Luận văn: Dấu ấn hiện sinh trong tiểu thuyết Sông của Nguyễn Ngọc Tư

Phân tích dấu ấn hiện sinh trong tiểu thuyết Sông của Nguyễn Ngọc Tư. Khám phá con người cô đơn, dấn thân qua các biểu tượng và nghệ thuật đặc sắc.

Chuyên ngành

Văn học Việt Nam

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2023

109
0
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Khuynh hướng hiện sinh trong văn học Việt Nam thế kỷ XXI

Dấu ấn hiện sinh đã trở thành một trong những khuynh hướng sáng tạo nổi bật của văn học Việt Nam đương đại. Triết học hiện sinh, ra đời từ bối cảnh hậu chiến đầy hoại hoangng và bất ổn, đã ảnh hưởng sâu sắc đến tư duy của các nhà văn thế hệ mới. Khuynh hướng này phản ánh những nỗi lo âu, hoài nghi về giá trị hiện tồn và nỗ lực tìm kiếm ý nghĩa trong một thế giới hỗn loạn. Các tác phẩm mang tư tưởng hiện sinh không chỉ khám phá tâm lý nhân vật mà còn vạch trần những mâu thuẫn sâu sắc của cuộc sống con người. Nguyễn Ngọc Tư là một trong những tiếng nói tiêu biểu của trào lưu này, với khả năng tiếp biến sáng tạo các thành tố triết học phức tạp vào lối viết sinh động, gần gũi.

1.1. Những phạm trù cơ bản của triết học hiện sinh

Triết học hiện sinh xoay quanh những khái niệm như tự do, trách nhiệm, sự cô đơn của con người và nỗi lo âu tồn tại. Các phạm trù này tập trung vào cách con người tạo nên ý nghĩa cho cuộc sống của mình trong một vũ trụ vô tình. Dấu ấn hiện sinh trong sáng tác văn học thể hiện qua sự chú trọng đến bản thể nhân vật, những quyết định cá nhân và hậu quả của chúng trong xã hội.

1.2. Biểu hiện nghệ thuật mang khuynh hướng hiện sinh

Trong tiểu thuyết Sông, các biểu hiện nghệ thuật hiện sinh thể hiện qua kỹ thuật dòng ý thức, cấu trúc phi tuyến tính và ngôn ngữ đa dạng. Những lựa chọn này giúp tác giả khắc họa một thế giới nội tâm phức tạp, nơi con người luôn trong cuộc vật lộn truy tìm bản thể và ý nghĩa tồn tại.

II. Dấu ấn hiện sinh từ góc nhìn tư duy nghệ thuật

Nghiên cứu dấu ấn hiện sinh trong tiểu thuyết Sông đòi hỏi phải xem xét từ nhiều góc độ. Từ phương diện tư duy nghệ thuật, tác phẩm này khám phá cuộc sống với những mảng màu phi lí, nơi hiện thực không phải là một đối tượng bất biến mà là một không gian đầy mâu thuẫn. Nguyễn Ngọc Tư sử dụng các biểu tượng như con sông, cái chết và tính dục để biểu đạt những cuộc vật lộn nội tâm của nhân vật. Con người trong Sông không phải là những kẻ thụ động mà những cá nhân chủ động tìm kiếm, dấn thân và nổi loạn để khẳng định nhân vị tự do. Cách tiếp cận này thể hiện một quan niệm sâu sắc về bản chất của tồn tại con người.

2.1. Cảm quan hiện thực và hoài nghi giá trị

Hiện thực trong Sông được thể hiện qua những chi tiết cụ thể nhưng lại chứa đựng những ý vị triết học sâu sắc. Tác phẩm mang dấu ấn hiện sinh khi nó tố cáo sự vô nghĩa của những giá trị truyền thống, những điều con người tưởng rằng bền vững nhưng thực chất lại dễ vỡ. Nhân vật trong tiểu thuyết luôn trong tình trạng bất an, không thể tin tưởng vào bất kỳ điều gì.

