phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo; nội dung luận án được kết cấu thành 4 chương với 12 tiết. 11 Chƣơng 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN 1. TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU Ở NƢỚC NGOÀI LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI 1. Các nghiên cứu lý thuyết về thu hút đầu tƣ vào nông nghiệp 1.
Nghiên cứu về các nhân tố ảnh hưởng tới đầu tư vào nông nghiệp Theo hướng nghiên cứu này, đã có một vài công trình nghiên cứu được thực hiện, trong đó, đáng chú ý tới nghiên cứu “Các nhân tố ảnh hưởng tới đầu tư trong lĩnh vực nông nghiệp” của tác giả Nguyễn Đức Thành năm 2008 [57]. Nghiên cứu này đã thực hiện rà soát và tổng kết các nghiên cứu lý thuyết quốc tế về mô hình đầu tư nói chung và đầu tư trong nông nghiệp nói riêng nhằm hệ thống hóa các nhân tố ảnh hưởng tới đầu tư trong nông nghiệp. Các nghiên cứu đều hướng tới việc xác định các nhân tố ảnh hưởng đến đầu tư trong nông nghiệp. Các lý thuyết đã chỉ ra các nhân tố sau đây có ảnh hưởng đến đầu tư nói chung là giá của các yếu tố đầu vào cho sản xuất, giá đầu ra, cầu về sản phẩm, rủi ro của ngành và mức thuế.
Đối với riêng ngành nông nghiệp, các nghiên cứu đã chỉ ra các nhân tố ảnh hưởng đến đầu tư là khả năng tiếp cận thị trường, mức ổn định và rõ ràng về quyền tài sản, đặc biệt là đất đai, khả năng tiếp cận nguồn tín dụng và công cụ tài chính vi mô, khả năng tiếp cận các công cụ bảo hiểm, kết cấu hạ tầng, khả năng tiếp cận thông tin, khả năng tiếp cận tri thức và công nghệ, bản quyền phát minh sáng chế, truyền thống cộng đồng (xã hội) trong hợp tác, sức mạnh của các tổ chức xã hội đoàn thể, thuế, phí, đặc điểm của hộ sản xuất nông nghiệp, các nguồn lực, thu nhập, mức tiết kiệm của hộ sản xuất. Ngoài ra, các điều kiện bên ngoài khác như trình độ hiện tại của toàn bộ nền nông nghiệp, nền nông nghiệp ở vào giai đoạn phát triển nào, điều kiện khí hậu, thổ nhưỡng đặc thù của vùng, đặc tính của ngành hàng, môi trường chính trị, pháp luật, môi trường 12 hành chính ở địa phương, trình độ quản lý hành chính công ở địa phương các cấp… cũng ảnh hưởng tới thu hút đầu tư vào nông nghiệp. Trên cơ sở tổng kết, nghiên cứu này đã hệ thống hóa và chỉ ra rằng, các nghiên cứu quốc tế cho rằng có hai nhóm nhân tố tạo ra ảnh hưởng cùng chiều và trái chiều tới hành vi đầu tư của doanh nghiệp. Nhóm nhân tố có ảnh hưởng cùng chiều với lượng đầu tư (các nhân tố càng tăng về quy mô thì lượng đầu tư càng tăng) bao gồm: (1) Giá đầu ra (khuynh hướng của ngành); (2) khuynh hướng năng suất của ngành; (3) cầu của ngành trong dài hạn; (4) khả năng tiếp cận thị trường; (5) mức ổn định và rõ ràng về quyền tài sản; (6) khả năng tiếp cận nguồn tín dụng và công cụ tài chính; (7) khả năng tiếp cận các công cụ bảo hiểm; (8) cơ sở hạ tầng; (9) khả năng tiếp cận thông tin; (10) khả năng tiếp cận tri thức và công nghệ; (11) đảm bảo về quyền phát minh, sáng chế; (12) trình độ hiện thời của nền nông nghiệp (tự cung tự cấp; hỗn hợp và chuyên môn hóa); (13) điều kiện khí hậu thổ nhưỡng.
