đào tạo trong quá trình áp dụng. Công nghệ chính là bản thân những thao tác, khai thác, chế tạo, vận chuyển, lưu trữ, kiểm tra và là một phần của quá trình sản xuất chung. Ở góc độ pháp luật thực định, tại Điều 3 Luật Khoa học và Công nghệ Việt Nam (2013) đã xác định: “Công nghệ là giải pháp, quy trình, bí quyết kỹ thuật có kèm theo hoặc không kèm theo công cụ, phương tiện dùng để biến đổi nguồn lực thành sản phẩm”. Đây là khái niệm mang tính khái quát cao, tương đối đầy đủ với cách tiếp cận gần với đối tượng nghiên cứu của kinh tế chính trị học.
Từ những cách diễn đạt, luận giải nêu trên, có thể hiểu: Công nghệ là phương tiện kỹ thuật, là sự thể hiện vật chất hoá các tri thức để ứng dụng vào sản xuất hay công nghệ là tập hợp các cách thức có phương pháp và được sử dụng và quá trình sản xuất trong các ngành sản xuất. Về khái niệm công nghệ cao, theo quan điểm của Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế (OECD), công nghệ cao được hiểu là công nghệ có ý nghĩa chiến lược đối với quốc gia, có các sản phẩm và quy trình công nghệ được đổi mới nhanh chóng, có tác động mạnh mẽ đối với sự hợp tác và cạnh tranh quốc tế trong nghiên cứu và phát triển, sản xuất và chiếm lĩnh thị trường thế giới. Trong khi đó, ở Việt Nam, theo Luật Công nghệ cao (2008) thì “công nghệ cao là công nghệ có hàm lượng cao về nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ, được tích hợp từ thành tựu khoa học và công nghệ hiện đại, tạo ra sản phẩm có chất lượng, tính năng vượt trội, giá trị gia tăng, thân thiện với môi trường, có vai trò quan trọng đối với việc hình thành ngành sản xuất, dịch vụ mới hoặc hiện đại hoá ngành sản xuất, dịch vụ hiện có”. Như vậy, có thể hiểu công nghệ cao là công nghệ áp dụng thành tựu nghiên cứu khoa học mới, hiện đại, có độ chính xác cao để tạo ra sản phẩm có chất lượng vượt trội, hiệu quả kinh tế cao; đồng thời đảm bảo thân thiện với môi trường.
Khái niệm nông nghiệp công nghệ cao Theo Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn thì “Nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao là nền nông nghiệp được áp dụng những công nghệ mới vào sản xuất, bao gồm: công nghiệp hóa nông nghiệp (cơ giới hóa các khâu của quá trình sản xuất), tự động hóa, công nghệ thông tin, công nghệ vật liệu mới, công nghệ sinh học và các giống cây trồng, giống vật nuôi có năng suất và chất lượng cao, đạt hiệu quả kinh tế cao trên một đơn vị diện tích và phát triển bền vững trên cơ sở canh tác hữu cơ”. Như vậy, có thể hiểu “nông nghiệp công nghệ cao là sự ứng dụng khoa học công nghệ phù hợp với điều kiện tự nhiên, xã hội vào quá trình sản xuất nông nghiệp tạo ra sản phẩm nông nghiệp có năng suất cao, an toàn, giá trị kinh tế vượt trội so với sản phẩm nông nghiệp truyền thống; đồng thời đảm bảo môi trường bền vững”. Quan niệm về phát triển nông nghiệp công nghệ cao Phát triển được hiểu là quá trình biến đổi lên tục theo hướng “đi lên” cả về lượng và chất. Nếu ở góc độ nông nghiệp thì phát triển nông nghiệp được hiểu là ứng dụng những tiến bộ của khoa học kỹ thuật làm tăng năng suất lao động trong lĩnh vực nông nghiệp, chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa, đồng thời nâng cao đời sống của người nông dân.
Phát triển nông nghiệp công nghệ cao là hoạt động chủ động của các chủ thế thông qua cơ chế, chính sách để phát triển nông nghiệp, tác động đến cơ cấu nông nghiệp bằng việc ứng dụng những công nghệ tiên tiến nâng cao hoạt động sản xuất nông nghiệp, tạo ra bước đột phá về năng suất và chất lượng sản phẩm, thỏa mãn nhu cầu ngày càng cao của con người, đặc biệt là đảm bảo sự phát triển bền vững, đem lại lợi ích cho người nông dân và các chủ thể tham gia. Phát triển nông nghiệp công nghệ cao có thể hiểu như sau: 10 - Lựa chọn ứng dụng vào từng lĩnh vực sản xuất nông nghiệp hàng hoá những công nghệ tiến bộ nhất về giống, công nghệ canh tác, chăn nuôi tiên tiến, công nghệ tưới, công nghệ sau thu hoạch - bảo quản - chế biến. Từng bước ứng dụng công nghệ thông tin vào quản lý, xây dựng thương hiệu và xúc tiến thị trường - Sản phẩm NNCNC là sản phẩm hàng hoá mang tính đặc trưng của từng vùng sinh thái, đạt năng suất và hiệu quả kinh tế cao trên đơn vị diện tích, có khả năng cạnh tranh cao về chất lượng với các sản phẩm cùng loại trên thị trường trong nước và thế giới, có điều kiện mở rộng quy mô sản xuất và sản lượng hàng hoá khi có yêu cầu của thị trường. - Sản xuất NNCNC tạo ra sản phẩm phải theo một chu trình khép kín, trong sản xuất khắc phục được những yếu tố rủi ro của tự nhiên và hạn chế rủi ro của thị trường.