2.2. Biểu tượng nghệ thuật và tìm kiếm bản thể

Biểu tượng 'Sông' đại diện cho những cuộc vật lộn của con người trong việc truy tìm bản thể. Cái chết không phải là kết thúc mà là chấm dứt của khủng hoảng hiện sinh. Tính dục được hiểu như một phương diện để nhân vật nhận diện chính mình, vượt qua cô đơn và tìm kiếm liên kết với người khác.

III. Hình tượng con người mang dấu ấn hiện sinh

Hình tượng con người trong tiểu thuyết Sông phản ánh một cách sâu sắc những khía cạnh của tồn tại con người mà triết học hiện sinh quan tâm. Con người cô đơn, với những vết thương kín đáo, là nơi tập trung của những mâu thuẫn nội tâm. Những nhân vật này không chấp nhận cuộc sống như nó đã cho mà dấn thân trong hành trình tìm kiếm ý nghĩa sinh tồn. Họ nổi loạn để khẳng định nhân vị tự do, từ chối những định sẵn xã hội. Qua cách xây dựng này, Nguyễn Ngọc Tư không chỉ vẽ nên những nhân vật mà còn thể hiện một triết lí sâu sắc về con người hiện đại, những kẻ luôn trong cuộc tìm kiếm không dứt.

3.1. Con người cô đơn và nỗi đau kín đáo

Cô đơn trong Sông không phải là sự im lặng đơn giản mà là sự vắng mặt của sự thấu hiểu. Mỗi nhân vật mang trong mình những vết thương kín đáo, những bí mật không chia sẻ được. Dấu ấn hiện sinh ở đây là sự thừa nhận rằng con người không thể hoàn toàn kết nối với nhau, mỗi người đều một mình trong cuộc tìm kiếm ý nghĩa của chính mình.

3.2. Nổi loạn và khẳng định nhân vị tự do

Con người nổi loạn trong tiểu thuyết biểu hiện khát vọng truy tìm bản thể, từ chối những ràng buộc xã hội. Tự do không phải là một quyền trao cho mà là một cái phải đấu tranh để có được. Những hành động nổi loạn của nhân vật thể hiện một triết lí mạnh mẽ về quyền được sống theo ý chí của chính mình.

IV. Phương thức nghệ thuật biểu hiện dấu ấn hiện sinh

Phương thức nghệ thuật được Nguyễn Ngọc Tư sử dụng trong Sông rất đa dạng và tinh tế. Kỹ thuật dòng ý thức cho phép tác giả khám phá các lớp sâu của tâm lý nhân vật, nơi những mâu thuẫn và hoài nghi tồn tại. Cấu trúc kỳ dị, với sự đảo tuyến thời gian, tạo nên cảm giác về sự bất ổn và vô trật tự của cuộc sống. Ngôn ngữ trần thuật mang dấu ấn hiện sinh qua sự đa thanh trong đối thoại, độc thoại và sự đa dạng hóa văn chương. Không gian-thời gian nghệ thuật được xây dựng như những dịch chuyển môi trường nghiệm sinh, thể hiện bi kịch về hữu hạn sinh tồn. Tất cả những yếu tố này hợp lại tạo nên một tác phẩm mang dấu ấn hiện sinh sâu sắc.

4.1. Kỹ thuật dòng ý thức và cấu trúc phi tuyến tính

Kỹ thuật dòng ý thức cho phép Nguyễn Ngọc Tư trình bày những suy nghĩ, cảm xúc của nhân vật một cách nguyên thủy, không được lọc lõi bởi logic. Cấu trúc đảo tuyến tạo nên một hiện thực không tuần tự, phản ánh chính xác cách hoạt động của tâm trí con người. Dấu ấn hiện sinh thể hiện qua sự bất lực của con người trước thời gian và số phận.

4.2. Ngôn ngữ không gian và thời gian nghệ thuật

Ngôn ngữ trong tiểu thuyết vừa trần tục vừa thi vị, vừa lập luận vừa biểu tượng. Không gian không chỉ là bối cảnh mà là dịch chuyển môi trường nghiệm sinh của nhân vật. Thời gian trở thành bi kịch về hữu hạn sinh tồn, nơi con người nhận ra sự vô nghĩa của sự vội vã.

