Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Trong tiến trình đổi mới và hội nhập kinh tế quốc tế, đầu tư công giữ vai trò là một cấu phần quan trọng của tổng đầu tư phát triển, đóng vai trò nền tảng và là động lực thúc đẩy tăng trưởng kinh tế cùng quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế tại Việt Nam. Đặc biệt, trong bối cảnh các nguồn lực từ khu vực tư nhân và tiêu dùng suy giảm do tác động tiêu cực của đại dịch COVID-19, đầu tư công trở thành công cụ đòn bẩy then chốt giúp phục hồi các hoạt động kinh tế - xã hội. Theo các công bố từ Tổng cục Thống kê, việc gia tăng giải ngân vốn đầu tư công mang lại tác động lan tỏa tích cực đến tốc độ tăng trưởng Tổng sản phẩm quốc nội (GDP). Việc quản lý và phân bổ hiệu quả nguồn vốn này có ý nghĩa quyết định đối với việc hoàn thiện hệ thống kết cấu hạ tầng kỹ thuật - xã hội, phát triển các vùng kinh tế trọng điểm, cũng như bảo đảm an sinh xã hội và an ninh quốc phòng. Ngược lại, tình trạng phân bổ dàn trải, thiếu tập trung sẽ dẫn đến nguy cơ lãng phí ngân sách và gia tăng áp lực nợ công.
Nhận thức rõ tầm quan trọng của nguồn vốn này, Chính phủ Việt Nam đã ban hành nhiều khung khổ pháp lý và giải pháp điều hành như Nghị quyết số 11/NQ-CP ngày 24/02/2011 về việc kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, bảo đảm an sinh xã hội (trong đó nhấn mạnh giải pháp cắt giảm đầu tư công, giảm bội chi ngân sách) và Nghị định số 99/2021/NĐ-CP ngày 11/11/2021 quy định về quản lý, thanh toán, quyết toán dự án sử dụng vốn đầu tư công. Mặc dù đã đạt được nhiều thành tựu trong việc hiện đại hóa cơ sở hạ tầng và thu hút nguồn lực ngoài nhà nước, hoạt động đầu tư công tại Việt Nam trong giai đoạn 2011-2020 vẫn bộc lộ một số hạn chế như: tiến độ giải ngân chậm, phân bổ vốn còn phân tán, cơ chế giám sát và phân cấp quản lý còn những điểm chồng chéo. Xuất phát từ bối cảnh đó, khóa luận tốt nghiệp "Vai trò của đầu tư công đối với phát triển kinh tế Việt Nam giai đoạn 2011-2020" của tác giả Lê Thu Ngân được thực hiện nhằm cung cấp các căn cứ thực nghiệm về kết quả đạt được và các hạn chế, từ đó đề xuất giải pháp cho giai đoạn tiếp theo.
Mục tiêu tổng quát của khóa luận là hệ thống hóa cơ sở lý luận về đầu tư công và vai trò của đầu tư công đối với phát triển kinh tế - xã hội; đánh giá thực trạng hoạt động đầu tư công tại Việt Nam giai đoạn 2011-2020; từ đó đề xuất các kiến nghị chính sách nhằm phát huy vai trò của nguồn vốn này đến năm 2025. Để hoàn thành mục tiêu tổng quát, đề tài xác định 5 mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:
- Hệ thống hóa cơ sở lý thuyết về đầu tư công và vai trò của đầu tư công đối với phát triển kinh tế - xã hội.
- Phân tích thực trạng kết quả đầu tư công ở Việt Nam giai đoạn 2011-2020.
- Đánh giá vai trò của đầu tư công đối với phát triển kinh tế - xã hội ở Việt Nam.
- Phân tích hạn chế trong triển khai đầu tư công ở Việt Nam.