Nhóm nhân tố có ảnh hưởng ngược chiều với lượng đầu tư (các nhân tố càng tăng về quy mô thì lượng đầu tư càng giảm): (1) mức lãi suất; (2) Giá các yếu tố đầu vào; (3) mức thuế phải nộp; (4) mức độ rủi ro, bất trắc của ngành; (5) thủ tục hành chính. Các nghiên cứu này tuy không đề cập tới các biện pháp thu hút đầu tư nhưng cũng đã góp phần xây dựng cơ sở cho các nghiên cứu nối tiếp liên quan đến việc xây dựng chính sách của Nhà nước để hỗ trợ khu vực nông nghiệp. Bởi vì bản chất của chính sách hỗ trợ nông nghiệp bền vững, kể cả đầu tư công, không phải hướng đến những kết quả ngắn hạn của quá trình sản xuất, mà phải hướng tới việc xây dựng một nền tảng để khuyến khích đầu tư tư nhân vào khu vực nông nghiệp. Việc phát hiện đúng đắn các nhân tố ảnh hưởng là cơ sở để định hướng cho hoạt động cải cách về pháp lý, hành chính và tài chính công trong khu vực nông nghiệp.
Đồng thời, góp phần giúp quy hoạch, xác định mục tiêu, cách thức và khuôn khổ các can thiệp của Nhà nước vào lĩnh vực này [57].2 Nghiên cứu về chính sách thu hút đầu tư Ở hướng nghiên cứu này, một số tác giả đã tập trung phân tích các chính sách của chính phủ đối với nông nghiệp và thu hút đầu tư của doanh nghiệp vào nông nghiệp. Có thể tới một số nhà kinh tế học nổi tiếng như David Colman và Trevor Young (1994) [6], Frank Ellis (1995) [25].,… Chỉ khi những nhận thức về vai trò và tầm quan trọng của nông nghiệp được hiểu đúng, đủ thì vai trò và tầm quan trọng của việc thu hút đầu tư vào nông nghiệp mới được coi trọng. Nói cách khác, sự phát triển của các quan niệm về thu hút đầu tư vào nông nghiệp gắn liền với sự phát triển trong nhận thức về vai trò của nông nghiệp. Sang thập kỷ 60 của thế kỷ XX, cuộc “Cách mạng xanh” mở ra khả năng cân đối an ninh lương thực trên thế giới và nhiều nước đang phát triển dựa chủ yếu vào nông nghiệp để tiến hành công nghiệp hóa, vai trò của nông nghiệp đã trở nên tích cực hơn đối với sự phát triển kinh tế.
Do vậy, nông nghiệp được ưu tiên đầu tư. Tuy nhiên, vai trò này chỉ nhằm mục tiêu đóng góp cho công nghiệp hóa. Những năm 1970, nông nghiệp được xem xét dưới một góc độ tổng quát hơn, gắn với việc đáp ứng những nhu cầu căn bản và phân phối lại lợi ích từ quá trình phát triển kinh tế và xã hội nông thôn. Trong các chương trình và chính sách xuất hiện thuật ngữ phát triển nông thôn tổng hợp, trong đó xóa đói giảm nghèo, phát triển nông thôn, phát triển cộng đồng được gắn với hoạt động sản xuất nông nghiệp (Frank Ellis và Stephen Biggs, 2001).
Theo Frank Ellis (1995), có 9 chính sách chủ yếu ảnh hưởng tới sản xuất nông nghiệp là: Đất đai, đầu tư, tín dụng, thị trường, giá cả, thủy lợi, cơ giới hóa, nghiên cứu, lương thực và an ninh lương thực. Ông đã chia các chính sách đó và chỉ ra sự ảnh hưởng của nó đến sản xuất nông nghiệp.[25] Nghiên cứu của P.Timmer & McCulloch (2005) chỉ ra rằng, hoạt động của các doanh nghiệp chịu sự kiểm soát và hỗ trợ của hàng loạt các chính sách. Một là, các chính sách cụ thể ảnh hưởng đến doanh nghiệp: Chính sách của chính phủ 14 hỗ trợ phát triển doanh nghiệp. Hai là, các quy định và luật liên quan đến kinh doanh: bao gồm các quy định quản trị hoạt động của doanh nghiệp bao gồm việc đăng ký và các yêu cầu báo cáo.