18/12/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 KHUYNH HƯỚNG HIỆN SINH TRONG TIỂU THUYẾT VIỆT NAM THẾ KỶ XXI VÀ QUAN NIỆM NGHỆ THUẬT CỦA NGUYỄN NGỌC TƯ Từ quá trình dẫn nhập vào khai thác chủ nghĩa hiện sinh với tư cách là trường phái triết học, luận văn xác định các phạm trù chính, định hình hướng nghiên cứu khi đi sâu vào cụ thể tác phẩm. Trong phần nghiên cứu khuynh hướng hiện sinh trong văn học Việt Nam thế kỉ XXI chúng tôi sẽ giới thiệu chủ nghĩa hiện sinh từ những phạm trù của triết học đến khuynh hướng hiện sinh trong văn học Việt Nam thế kỉ XXI và tiểu thuyết Việt Nam thế kỉ XXI nhìn từ khuynh hướng hiện sinh. Từ đó, chúng tôi khai thác về Nguyễn Ngọc Tư tập trung vào hành trình sáng tạo nghệ thuật và quan niệm nghệ thuật mang dấu ấn hiện sinh trong tiểu thuyết của nhà văn. Khuynh hướng hiện sinh trong văn học Việt Nam thế kỷ XXI 1.

Từ những phạm trù cơ bản của triết học Chủ nghĩa hiện sinh ra đời trên thế giới và được biết đến là một khuynh hướng mang tư tưởng triết học cơ bản nổi bật ở phương Tây, khởi đầu hình thành từ tầm quan trọng của con người với sự tồn tại hướng đến giải mã sợi dây liên kết giữa cá nhân với cộng đồng. Triết học hiện sinh là triết học ra đời từ hệ quả khủng hoảng của thời đại, là sự bất ổn của xã hội mà các cuộc đại chiến đi qua. Tư tưởng hiện sinh ảnh hưởng không nhỏ đến đời sống ở nhiều lĩnh vực. Sức lan tỏa của chủ nghĩa hiện sinh rộng lớn không những trong khuôn viên của bầu trời châu Âu mà “phủ sóng” toàn cầu.

Cũng như các trào lưu khác, sản phẩm chủ nghĩa hiện sinh là kết quả của sự tác động qua lại giữa hoàn cảnh lịch sử, xã hội, tư tưởng và quá trình nhận thức của con người. Về hoàn cảnh lịch sử - xã hội, có thể xem tác phẩm nổi tiếng “Hữu thể và thời gian” của Martin Heidegger (1927) đã đánh dấu mốc, quan trọng cho bước khởi đầu của chủ nghĩa hiện sinh. Những dư chấn của hai cuộc đại chiến đã thay đổi mọi cục diện châu Âu, tạo nên cơn chấn động trong tâm hồn con người. Đoạn đường mà cuộc chiến đi qua đã để lại cảm giác bất an, thất vọng, hoài nghi cho con người trước những bất toàn làn sóng hiện đại thế kỉ XX.

Sự bất ổn của thế giới trở thành chất men say thôi miên tâm hồn vốn nhạy cảm của những lớp người. Cảm giác thiếu hụt khiến con người chủ động và không ngần ngại đón nhận những luồng gió mang tư tưởng mới với hi vọng được chữa lành những tổn thương. Và khu vườn hiện sinh như có thêm nguồn sống để sinh sôi nảy nở. Về tư tưởng nhận thức của con người, khuynh hướng phi duy lý (irrationalism) trở thành nét nổi bật của chủ nghĩa hiện sinh.

Hay nói cách khác chủ nghĩa hiện sinh ra đời gắn liền với “sự phản ứng lại chủ nghĩa duy lý của một nền tư bản hiện đại đang tồn tại” [18]. Thế kỉ XX, cuộc cách mạng công nghiệp và kĩ thuật công nghệ với thành quả to lớn đã đưa phương Tây thoát khỏi vỏ bọc của thời kì cổ điển để vươn đến giá trị thời kì 7 hiện đại. Song song với một xã hội phát triển thì thành tựu khoa học kĩ thuật được xem là chiếc chìa khóa vạn năng giúp hóa giải mọi khuất tất vấn đề của nhân sinh, xã hội. Thế nhưng, khi hai cuộc chiến khốc liệt xảy ra, với những tổn thất ghê gớm mà nó mang lại đã làm châu Âu chao đảo, chênh vênh.