- Dựa vào các quy định pháp lý về đầu tư công, đề xuất các giải pháp nhằm giải quyết các hạn chế trong hoạt động đầu tư công và phát huy hơn nữa vai trò của đầu tư công trong phát triển kinh tế - xã hội ở Việt Nam trong thời gian tới.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài được xác lập rõ ràng:
- Đối tượng nghiên cứu: Vai trò của đầu tư công đối với phát triển kinh tế - xã hội ở Việt Nam.
- Phạm vi không gian: Hoạt động đầu tư công trên phạm vi lãnh thổ Việt Nam.
- Phạm vi thời gian: Tập trung phân tích dữ liệu thực trạng và đánh giá tác động trong giai đoạn 10 năm từ 2011 đến 2020, gắn liền với thời kỳ thực hiện Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2011-2020.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp
Khóa luận xây dựng nền tảng lý luận dựa trên các nguyên lý kinh tế học vĩ môn và các văn bản quy phạm pháp luật hiện hành về quản lý tài chính công. Về mặt lý thuyết, đề tài tiếp cận khái niệm đầu tư từ góc độ tích lũy tư bản và hình thành năng lực sản xuất mới; đồng thời vận dụng lý thuyết tổng cầu của trường phái Keynes để luận giải vai trò kích thích kinh tế của đầu tư công thông qua cơ chế số nhân tài chính. Định nghĩa pháp lý về đầu tư công được trích dẫn trực tiếp từ khoản 15 Điều 4 Luật Đầu tư công năm 2019: "Đầu tư công là hoạt động đầu tư của Nhà nước vào các chương trình, dự án và đối tượng đầu tư công khác theo quy định của Luật này". Bên cạnh đó, các quy định tại Luật Đầu tư công năm 2014 cũng được sử dụng để phân loại chương trình mục tiêu quốc gia và chương trình mục tiêu cấp tỉnh.
Khung phân tích của khóa luận tiếp cận phát triển kinh tế trên ba phương diện cơ bản:
- Tăng trưởng kinh tế: Đo lường thông qua sự gia tăng về quy mô GDP/GNP và các nhân tố thúc đẩy (vốn tư bản, nhân lực, tài nguyên thiên nhiên, tri thức công nghệ và các yếu tố thể chế).
- Chuyển dịch cơ cấu kinh tế: Sự thay đổi tỷ trọng hợp lý giữa các ngành (nông nghiệp, công nghiệp, dịch vụ; nhóm ngành kết cấu hạ tầng và sản xuất), giữa các vùng kinh tế và các thành phần kinh tế.
- Đảm bảo công bằng xã hội: Đánh giá mức độ bình đẳng trong phân phối thu nhập, cơ hội tiếp cận dịch vụ công cơ bản dựa trên 4 nguyên tắc cốt lõi: bình đẳng, công bằng, quyền và sự tham gia.
Về phương pháp nghiên cứu, đề tài kết hợp ba phương pháp phân tích phi thực nghiệm trên chuỗi dữ liệu thứ cấp:
- Phương pháp tổng quan tài liệu: Sử dụng để hệ thống hóa cơ sở lý luận, tổng thuật các công trình nghiên cứu trong nước (như nghiên cứu của Vũ Tuấn Anh, Vũ Như Thăng, Bùi Trinh, Nguyễn Đình Cung, Hoàng Thị Chinh Thon) và quốc tế (công trình của Dale W. Jorgenson) về hiệu quả đầu tư công và hệ số ICOR.
- Phương pháp thống kê mô tả: Thu thập, xử lý và biểu diễn các chỉ tiêu thống kê về quy mô vốn, tốc độ tăng trưởng, tỷ trọng cơ cấu vốn đầu tư công qua các năm trong giai đoạn 2011-2020.
- Phương pháp so sánh, đối chiếu: So sánh tốc độ tăng trưởng vốn giữa các khu vực kinh tế (Nhà nước, ngoài Nhà nước, FDI), giữa các thời kỳ 2011-2015 và 2016-2020, cũng như giữa các cấp quản lý ngân sách (Trung ương và Địa phương).
