Chương 1: Tổng quan nghiên cứu Chương 2: Cơ sở lý luận về đầu tư công và tác động của đầu tư công đến tăng trưởng kinh tế. Chương 3: Phân tích thực trạng và đánh giá thực nghiệm về tác động của đầu tư công đến tăng trưởng kinh tế vùng đồng bằng sông Cửu Long. Chương 4: Phân tích cơ chế và thực trạng quản lý đầu tư công vùng Đồng bằng sông Cửu Long. Chương 5: Kết luận và hàm ý chính sách.
123doc 14 CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ĐẦU TƯ CÔNG VÀ TÁC ĐỘNG CỦA ĐẦU TƯ CÔNG ĐẾN TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ Ở Chương này, luận án trình bày về cơ sở lý thuyết lý giải mối quan hệ giữa đầu tư công và tăng trưởng kinh tế cũng như cơ chế về quản lý đầu tư công. Chương cơ sở lý thuyết này sẽ là nền tảng để nghiên cứu thực hiện các kiểm định, thảo luận kết quả kiểm định và phân tích thực trạng về tình hình đầu tư công, cơ chế quản lý đầu tư công tại các tỉnh vùng Đồng bằng sông Cửu Long ở các chương sau. Theo đó, nội dung của chương gồm hai nội dung chính như sau: phần thứ nhất tập trung vào lý giải tác động của đầu tư công đến tăng trưởng kinh tế dựa trên nhiều nền tảng, lập luận khác nhau và phần thứ hai hướng đến các vấn đề lý thuyết liên quan đến quản lý đầu tư công. Tổng quan lý thuyết cho thấy, có nhiều khái niệm về đầu tư công khác nhau và cũng có nhiều khác biệt nhất định tùy theo quan điểm của từng quốc gia.
Tuy nhiên, tựu chung lại, một cách khái quát nhất, có thể hiểu đầu tư công là hoạt động đầu tư của nhà nước vào các chương trình, dự án xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội và đầu tư vào các chương trình, dự án phục vụ phát triển kinh tế - xã hội, chủ yếu đầu tư vào các lĩnh vực phục vụ lợi ích chung. Có nhiều mô hình lý thuyết luận giải về tác động của đầu tư công đến tăng trưởng kinh tế, trong đó, mô hình lý thuyết của Le & Suruga (2005) không chỉ luận giải tác động của đầu tư công đến tăng trưởng kinh tế mà còn lý giải tác động của FDI cũng như sự tương tác giữa hai yếu tố này đến tăng trưởng kinh tế. 123doc 15 Tương tự, mặc dù có những khác biệt trong quy trình quản lý đầu tư công ở các quốc gia, quản lý đầu tư công được hiểu là một hệ thống tổng thể, bắt đầu từ việc hình thành những định hướng lớn trong chính sách đầu tư công cho đến việc thẩm định, lựa chọn, lập ngân sách, thực thi, và đánh giá các dự án đầu tư cụ thể, với mục đích là đảm bảo hiệu quả và hiệu lực của đầu tư công, qua đó đạt được mục tiêu tăng trưởng và phát triển chung của nền kinh tế. Để trình bày các nội dung trên, Chương 2 được cấu trúc như sau: Phần thứ nhất của chương trình bày các khái niệm chính của đề tài như đầu tư công, tăng trưởng kinh tế và quản lý đầu tư công; Phần thứ hai trình bày khung phân tích, một số mô hình lý thuyết điển hình lý giải về tác động của đầu tư công đến tăng trưởng kinh tế dựa trên nhiều nền tảng, lập luận khác nhau.
