CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ HOẠT ĐỘNG ĐẦU TƯ CHỨNG KHOÁN THÔNG QUA NGHIỆP VỤ TỰ DOANH TẠI CÔNG TY CHỨNG KHOÁN 1. Khái niệm và đặc điểm của đầu tư chứng khoán thông qua nghiệp vụ tự doanh tại công ty chứng khoán 1. Khái niệm Đầu tư chứng khoán thông qua nghiệp vụ tự doanh là hoạt động mà công ty chứng khoán đóng vai trò như một nhà đầu tư trên thị trường. Các công ty chứng khoán sẽ mua bán chứng khoán cho chính mình thông qua cơ chế giao dịch khớp lệnh, thoả thuận trên các sàn chứng khoán hoặc thị trường phi tập trung.
Hiện tại trên thị trường chứng khoán Việt Nam, do các loại chứng khoán phái sinh chưa phát triển mạnh nên các hoạt động tự doanh của công ty chứng khoán chủ yếu xoay quanh cổ phiếu, trái phiếu và chứng chỉ quỹ. Đặc điểm Thứ nhất, hoạt động tự doanh của CTCK mang tính chuyên nghiệp cao. Tính chuyên nghiệp thể hiện truớc hết ở trình độ và kỹ năng của các cán bộ thực hiện hoạt động tự doanh của CTCK. Họ là những người có chuyên môn cao, có khả năng phân tích để đưa ra các quyết định đầu tư đúng đắn cũng như chịu được áp lực công việc lớn.
Quy trình đầu tư quy định tất cả các quyền hạn và trách nhiệm của các thành viên tham gia trong hoạt động tự doanh của công ty cùng với đó phải đưa ra các phương án thực hiện đầu tư. Thứ hai, hoạt động đầu tư chứng khoán thông qua nghiệp vụ tự doanh chứng khoán có quy mô đầu tư vào TTCK lớn với danh mục đầu tư rất đa dạng. Phần lớn các công ty chứng khoán có tiềm lực tài chính và có thể huy động được nguồn vốn lớn nên giá trị của khoản đầu tư thường lớn, với tính chuyên nghiệp cao khả năng tiếp cận, phân tích thông tin tốt nên các công ty chứng khoán không chỉ tập trung vào một thị trường, một ngành nghề hay một công ty nhất định nào đó mà họ đầu tư rộng khắp trên nhiều thị trường khác nhau, cả trong và ngoài nước. Thứ ba, hoạt động đầu tư chứng khoán thông qua nghiệp vụ tự doanh chứng khoán tiềm ẩn rất nhiều các rủi ro.
Tương tự rủi ro như các nhà đầu tư gặp phải, thậm 5 chí với quy mô khoản đầu tư lớn, nếu gặp phải rủi ro, hậu quả nghiệm trọng hơn bình thường, bởi vậy trong hoạt động tự doanh của mình các công ty chứng khoán đều sử dụng các công cụ phòng vệ. Việc sử dụng các công cụ phòng vệ hữu hiệu đến đâu còn phụ thuộc vào các yếu tố khác nhau cả yếu tố khách quan và chủ quan. Quy trình thực hiện đầu tư chứng khoán thông qua nghiệp vụ tự doanh tại công ty chứng khoán Sơ đồ 1.1: Quy trình đầu tư chứng khoán thông qua nghiệp vụ tự doanh Nguồn: Tổng hợp của Tác giả Quy trình đầu tư chứng khoán thông qua nghiệp vụ tự doanh tại các CTCK thường thông qua một số bước sau: Bước 1: Xây dựng phương án đầu tư Để xây dựng phương án kinh doanh, phòng Tự doanh thực hiện các bước cơ bản để lựa chọn Cổ phiếu, Chứng chỉ quỹ, Trái phiếu. Bộ phận tự doanh sẽ triển khai tìm kiếm các cơ hội đầu tư, lựa chọn ngành nghề tiềm năng, công ty tiềm năng để đầu tư.