Nguồn dữ liệu thứ cấp phục vụ nghiên cứu được trích xuất từ các cơ quan quản lý và xuất bản phẩm chính thống:
- Niên giám thống kê các năm 2011, 2015, 2016, 2018, 2020 của Tổng cục Thống kê (TCTK).
- Cổng thông tin điện tử Công khai Ngân sách Nhà nước – Bộ Tài chính.
- Báo cáo Sách trắng Doanh nghiệp Việt Nam năm 2019.
- Dữ liệu từ Kết quả Tổng điều tra Dân số và Nhà ở các năm 2009, 2019 và Kết quả Khảo sát mức sống dân cư của Tổng cục Thống kê.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Cơ sở lý luận về đầu tư công và vai trò của đầu tư công với phát triển kinh tế
Chương 1 tập trung làm rõ các khái niệm cơ bản, đặc điểm, đối tượng, nội dung và các nguyên tắc vận hành của hoạt động đầu tư công. Tác giả phân tích các đặc trưng cơ bản của đầu tư công bao gồm: chủ thể đầu tư là Nhà nước; nguồn vốn huy động từ Ngân sách Nhà nước (NSNN), vốn vay chính phủ, trái phiếu và vốn doanh nghiệp nhà nước (DNNN); mục tiêu đầu tư hướng đến cung cấp hàng hóa công cộng, khắc phục các khiếm khuyết của thị trường và phát triển cơ sở hạ tầng. Chương này phân chia cơ cấu đầu tư công theo ba tiêu chí:
- Theo nguồn vốn: Vốn NSNN, vốn tín dụng đầu tư phát triển, vốn DNNN và vốn hỗn hợp đối tác công tư (PPP).
- Theo ngành: Cơ cấu giữa hạ tầng và sản xuất vật chất; cơ cấu công nghiệp - nông nghiệp - dịch vụ; cơ cấu khối ngành chủ đạo và các ngành còn lại.
- Theo vùng lãnh thổ: Phân bổ nguồn lực giữa các vùng kinh tế trọng điểm và các địa bàn kém phát triển.
Bên cạnh đó, chương 1 phân tích mối quan hệ hữu cơ giữa đầu tư công và phát triển kinh tế, khẳng định đầu tư công đóng vai trò là "vốn mồi" dẫn dắt các nguồn lực đầu tư tư nhân, trực tiếp gia tăng năng lực sản xuất thông qua hệ thống kết cấu hạ tầng kỹ thuật và thực hiện chức năng tái phân phối thu nhập nhằm bảo đảm tiến bộ xã hội.
Chương 2: Vai trò của đầu tư công đối với phát triển kinh tế ở Việt Nam giai đoạn 2011-2020
Chương 2 trình bày bức tranh toàn diện về thực trạng và tác động của đầu tư công tại Việt Nam trong giai đoạn 10 năm dựa trên các chuỗi số liệu thống kê.
Thực trạng quy mô và cơ cấu đầu tư công:
Trong giai đoạn 2011-2020, tổng vốn đầu tư phát triển toàn xã hội đạt xấp xỉ 15 triệu tỷ đồng, duy trì tốc độ tăng bình quân 10,6%/năm. Trong đó, nguồn vốn từ NSNN và trái phiếu Chính phủ chiếm khoảng 3,1 triệu tỷ đồng, tương đương 20,8% tổng vốn đầu tư xã hội. Tổng vốn đầu tư thực hiện toàn xã hội tăng 2,46 lần từ năm 2011 đến năm 2020. Tốc độ tăng vốn có sự khác biệt rõ rệt giữa các khu vực kinh tế: khu vực ngoài Nhà nước có mức tăng nhanh nhất đạt 3,14 lần (tăng bình quân 11%/năm); khu vực Nhà nước tăng từ 342,9 nghìn tỷ đồng năm 2011 lên 729 nghìn tỷ đồng năm 2020, tương ứng mức tăng 2,13 lần (tăng bình quân 7,7%/năm); khu vực có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) tăng 2,05 lần (từ 226,5 nghìn tỷ đồng lên 463,3 nghìn tỷ đồng, tăng bình quân 10,8%/năm). Tỷ trọng của khu vực kinh tế Nhà nước trong tổng đầu tư xã hội có xu hướng giảm tương đối do sự tăng trưởng vượt bậc của khu vực tư nhân, dù quy mô vốn tuyệt đối của Nhà nước vẫn liên tục tăng.