Thực tế đã đi ngược lại với mong đợi của con người. Thành quả vượt bậc của khoa học, kĩ thuật vô tình lại làm nền kinh tế rơi vào tình trạng suy thoái. Chủ nghĩa duy lý, đã đưa sự hiện đại của phương Tây đạt đến đỉnh điểm của phồn thịnh nhưng những mặt trái cũng từ đó lâm vào khủng hoảng khó cứu vãn. Chiến tranh đã khiến con người trở thành những con tốt trên một ván cờ ở phút sa tay.

Khoa học kĩ thuật khiến con người lại trở nên thừa thải, mờ nhạt, che lấp mất dần đi chiều sâu nội tâm và tự biến mình thành những cỗ máy vô tri. Giữa một thực tại đầy biến động, chủ nghĩa hiện sinh là vị cứu tinh đưa con người thoát khỏi quá khứ đầy ám ảnh để đến với vị trí trung tâm, không còn vô tri trước bão táp của khoa học kĩ thuật. Cuộc chiến “phản ứng lại chủ nghĩa duy lý, đòi lại nhân vị độc đáo, giải phóng tự do cá nhân” đã đưa con người dần hướng đến đời sống nội tâm, trạng thái tinh thần sinh động hơn. Điều đó chứng minh rằng chủ nghĩa hiện sinh “không phải trào lưu tư duy khoa học, nó là trào lưu duy lý, nhân bản tiêu biểu, điển hình”[31].

Theo tư tưởng hiện sinh, “trong một thời đại vô vàn biến cố, đổi thay thì những công thức của chủ nghĩa duy lý trở nên lỗi thời lạc hậu […] ngòi bút duy lý sẽ bất lực trước nỗi đau. Chủ nghĩa hiện sinh còn là một tâm tính xác định trong con người của thời hiện đại ở phương Tây”[50]. Chủ nghĩa hiện sinh còn xuất hiện là kết quả được hình thành bởi sự tác động tư tưởng của các triết gia như: S. Mỗi triết gia đều có những quan điểm riêng khi nhìn nhận về sự tồn tại của thượng đế.

Kết quả của những tranh biện trái ngược nhau là hai nhánh triết học hiện sinh hữu thần (Gabriel Marcel, Kierkegaard, Karl Jaspers) và vô thần (Jean Paul Sartre, Nietzsche, Martin Heidegger.) được hình thành. Mặt khác, các triết gia cũng hội tụ ở những điểm chung khi đều xem đối tượng trung tâm là con người với những trải nghiệm của chính họ quan trọng hơn những thành tựu của khoa học, quan tâm đến phản ứng “thầm lặng của mỗi cá nhân” trước “sự vô nghĩa của cuộc sống”. Với triết gia Kierkegaard “là một suy tưởng sâu xa về cuộc đời vì thế nó mang tên là triết học hiện sinh, triết học về cuộc đời con người” [18]. Còn với Nietzsche, những suy luận triết học của ông hướng đến con người ở giá trị do chính con người làm nên “đời sống có giá trị cao nhất, hiện sinh là giá trị uyên nguyên làm nền tảng cho mọi giá trị khác” [18].