Ba là, chính sách, các quy định và luật pháp liên quan đến thuế: bao gồm các loại thuế như thuế thu nhập, thuế lợi nhuận, thuế hàng hoá và dịch vụ. Bốn là, các quy định, luật liên quan đến lao động: liên quan chặt chẽ đến chất lượng công việc, lao động. Năm là, quy định, luật, chính sách liên quan đến xuất khẩu, thương mại: gồm các chính sách định lượng (hạn ngạch nhập khẩu, giấy phép) và phi định lượng (thuế), cản trở nhập khẩu, hạn chế xuất khẩu. Sáu là, quy định, luật, chính sách tài chính, tín dụng: quy định, luật, chính sách tài chính ảnh hưởng tới sự tiếp cận của doanh nghiệp về vốn, tài chính, khấu hao…Bảy là, chính sách liên quan đến giáo dục: tác động tới sự phát triển của doanh nghiệp có thể trực tiếp hoặc gián tiếp.
Tám là, các chính sách liên quan đến đổi mới: hỗ trợ phát triển thương mại giữa các doanh nghiệp và đẩy mạnh đổi mới công nghệ. Chín là, chính sách, luật, quy định liên quan đến môi trường: liên quan đến các quy định về môi trường và có tác động tới hoạt động kinh doanh và định hướng của doanh nghiệp [84, tr 6].2 Các nghiên cứu thực chứng về thu hút đầu tƣ vào nông nghiệp ở các quốc gia 1.1 Nghiên cứu thực chứng ở các nước phát triển Năm 1991, Halvorsen, trong bài viết “Tác động của thuế lên đầu tư vào nông nghiệp”, đăng trên tạp chí Kinh tế và Thống kê, số 73, đã nghiên cứu sự ảnh hưởng của chính sách thuế lên đầu tư vào nông nghiệp ở Mỹ. Ông sử dụng mô hình kinh tế lượng để ước lượng ảnh hưởng của Đạo luật cải cách thuế ở Mỹ năm 1986 lên đầu tư nông nghiệp nước này. Kết quả cho thấy, việc bãi bỏ hình thức tín dụng thuế đầu tư (một hình thức tăng thuế đánh vào đầu tư nông nghiệp) đã làm giảm tổng đầu tư trong khu vực nông nghiệp, đồng thời tạo ra sự dịch chuyển đầu tư vào công cụ sản xuất sang nhà xưởng.
Cụ thể, hình thức tín dụng thuế là hình thức Chính phủ cho phép doanh nghiệp nợ thuế trong 15 khoảng thời gian nhất định và đánh mức lãi suất cố định tương ứng như đối với các khoản vay tín dụng. Năm 1961 là năm đầu tiên hình thức tín dụng thuế được giới thiệu, theo đó, Chính phủ áp dụng mức lãi suất từ 7% chi phí đầu tư của doanh nghiệp, đối với những doanh nghiệp nợ thuế trên 8 năm, cho tới 0% đối với doanh nghiệp nợ thuế dưới 4 năm. Hình thức này ngay lập tức làm giá thuê công cụ giảm 6,5% và nhà xưởng giảm 2,6%, khiến lượng đầu tư vào công cụ lao động của doanh nghiệp vào nông nghiệp tính trong năm 1962 tăng 205 triệu đô la Mỹ, chiếm 56,7% tổng đầu tư vào công cụ của cả nước. Năm 1969 và 1970, hình thức này không được áp dụng đã khiến cho giá công cụ tăng, lượng đầu tư công cụ vào nông nghiệp giảm.
Năm 1971, hình thức này được áp dụng trở lại, một lần nữa khiến lượng đầu tư tăng lên. Tính trong giai đoạn 1962 – 1978, lượng đầu tư đã tăng 712 triệu đô la Mỹ so với giai đoạn trước, chiếm 3,2% lượng đầu tư vào công cụ của cả nước, và theo như tác giả ước tính, lượng đầu tư này đã tăng 1,4% so với mức đầu tư xảy ra nếu hình thức tín dụng thuế không được đưa ra.2 Nghiên cứu thực chứng ở các nước đang phát triển Nông nghiệp là ngành kinh tế quan trọng ở nhiều quốc gia, nhất là các nước đang phát triển.