Về cơ cấu nguồn vốn trong khu vực Nhà nước, vốn NSNN giữ vị trí chủ đạo, luôn chiếm trên 40% tổng vốn thực hiện (năm 2011 đạt 52,6%). Chi đầu tư phát triển (ĐTPT) từ NSNN năm 2011 đạt 208.306 tỷ đồng, chiếm 26,03% tổng chi NSNN. Phân bổ theo ngành cho thấy lĩnh vực kinh tế chiếm tỷ trọng lớn nhất với mức bình quân 65,1% cả giai đoạn (năm cao nhất 2013 đạt 67,7%; năm 2019 đạt 63,x%); lĩnh vực xã hội chiếm trung bình khoảng 27,x% (năm 2011-2012 đạt 28,4%; năm 2015 đạt 25%). Xét theo mức tăng vốn từ 2011 đến 2020: ngành y tế và trợ giúp xã hội tăng mạnh nhất (3,07 lần), bán buôn - bán lẻ và sửa chữa ô tô xe máy tăng 2,95 lần, kinh doanh bất động sản tăng 2,84 lần, hoạt động chuyên môn KH&CN tăng 2,75 lần, công nghiệp chế biến chế tạo tăng 2,7 lần; trong khi ngành hành chính và dịch vụ hỗ trợ chỉ tăng 0,35 lần và khai khoáng tăng 0,37 lần. Trong cơ cấu 10 năm, ngành công nghiệp chế biến chế tạo chiếm bình quân cao nhất (khoảng 25,x%), ngành khai khoáng giảm liên tục từ 7,43% (năm 2011) xuống mức thấp nhất vào năm 2020.
Về phân cấp quản lý, tỷ lệ vốn đầu tư thực hiện do địa phương quản lý chiếm ưu thế với bình quân 56,34% (năm 2011 đạt 56,34%), trong khi Trung ương quản lý đạt mức cao nhất vào năm 2016 là 48,1% và giảm xuống 40,34% vào năm 2020. Đối với khu vực DNNN, số liệu Sách trắng Doanh nghiệp 2019 chỉ ra rằng tính đến năm 2018 có 2.468 DNNN (chiếm 0,4% tổng số doanh nghiệp), quản lý hơn 3,7 triệu tỷ đồng tài sản và 1,6 triệu tỷ đồng vốn chủ sở hữu, tạo ra 0,214 triệu tỷ đồng lợi nhuận trước thuế, đóng góp 0,3 triệu tỷ đồng vào NSNN và tạo 1,2 triệu việc làm. Tuy nhiên, khối DNNN bộc lộ hạn chế về hiệu quả sử dụng nguồn lực khi nắm giữ tới 60% nguồn lực xã hội nhưng chỉ đóng góp gần 40% GDP và 12,6% vào NSNN (trong khi khu vực tư nhân và FDI đóng góp 60% GDP, nộp NSNN lần lượt hơn 17% và hơn 15%). Trong Kế hoạch đầu tư công trung hạn 2016-2020, Chính phủ đã giao gần 1.556 nghìn tỷ đồng (đạt 90,8% vốn phê duyệt), thực hiện hoàn thành 3.354 dự án (chiếm 66,2% tổng số dự án) và khởi công mới 2.807 dự án.
Tác động của đầu tư công đến tăng trưởng và chuyển dịch cơ cấu:
Đầu tư công giai đoạn 2011-2020 đã tạo nên bước chuyển biến căn bản về kết cấu hạ tầng kỹ thuật quốc gia:
- Giao thông: Đưa vào khai thác 880 km đường bộ cao tốc; hoàn thành nâng cấp Quốc lộ 1A và đường Hồ Chí Minh đoạn qua Tây Nguyên; nâng cấp hệ thống cảng hàng không, đường thủy và đường sắt.