Trong khi đó, phần thứ ba của bài nghiên cứu xem xét các vấn đề lý thuyết liên quan đến cơ chế quản lý công. Bên cạnh đó, các nghiên cứu thực nghiệm và các vấn đề có liên quan cũng được trình bày.1 Các khái niệm chính 2.1 Tăng trưởng kinh tế Tăng trưởng kinh tế được hiểu là sự gia tăng về quy mô sản lượng quốc gia hoặc quy mô sản lượng quốc gia tính bình quân trên đầu người qua một thời gian nhất định. Theo đó, tăng trưởng kinh tế là sự gia tăng tổng các giá trị hàng hóa và dịch vụ do các ngành kinh tế của một quốc gia tạo ra trong một khoảng thời gian nhất định. Tăng trưởng kinh tế biểu hiện bằng quy mô tăng trưởng và tốc độ tăng trưởng (trong đó quy mô tăng trưởng phản ánh sự gia tăng hay sụt giảm đi; tốc độ tăng trưởng là phép so sánh tương đối phản ánh sự gia tăng nhanh hay chậm của nền kinh tế).
Khi nghiên cứu quá trình tăng trưởng, cần phải xem xét hai khía cạnh tăng trưởng về số lượng và chất lượng.2 Đầu tư và đầu tư công Đầu tư Đầu tư, trong kinh tế học vĩ mô, chỉ việc gia tăng tư bản nhằm tăng cường năng lực sản xuất tương lai. Đầu tư, vì thế, còn được gọi là hình thành tư bản hoặc tích lũy tư bản. Có nhiều cách để phân loại đầu tư, thông thường, đầu tư được phân loại thành đầu tư tư nhân và đầu tư công. Trong mô hình tăng trưởng của Keynes, đầu tư tư nhân I và đầu tư công G là các nhân tố quan trọng hình thành tổng cầu Y trong phương trình: Y = C + I + G + X - M (với C là tiêu dùng cá nhân, X là xuất khẩu và M là nhập khẩu) Theo lý thuyết, có hai giả thuyết chính về quan hệ giữa đầu tư công và đầu tư tư nhân.
Giả thuyết đầu tư công “Lấn át” đầu tư tư nhân cho rằng, đầu tư công gia tăng sẽ khiến đầu tư khu vực tư nhân bị thu hẹp lại. Lý do là nhu cầu của Chính phủ về hàng hóa dịch vụ có thể khiến lãi suất gia tăng, nguồn vốn trở nên đắt đỏ hơn, theo đó, tác động tiêu cực đến khu vực tư nhân. Ngoài ra, việc tài trợ cho chi tiêu đầu tư từ ngân sách nhà nước, thường được thực hiện bởi tăng thuế hay vay nợ, đã cạnh tranh một cách trực tiếp với khu vực tư nhân trong việc tiếp cận các nguồn lực tài chính khan hiếm của nền kinh tế. Với quan điểm được đồng thuận là đầu tư công thường có hiệu quả thấp hơn đầu tư tư nhân, thì giả thuyết “Lấn át” đưa ra khuyến nghị cắt giảm đầu tư công để hỗ trợ tăng trưởng.
Giả thuyết ngược lại là đầu tư công thúc đẩy đầu tư tư nhân (Bacha, 1990; Taylor, 1994; Agenor, 2000), do đầu tư công có thể tạo ra “Ngoại ứng tích cực” cho khu vực tư nhân. Một số ngoại ứng có thể kể đến như việc cung cấp các cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội như giao thông, viễn thông, giáo dục,… từ đầu tư công tạo ra môi trường kinh doanh thuận lợi hơn cũng như giảm được chi phí sản xuất cho khu vực tư nhân để tăng cường đầu tư và nhu cầu hàng hóa dịch vụ từ chính phủ khiến cầu về sản phẩm 123doc 17 của khu vực tư nhân gia tăng, khuyến khích khu vực này đầu tư nhiều hơn do kỳ vọng về doanh thu và lợi nhuận tốt hơn. Nếu giả thuyết này được kiểm định đúng, không nhất thiết phải giảm đầu tư công, bởi những ngoại ứng tích cực là cần thiết cho khu vực tư nhân và theo đó là cho tăng trưởng. Đầu tư công Trên thế giới, khái niệm đầu tư công hay còn gọi là đầu tư của nhà nước hoặc là đầu tư công cộng gắn liền với hoạt động chi tiêu của chính phủ.