- Phát triển NNCNC theo từng giai đoạn và mức độ phát triển khác nhau, tuỳ tình hình cụ thể của từng nơi, nhưng phải thể hiện được những đặc trưng cơ bản, tạo ra được hiệu quả to lớn hơn nhiều so với sản xuất bình thường. Phát triển NNCNC có vai trò quan trọng đối với phát triển kinh tế - xã hội, nâng cao đời sống của người dân, cụ thể như: NNCNC góp phần quan trọng vào tăng năng suất lao động, nâng cao chất lượng sản phẩm, thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế; NNCNC góp phần nâng cao trình độ nguồn nhân lực nông thôn, hướng đến sự chuyên nghiệp, hiện đại; NNCNC góp phần quan trọng vào việc giải quyết các vấn đề xã hội ở nông thôn; NNCNC góp phần nâng cao sức cạnh tranh quốc tế trong nông nghiệp của Việt Nam. Khái niệm thực hiện pháp luật khuyến khích đầu tư phát triển nông nghiệp công nghệ cao Pháp luật là hệ thống những quy tắc xử sự mang tính bắt buộc chung do Nhà nước ban hành hoặc thừa nhận và đảm bảo thực hiện, thể hiện ý chí 11 của giai cấp thống trị và là nhân tố điều chỉnh các quan hệ xã hội phát triển phù hợp với lợi ích của giai cấp mình. Pháp luật là công cụ quan trọng nhất để Nhà nước duy trì sự ổn định của xã hội.
Đối với các doanh nghiệp khởi nghiệp, các biện pháp hỗ trợ mà Chính phủ các nước thực hiện đều tập trung vào việc giúp giải quyết các khó khăn của doanh nghiệp khởi nghiệp đồng thời tạo hành lang pháp lý thuận lợi để doanh nghiệp phát triển trên cơ sở điều kiện kinh tế xã hội, nguồn lực thế mạnh của mỗi quốc gia như: xây dựng pháp luật hỗ trợ về vốn, xây dựng pháp luật hỗ trợ về tín dụng, xây dựng pháp luật hỗ trợ về thuế, xây dựng pháp luật hỗ trợ các lĩnh vực khác. Trong khi đó, các quan hệ kinh tế quốc tế không chỉ bao hàm quan hệ thương mại hàng hóa và đầu tư, mà còn bao hàm các hoạt động hợp tác khoa học và chuyển giao công nghệ, nâng cao năng lực công nghệ của các bên hữu quan. Ngay trong quan hệ trao đổi hàng hóa và đầu tư cũng đã chứa đựng sự chuyển giao và phát triển khoa học và công nghệ. Phát triển nền NNCNC vừa góp phần khai thác tiềm năng lợi thế nông nghiệp Việt Nam đồng thời cũng góp phần giúp Việt Nam hội nhập sâu rộng vào nền kinh tế quốc tế.
Bên cạnh đó, quá trình hội nhập đã tạo điều kiện cho ngành nông nghiệp tiếp tục đẩy mạnh ứng dụng khoa học công nghệ (KHCN), nâng cao năng suất chất lượng, khả năng cạnh tranh nông, lâm, thủy sản và tăng cường hệ thống tiêu chuẩn kỹ thuật, an toàn vệ sinh thực phẩm. Trong đó, sự gia tăng cạnh tranh với hàng hóa nhập khẩu và doanh nghiệp nước ngoài đã tạo sức ép tích cực lên doanh nghiệp và các nhà sản xuất. Việc cải tiến KHCN, đầu tư phát triển sản phẩm được coi là yếu tố quan trọng hàng đầu trong sản xuất, giúp nâng cao chất lượng và an toàn vệ sinh thực phẩm, nâng cao năng suất, đáp ứng nhu cầu, thị hiếu của người tiêu dùng và tiêu chuẩn chất lượng của các thị trường tiêu dùng khó tính. Nhiều kỹ thuật tiên tiến và các tiêu chuẩn kỹ thuật như VietGAP, ISO, HACCP… trong lĩnh vực sản xuất giống cây trồng, vật nuôi, nuôi trồng và chế biến thủy sản đã và đang được áp dụng tại Việt Nam.
Các 12 tiêu chuẩn quốc gia về an toàn thực phẩm và kiểm dịch động, thực vật của Việt Nam có tỷ lệ hài hòa với tiêu chuẩn quốc tế tham chiếu ngày càng tăng.