- Năng lượng: Đưa vào vận hành nhiều nhà máy nhiệt điện quy mô trên 1.000 MW như Duyên Hải 1 (1.200 MW năm 2016), Duyên Hải 3 (1.200 MW năm 2017), Vĩnh Tân 4 (1.200 MW năm 2017); hoàn thành cấp điện lưới quốc gia cho các vùng sâu, vùng xa, biên giới và hải đảo.
- Viễn thông: Mở rộng mạng lưới cáp quang và thử nghiệm thành công mạng di động thế hệ 5G từ sớm.
Về mặt chuyển dịch cơ cấu kinh tế, đầu tư công tạo hiệu ứng lan tỏa mạnh mẽ đến các ngành trụ cột:
- Ngành Bất động sản: Đóng góp 0,6 điểm phần trăm vào tăng trưởng kinh tế chung; để tăng 1% giá trị gia tăng (GTGT), ngành cần giải ngân 4,53% vốn đầu tư (tương ứng để tăng 1 đồng GTGT cần 1,86 đồng vốn đầu tư).
- Ngành Xây dựng: Đóng góp 0,9 điểm phần trăm vào tốc độ tăng trưởng GDP; cần 2,25% vốn đầu tư để tăng 1% GTGT (tương ứng cần 0,76 đồng vốn đầu tư để tạo ra 1 đồng GTGT).
- Đô thị hóa: Tỷ lệ đô thị hóa cả nước năm 2020 đạt 39,3%, tạo xung lực cho thị trường đất đai và dịch vụ đô thị phát triển.
Tác động đến đảm bảo công bằng xã hội:
Việt Nam dành 21% ngân sách nhà nước cho phúc lợi xã hội (mức chi cao nhất khu vực Đông Nam Á). Thành tựu cụ thể gồm:
- Hoàn thành hơn 20.000 công trình hạ tầng thiết yếu và 6.000 công trình tại các địa bàn nghèo; giúp 71/311 xã (giai đoạn 2011-2015) và 92/291 xã (giai đoạn 2016-2019) thoát khỏi tình trạng đặc biệt khó khăn; 90 xã đạt chuẩn nông thôn mới và 2 xã chuyển đổi thành phường/thị trấn.
- Tỷ lệ hộ nghèo giảm bình quân 2%/năm giai đoạn 2010-2015 (từ 14,2% năm 2010 xuống dưới 4,5% năm 2015; các huyện nghèo giảm từ 58,3% xuống 28%). Giai đoạn 2016-2019 (theo chuẩn nghèo đa chiều), tỷ lệ hộ nghèo giảm bình quân 1,53%/năm (từ 7,75% xuống mức thấp hơn). Thu nhập bình quân đầu người của nhóm nghèo nhất năm 2020 đạt 1,13 triệu đồng/tháng (tăng 151 nghìn đồng so với năm 2019).
- Giáo dục: Tỷ lệ đi học đúng tuổi bậc tiểu học năm 2009 là 95,3%, đến năm 2019 tỷ lệ đi học chung đạt: tiểu học 101,0%, THCS 92,8%, THPT 72,3%; tỷ lệ xóa mù chữ đạt 98%.
- Y tế: Đến 31/12/2020, tỷ lệ bao phủ bảo hiểm y tế (BHYT) đạt 90,85% dân số (87,96 triệu người), trong đó NSNN đóng và hỗ trợ mức đóng cho hơn 51 triệu người (chiếm 58% số người tham gia BHYT, chiếm 37% tổng số tiền thu BHYT). Có 92,8% trạm y tế xã đủ điều kiện KCB BHYT, 94,4% xã đạt tiêu chí quốc gia về y tế xã.