Tuy nhiên, tùy theo quan niệm của từng quốc gia mà khái niệm đầu tư công có thể có những khác biệt nhất định. Nhìn chung, khác biệt chủ yếu là đầu tư công có thể bao gồm các dự án cho các mục đích kinh doanh thông qua khu vực DNNN hoặc các dự án chỉ thuần tùy mục đích công ích. Ví dụ, ở Úc, đầu tư công bao gồm xây dựng cơ bản hạ tầng thiết yếu đường bộ, đường sắt, nhà ở, hệ thống giáo dục và hỗ trợ tài chính cho quỹ hưu trí, người lao động, hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ như miễn thuế thu nhập doanh nghiệp trong ngắn hạn, các dự án đào tạo,. Đối với nước Áo, đầu tư công gồm cơ sở hạ tầng, hỗ trợ các chương trình đầu tư bằng các biện pháp về thuế và các chương trình việc làm mang tính vùng miền.
Một số quốc gia như Canada đầu tư công gồm đầu tư vào đường, cầu và giao thông công cộng, hệ thống nước sạch và chăm sóc y tế, đầu tư và nâng cấp nhà xã hội, hỗ trợ người mua nhà, giảm thuế thu nhập cá nhân và thu nhập doanh nghiệp, hỗ trợ các thành phần kinh tế và cộng đồng dễ ảnh hưởng bởi khủng hoảng kinh tế như nông nghiệp, công nghiệp sản xuất. Pháp chủ yếu đầu tư vào doanh nghiệp nhà nước trong các lĩnh vực bưu chính, năng lượng và đường sắt; đầu tư cho quốc phòng, các lĩnh vực đầu tư trọng yếu (như phát triển bền vững và công nghệ sạch, giáo dục chất lượng cao); đầu tư cho hệ thống công ích như bệnh viện, nhà trẻ và các tổ chức mang tính cộng đồng khác; hỗ trợ giải quyết vấn đề lao động, nhà ở, sức khỏe và bảo 123doc 18 vệ môi trường. Đối với Nhật Bản các loại hàng hóa công cộng được cung cấp bởi khu vực công (do chính phủ quốc gia, chính quyền địa phương và các tập đoàn công cộng quản lý) là các loại hàng hóa không giao dịch được thông qua cơ chế thị trường, đồng thời đầu tư được thực hiện bởi khu vực công cho các tiện ích như đường xá, cầu cảng,… thì được gọi là đầu tư công. Ở Việt Nam, khái niệm và quan điểm chung về đầu tư công được nhiều tác giả cho rằng là phần chi tiêu công được thêm vào lượng vốn vật chất để tạo ra các dịch vụ xã hội, chẳng hạn xây dựng đường xá, cầu cảng, trường học, bệnh viện,… Như vậy, mặc dù có nhiều khác biệt tùy thuộc vào quan điểm của từng quốc gia, một cách tổng quát, đầu tư công được hiểu là đầu tư từ nguồn vốn của Nhà nước vào các lĩnh vực phục vụ lợi ích chung, không nhằm mục đích kinh doanh (Nguyễn Xuân Tự, 2010).
Tương tự, theo Đỗ Thiên Anh Tuấn (2015), đầu tư công là việc sử dụng các nguồn vốn Nhà nước để đầu tư nhằm thực hiện các mục tiêu của các chương trình, dự án phục vụ phát triển kinh tế - xã hội. Đầu tư công thường tập trung vào các lĩnh vực, cải thiện hệ thống cơ sở hạ tầng như: cầu đường, giao thông, thông tin và công nghệ thông tin; hỗ trợ hoạt động nghiên cứu khoa học; đầu tư phát triển nguồn nhân lực, giáo dục và đào tạo (bao gồm trường học và giáo viên); khuyến khích đầu tư trong các lĩnh vực công nghệ xanh và sử dụng năng lượng tiết kiệm, hiệu quả, phát triển bền vững.