6 Bước 2: Thẩm định Trong giai đoạn này, bộ phận quản trị rủi ro sẽ tiến hành thẩm định,đánh giá mức độ rủi ro, hiệu quả của các khoản đầu tư. Kết quả của giai đoạn này sẽ là những kết luận cụ thể về việc công ty có nên đầu tư hay không và đầu tư với số lượng như thế nào. Đây là một trong những bước quan trọng trong quy trình tự doanh vì nó ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả đầu tư. Bước 3: Phê duyệt Sau khi thẩm định rủi ro và được thông qua, cán bộ tự doanh báo cáo Lãnh đạo Phòng Tự doanh và trình Phó Tổng giám đốc phụ trách cho ý kiến phê duyệt.
Sau khi được phê duyệt phương án kinh doanh từ PTGĐ, Phòng tự doanh sẽ tiếp tục trình Cấp có thẩm quyền quyết định. Cấp có thẩm quyền quyết định có thể là TGĐ/QTGĐ hoặc Hội đồng đầu tư. Thông thường khi trình phương án kinh doanh lên cấp có thẩm quyền. Thư ký Hội đồng đầu tư sẽ gửi thông báo đề xuất Chủ tịch HĐĐT triệu tập họp HĐĐT để rà soát, thẩm định, nêu ý kiến về PAKD theo đề xuất của Phòng Tự doanh & BLPH.
Trường hợp HĐĐT không yêu cầu chỉnh sửa, bổ sung thông tin: Chủ tịch HĐĐT thay mặt HĐĐT ký tờ trình, trình HĐQT xem xét quyết định PAKD. Trường hợp HĐĐT yêu cầu chỉnh sửa, bổ sung thông tin: chuyển trả PAKD cho Phòng TD & BLPH chỉnh sửa, hoàn thiện phương án. Sau khi được HĐĐT thông qua và trình lên HĐQT: Trường hợp HĐQT đồng ý thực hiện PAKD: Phòng Tự doanh triển khai thực hiện PAKD. Trường hợp cần chỉnh sửa, bổ sung thông tin trong PAKD, chuyển trả PAKD cho Phòng Tự doanh chỉnh sửa, hoàn thiện PAKD, lấy ý kiến của PTGĐ và HĐĐT với phương án đã được chỉnh sửa, bổ sung trước khi trình HĐQT phê duyệt.
Bước 4: Thực hiện Phương án kinh doanh Sau khi PAKD được Cấp có thẩm quyền thông qua, Phòng tự doanh tiến hành thông báo kế hoạch giao dịch cổ phiếu/CCQ/chứng khoán phái sinh, trái phiếu doanh nghiệp cho các phòng nguồn vốn để chuẩn bị nguồn vốn đầu tư hoặc các phòng ban liên quan đến thực hiện chuyển tiền ký quỹ khi thực hiện giao dịch chứng khoán phái sinh. Trước mỗi phiên giao dịch, kiểm tra trạng thái danh mục chứng khoán hiện có: số lượng chứng khoán có thể giao dịch; giá giao dịch đề xuất; giá thị trường; giá trị đã đầu tư; lãi lỗ trên danh mục,…Đồng thời cập nhật tin tức về kinh tế, thị trường, chứng khoán hàng ngày, báo cáo Lãnh đạo Phòng Tự doanh và đề xuất phương án giao dịch theo ngày. Theo dõi diễn biến thị trường, thực hiện đặt lệnh giao dịch theo PAKD đã được thông qua. 7 Đối với cổ phiếu/CCQ/chứng khoán phái sinh chưa niêm yết ở bước này để đầu tư cán bộ tự doanh phải thực hiện thủ tục đăng ký đấu giá/đăng ký quyền mua cổ phần tại các đại lý đấu giá/TCPH/tổ chức được ủy quyền quản lý sổ cổ đông.
Tương tự với trái phiếu doanh nghiệp, phòng tư doanh phải thực hiện các thủ tục chuyển nhượng/nhận chuyển nhượng quyền sở hữu trái phiếu tại TCPH/Tổ chức được ủy quyền chuyển nhượng trái phiếu. Bước 5: Báo cáo và lưu trữ hồ sơ Kết thúc phiên giao dịch, nhân viên tự doanh lập Báo cáo trạng thái danh mục tự doanh cổ phiếu/CCQ/chứng khoán phái sinh hàng ngày. Báo cáo trạng thái danh mục hàng ngày phải đảm bảo cập nhật khối lượng giao dịch trong ngày, cập nhật giá thị trường khi kết thúc phiên giao dịch, cập nhật các quyền phát sinh liên quan đến chứng khoán trong danh mục làm cơ sở xác định hiệu quả và trạng thái danh mục đầu tư hàng ngày. Lập Báo cáo giao dịch cổ phiếu/CCQ/chứng khoán phái sinh niêm yết, đăng ký giao dịch hàng ngày (nếu có) gửi Phòng Kiểm tra Kiểm soát nội bộ tổng hợp gửi các Cơ quan chức năng theo yêu cầu.