Chương 3: Giải pháp và kiến nghị nhằm phát huy vai trò của đầu tư công đối với phát triển kinh tế ở Việt Nam đến năm 2025
Chương 3 trình bày các định hướng của Nhà nước về đầu tư công trong kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn mới và đề xuất 4 nhóm giải pháp đối với cơ quan nhà nước:
- Sử dụng hiệu quả các nguồn vốn đầu tư công: Tập trung vốn cho các công trình trọng điểm có tính liên kết vùng, khắc phục dứt điểm tình trạng đầu tư dàn trải, nâng cao tiến độ giải ngân vốn đầu tư công và kiểm soát thất thoát, lãng phí ngân sách.
- Tiếp tục cơ cấu vốn đầu tư vào các lĩnh vực đem lại hiệu quả cao: Ưu tiên bố trí vốn cho cơ sở hạ tầng giao thông kết nối, hạ tầng số, các dự án năng lượng tái tạo, y tế cơ sở, giáo dục đào tạo và các công trình ứng phó với biến đổi khí hậu, xâm nhập mặn.
- Hoàn thiện khung pháp lý về cơ chế phân cấp đầu tư: Rà soát, sửa đổi các quy định pháp luật mâu thuẫn, chồng chéo; làm rõ trách nhiệm giữa Trung ương và chính quyền địa phương trong công tác thẩm định, phê duyệt và giám sát dự án đầu tư công.
- Nâng cao năng lực, trách nhiệm của cơ quan nhà nước có thẩm quyền: Tăng cường năng lực chuyên môn của đội ngũ cán bộ quản lý dự án, nâng cao tính minh bạch, trách nhiệm giải trình và ứng dụng công nghệ thông tin trong theo dõi, đánh giá tiến độ dự án.
Kết quả và đóng góp
Khóa luận đã tổng hợp và lượng hóa bức tranh đầu tư công tại Việt Nam trong suốt một thập kỷ (2011-2020), chỉ ra những chuyển dịch thực chất về quy mô, cơ cấu và tác động kinh tế - xã hội.
| Chỉ tiêu thống kê / Kinh tế - Xã hội |
Giai đoạn 2011-2015 |
Giai đoạn 2016-2020 / Mốc 2020 |
| Quy mô vốn ĐTPT toàn xã hội (10 năm) |
~15 triệu tỷ đồng (tăng bình quân 10,6%/năm; NSNN & TPCP chiếm 20,8%) |
|
| Tăng trưởng vốn khu vực Ngoài Nhà nước |
3,14 lần (bình quân tăng 11%/năm, cao nhất trong 3 khu vực) |
|
| Tăng trưởng vốn khu vực Nhà nước |
342,9 nghìn tỷ đồng (2011) |
729 nghìn tỷ đồng (2020) (tăng 2,13 lần) |
| Tỷ trọng phân bổ ngành kinh tế vs xã hội |
Lĩnh vực kinh tế bình quân 65,1%; Lĩnh vực xã hội bình quân ~27,x% |
|
| Cơ cấu phân cấp quản lý vốn Nhà nước |
Địa phương quản lý bình quân 56,34%; Trung ương quản lý bình quân 43,66% |
|
| Hạ tầng giao thông cao tốc hoàn thành |
- |
880 km đường cao tốc đưa vào vận hành |
| Tỷ lệ hộ nghèo cả nước |
Giảm từ 14,2% (2010) xuống <4,5% (2015) |
Giảm bình quân 1,53%/năm (chuẩn nghèo 2016-2020) |
| Độ bao phủ Bảo hiểm Y tế (BHYT) |
- |
90,85% dân số (87,96 triệu người tham gia) |
| Tỷ lệ đô thị hóa toàn quốc |
- |
39,3% (năm 2020) |
Về mặt đóng góp học thuật và chính sách, tác giả đã:
- Hệ thống hóa tương đối đầy đủ chuỗi số liệu thứ cấp từ Niên giám thống kê và các báo cáo chính thức của Bộ Tài chính, TCTK để phản ánh thực chất xu hướng suy giảm tỷ trọng tương đối nhưng tăng về quy mô tuyệt đối của khu vực Nhà nước trong tổng đầu tư xã hội.