Quy tụ lại những điểm chung khi nhìn nhận về con người, bằng quan điểm của mình, các triết gia đã đồng vọng hướng đến đề cao con người và chuẩn bị hành trang để chủ nghĩa hiện sinh ra đời trong cương vị là một trường phái triết học Như vậy, chủ nghĩa hiện sinh là sự kết tinh tư tưởng của đông đảo các triết gia lớn thuộc hai nhánh hữu thần và vô thần. Mặc dù, có những quan điểm khác nhau trong cách nhận định nhưng hai nhánh tư tưởng hữu thần và vô thần đều tồn tại dựa trên quan điểm 8 chung mà triết học hiện sinh hướng tới là đề cao sự hiện hữu của cá nhân và được khu biệt bởi những phạm trù sau: Một, các triết gia có cùng luận giải cho rằng mỗi cá nhân là một “nhân vị”. “Nhân vị của con người chính là hiện sinh của nó, mang bộ mặt riêng biệt, đặc thù, xa lạ với mọi tính cách phổ quát” [11]. Đối tượng mà chủ nghĩa hiện sinh hướng đến là con người với “nhân vị” cụ thể chối bỏ những bản thể vô danh.

“Đề cao chủ thể tính con người tự ý thức về hiện sinh của mình”, về cá nhân trong cuộc sống thực tại. “Hiện sinh chỉ có thể là hiện sinh của con người, bởi chỉ có con người mới có khả năng để vươn lên hiện sinh”. Vì vậy, con người hiện sinh luôn đánh giá sự vật bằng cách mình quan sát và phán đoán nó chứ không phải thượng đế hay thần linh.Theo các triết gia hiện sinh “nhân vị” không thể tách rời tự do. “Tự do” được quyết định bởi cách con người lựa chọn hành động.

“Nhân vị tự do” là lối sống riêng mà mỗi cá thể tự lựa chọn không lặp lại ở người khác, không vì sự khống chế, điều khiển của người khác mà thay đổi. Con người với bản tính tự quyết đó đã giúp bản thân thành một “nhân vị độc đáo” loại bỏ những tư tưởng không còn phù hợp khi xem cuộc sống là chỉ để tồn tại và vươn tới hiện sinh đích thực. Hai, chủ nghĩa hiện sinh quan tâm đến “vong thân, phí lí, buồn nôn”. Khi rơi vào trạng thái vong thân, bản thể người sẽ tồn tại bằng “tưởng tượng, ước mơ” khi đó con người trở nên thụ động và dễ dàng bị lấn át thành một cổ máy phụ thuộc vào sự điều khiển của mặt trái xã hội.

Và khi trạng thái vong thân tồn tại giữa cuộc đời được “Sartre gọi là buồn nôn, Camus cho là phi lí, Heidegger gọi là tầm thường”[18;33]. “Buồn nôn” là cách con người phản ứng trước cái phi lý, là lúc nhân vị được ý thức rõ nhất “là trạng thái sinh hoạt lầm lì của thường nhật, là cảnh sống của những con người chưa vươn lên tới mức đích thực, còn cam chịu sống như cây cỏ, động vật” [18;35]. Nhận thức về cái phi lý và trạng thái buồn nôn thúc đẩy con người vùng dậy, vượt qua trạng thái sự vật đạt đến hiện sinh. Ba, “cô đơn” một trong những phạm trù được các nhà hiện sinh quan tâm.

Cô đơn “được xem là một thái độ triết học”. Theo Trần Thái Đỉnh “cuộc đời của đa số người ta đều mang vẻ tầm thường, buồn nôn; cuộc đời là một phóng thể; vì thế cần thiết chúng ta phải tỉnh ngộ, ý thức về giá trị cao quý của nhân vị mình: do đó sinh ra ưu tư, tuy nhiên sống phải vươn lên, vươn lên mãi mãi, […] đằng khác cuộc đời là một thử thách, đòi hỏi ta phải sáng suốt để quyết định, tự quyết. Trong tất cả các hành động đó, tôi không thể ỷ lại vào người bên cạnh, lấy họ làm gương mẫu; tôi không được làm thế, vì mỗi nhân vị là độc đáo: thành thử con người cảm thấy cô đơn” [18;36]. Điều đó khẳng định, con đường đến với “nhân vị” con người không thể khước từ cô đơn.

Bởi hành trình vươn tới “nhân vị độc đáo” con người đã dấn thân một mình, hành động theo cách của 9 riêng mình mà không chịu sự cản trở của bất kì nhân tố nào, hành trình ấy khiến con người trở thành những sinh thể cô đơn.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