Lưu trữ toàn bộ hồ sơ có liên quan đến PAKD theo quy định. Vốn và nguồn vốn cho đầu tư chứng khoán thông qua nghiệp vụ tự doanh tại công ty chứng khoán 1. Vốn đầu tư chứng khoán thông qua nghiệp vụ tự doanh Vốn cho đầu tư chứng khoán thông qua nghiệp vụ tự doanh bao gồm các khoản tiền mà công ty chứng khoán đã thu được từ các nhà đầu tư thông qua việc phát hành cổ phiếu hoặc trái phiếu. Đối với một công ty chứng khoán, vốn còn bao gồm các tài sản khác như các khoản đầu tư, tài sản tài chính và các nguồn lực khác mà công ty sử dụng để thực hiện các hoạt động kinh doanh của mình, chẳng hạn như mua bán chứng khoán cho khách hàng hoặc tạo lập các sản phẩm tài chính phức tạp.
Nguồn vốn đầu tư chứng khoán thông qua nghiệp vụ tự doanh Nguồn vốn cho đầu tư chứng khoán thông qua nghiệp vụ tự doanh bao gồm các nguồn sau: Vốn chủ sở hữu: là tổng giá trị của tài sản mà chủ sở hữu đầu tư vào doanh nghiệp hoặc dự án cụ thể. Đây là số tiền hoặc các tài sản mà chủ sở hữu góp vào công ty hoặc dự án để thúc đẩy hoạt động kinh doanh và tạo ra lợi nhuận 8 Quỹ dự trữ bổ sung vốn điều lệ: là một phần của vốn điều lệ của một công ty, được sử dụng để bổ sung hoặc bảo vệ vốn cơ bản của doanh nghiệp. Đây là một phần của lợi nhuận được dành riêng để tạo ra một "lưới an toàn" tài chính, giúp giảm thiểu rủi ro và tăng cường khả năng chống chịu của doanh nghiệp trong trường hợp có các biến động không mong muốn. Lợi nhuận chưa phân phối: là một phần của lợi nhuận mà một công ty đã kiếm được, nhưng chưa được phân phối dưới dạng cổ tức cho cổ đông hoặc sử dụng cho mục đích khác như tái đầu tư vào doanh nghiệp.
Tùy thuộc vào mục tiêu và chiến lược đầu tư cụ thể, các nhà đầu tư có thể sử dụng một hoặc kết hợp các nguồn vốn này để thực hiện nghiệp vụ tự doanh trên thị trường chứng khoán. Nội dung hoạt động đầu tư chứng khoán thông qua nghiệp vụ tự doanh tại công ty chứng khoán - Tự doanh cổ phiếu niêm yết và chưa niêm yết: Công ty tập trung phân tích từng cổ phiếu niêm yết và cổ phiếu chưa niêm yết với những mục đích khác nhau. Phương pháp phân tích là dựa vào phân tích cơ bản là chủ yếu để chọn ra công ty tốt và chứng khoán tốt. Bên cạnh đó công ty phải thường xuyên phân tích kỹ thuật lựa chọn thời điểm tăng giá hoặc giảm giá để đi đến quyết định đặt lệnh giao dịch.
- Tự doanh trái phiếu niêm yết và chưa niêm yết: Công ty đánh giá chung về tổ chức phát hành, xem xét mức độ xếp hạng tín nhiệm đối với tổ chức phát hành & trái phiếu của họ. Xác định lãi suất dự đoán đối với loại trái phiếu tự doanh dựa vào lãi suất huy động của các tổ chức tín dụng, lãi suất của các loại tín dụng có cùng kỳ hạn…, công ty cũng phải tính toán số lượng trái phiếu tự doanh căn cứ vào khả năng về vốn của công ty, chiến lược đầu tư của công ty, khả năng đáp ứng về lãi suất dự đoán, tương lai của công ty… Sau đó xây dựng phương án tự doanh. Việc này tùy thuộc vào tổ chức của công ty.