- Chỉ rõ mối quan hệ định lượng giữa vốn đầu tư và mức tăng giá trị gia tăng ở các ngành Bất động sản (1% GTGT cần 4,53% vốn đầu tư) và ngành Xây dựng (1% GTGT cần 2,25% vốn đầu tư).
- Đề xuất hệ thống giải pháp gắn liền với định hướng hoàn thiện khung pháp lý về phân cấp đầu tư công và nâng cao hiệu quả hoạt động của khu vực DNNN đến năm 2025.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Hạn chế được đề cập trong văn bản:
- Khóa luận chỉ ra rằng hoạt động đầu tư công tại Việt Nam trong giai đoạn nghiên cứu vẫn tồn tại tình trạng giải ngân chậm, phân bổ vốn còn phân tán, dàn trải; một số quy định về quản lý, giám sát đầu tư còn chồng chéo, mâu thuẫn gây khó khăn trong quá trình thực thi dự án.
- Khu vực DNNN dù nắm giữ nguồn lực lớn (hơn 3,7 triệu tỷ đồng tài sản năm 2018, chiếm 60% nguồn lực xã hội) nhưng mức đóng góp vào GDP (gần 40%) và thu NSNN (12,6%) chưa tương xứng với tiềm năng.
- Về phạm vi dữ liệu, nghiên cứu dựa trên việc tổng hợp số liệu thứ cấp vĩ mô giai đoạn 2011-2020 nên một số chỉ tiêu kinh tế năm 2020 mới dừng lại ở mức số liệu sơ bộ theo báo cáo thống kê tại thời điểm công bố.
Hướng nghiên cứu tiếp:
- Mở rộng nghiên cứu đánh giá tác động định lượng trung và dài hạn của các dự án đầu tư công thực hiện trong Kế hoạch đầu tư công trung hạn 2016-2020 sang giai đoạn 2021-2025.
- Nghiên cứu chuyên sâu về hiệu quả phân cấp đầu tư công giữa chính quyền Trung ương và từng địa phương cụ thể nhằm đề xuất cơ chế kiểm soát rủi ro tài chính công ở cấp cơ sở.
Giá trị tham khảo
Khóa luận là tài liệu tham khảo phù hợp cho sinh viên, học viên và các nhà nghiên cứu thuộc các chuyên ngành: Kinh tế học, Quản lý kinh tế, Tài chính công, Kinh tế phát triển và Quản trị công.
Những nội dung có giá trị tham khảo cao trong khóa luận bao gồm:
- Chuỗi dữ liệu thống kê tổng hợp 10 năm (2011-2020): Các bảng biểu chi tiết về cơ cấu vốn đầu tư phân theo loại hình kinh tế, theo nguồn vốn ngân sách, phân cấp Trung ương - Địa phương và 18 ngành kinh tế quốc dân.
- Phần phân tích vai trò xã hội của đầu tư công: Cung cấp nguồn số liệu thực chứng phong phú về mức chi phúc lợi xã hội (21% NSNN), tỷ lệ bao phủ BHYT, tỷ lệ đi học đúng tuổi và kết quả xóa đói giảm nghèo tại các xã đặc biệt khó khăn.
- Hệ thống hóa cơ sở pháp lý: Phân tích các nguyên tắc đầu tư công theo Luật Đầu tư công năm 2014, Luật Đầu tư công năm 2019 và Nghị định 99/2021/NĐ-CP.
Câu hỏi thường gặp
1. Tỷ trọng vốn đầu tư phát triển từ Ngân sách Nhà nước và trái phiếu Chính phủ trong tổng vốn đầu tư toàn xã hội giai đoạn 2011-2020 là bao nhiêu?
Trong giai đoạn 2011-2020, tổng vốn đầu tư phát triển toàn xã hội đạt xấp xỉ 15 triệu tỷ đồng, trong đó vốn từ nguồn NSNN và trái phiếu Chính phủ đạt khoảng 3,1 triệu tỷ đồng, chiếm tỷ trọng 20,8% tổng vốn đầu tư toàn xã hội.
2. Phân bổ vốn đầu tư công theo cấp quản lý (Trung ương và Địa phương) có xu hướng dịch chuyển như thế nào trong 10 năm?
Trong giai đoạn 2011-2020, tỷ lệ vốn đầu tư thực hiện của khu vực Nhà nước do địa phương quản lý chiếm tỷ trọng lớn hơn, đạt mức bình quân 56,34%. Vốn do cấp Trung ương quản lý đạt mức cao nhất vào năm 2016 là 48,1%, sau đó giảm dần xuống mức thấp nhất là 40,34% vào năm 2020.
3. Vốn đầu tư có tác động định lượng như thế nào đối với mức tăng trưởng giá trị gia tăng của ngành Bất động sản và Xây dựng?
Theo tài liệu nghiên cứu được trích dẫn trong khóa luận: đối với ngành Bất động sản, để tăng 1% giá trị gia tăng cần đẩy mạnh giải ngân 4,53% vốn đầu tư (tương ứng để tăng 1 đồng GTGT cần 1,86 đồng vốn); đối với ngành Xây dựng, cần 2,25% vốn đầu tư để tăng 1% giá trị gia tăng (tương ứng cần 0,76 đồng vốn để tạo thêm 1 đồng GTGT).
4. Khóa luận chỉ ra thực trạng chênh lệch giữa nguồn lực nắm giữ và tỷ lệ đóng góp của khối Doanh nghiệp Nhà nước (DNNN) ra sao?
Theo Sách trắng Doanh nghiệp 2019, tính đến năm 2018, khối DNNN chiếm 0,4% tổng số doanh nghiệp đang hoạt động và nắm giữ 60% nguồn lực xã hội (với hơn 3,7 triệu tỷ đồng tài sản), nhưng chỉ đóng góp gần 40% GDP và 12,6% vào NSNN. Trong khi đó, khu vực tư nhân và FDI tạo ra 60% GDP còn lại và đóng góp vào NSNN lần lượt hơn 17% và hơn 15%.
5. Đầu tư công đã đạt được những kết quả cụ thể nào trong việc xóa đói giảm nghèo và chăm sóc y tế?
Giai đoạn 2011-2020, Nhà nước đã đầu tư xây dựng 6.000 công trình tại các địa bàn khó khăn, giúp 71 xã (2011-2015) và 92 xã (2016-2019) thoát khỏi tình trạng đặc biệt khó khăn; đưa tỷ lệ hộ nghèo cả nước giai đoạn 2010-2015 giảm từ 14,2% xuống dưới 4,5%. Về y tế, đến cuối năm 2020, tỷ lệ bao phủ BHYT đạt 90,85% dân số (87,96 triệu người), trong đó NSNN hỗ trợ và đóng BHYT cho hơn 51 triệu người (chiếm 58% tổng số người tham gia BHYT).
Kết luận
Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Lê Thu Ngân đã hoàn thành việc hệ thống hóa cơ sở lý luận và đánh giá thực nghiệm toàn diện về vai trò của đầu tư công đối với phát triển kinh tế tại Việt Nam trong giai đoạn 2011-2020. Nghiên cứu khẳng định đầu tư công giữ vai trò dẫn dắt, hoàn thiện hệ thống kết cấu hạ tầng kỹ thuật - xã hội và bảo đảm an sinh công cộng, bất chấp xu hướng giảm tỷ trọng tương đối so với khu vực kinh tế tư nhân. Trên cơ sở nhận diện các nút thắt về tiến độ giải ngân, phân cấp quản lý và hiệu quả của khối DNNN, công trình đã đề xuất 4 nhóm giải pháp thực tiễn nhằm phát huy tối đa hiệu quả nguồn vốn đầu tư công đến năm 2025.