Luận văn Thạc sĩ Y tế: Đào văn bang phân tích thực trạng sử dụng kháng

Phân tích thực trạng sử dụng kháng sinh điều trị viêm phổi cộng đồng tại Bệnh viện 19-8 Bộ Công an. Luận văn thạc sĩ Dược học 2018.

Chuyên ngành

Dược học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn Thạc sĩ

2018

103
0
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Giới thiệu về luận văn Đào Văn Bang Phân tích thực trạng sử dụng kháng sinh

Luận văn Thạc sĩ của Đào Văn Bang được thực hiện tại Trường Đại học Dược Hà Nội dưới sự hướng dẫn của PGS. Nguyễn Thị Thanh Hương. Nghiên cứu này tập trung vào phân tích thực trạng sử dụng kháng sinh trong điều trị viêm phổi cộng đồng tại Bệnh viện 19-8 Bộ Công an. Đây là một công trình học thuật quan trọng trong lĩnh vực quản lý và kinh tế dược, hoàn thành năm 2018. Luận văn có mã số 8720212 và được phân loại trong chuyên ngành Tổ chức Quản lý Dược. Đối tượng nghiên cứu chính là kháng sinh điều trị viêm phổi cộng đồng, một vấn đề sức khỏe công cộng đáng chú ý.

1.1. Nội dung chính của nghiên cứu

Nội dung chính của luận văn bao gồm việc phân tích cơ cấu thuốc kháng sinh theo nhiều tiêu chí khác nhau như nguồn gốc xuất xứ, biệt dược gốc, thuốc generic và đường dùng. Luận văn cũng đánh giá việc chỉ định kháng sinh, thời gian sử dụng, chi phí điều trị và phối hợp kháng sinh trong thực tế lâm sàng.

1.2. Ý nghĩa khoa học của đề tài

Đây là công trình khoa học có ý nghĩa trong việc tối ưu hóa sử dụng kháng sinh, phòng chống kháng thuốc kháng sinh, và cải thiện chất lượng điều trị viêm phổi cộng đồng. Kết quả nghiên cứu cung cấp bằng chứng thực tiễn cho các cơ quan y tế trong việc xây dựng hướng dẫn sử dụng kháng sinh hợp lý.

II. Phương pháp nghiên cứu và đối tượng nghiên cứu

Luận văn sử dụng phương pháp nghiên cứu mô tả để phân tích thực trạng sử dụng kháng sinh tại Bệnh viện 19-8. Địa điểm nghiên cứu là Bệnh viện 19-8 Bộ Công an Hà Nội, một cơ sở y tế quan trọng. Thời gian thực hiện nghiên cứu tập trung vào năm 2017. Đối tượng nghiên cứu chính là các bệnh nhân được điều trị viêm phổi cộng đồng và các hồ sơ kê đơn kháng sinh. Luận văn đã thiết kế mẫu nghiên cứu phù hợp với các biến số nghiên cứu được xác định trước. Quá trình thu thập, xử lý và phân tích dữ liệu được thực hiện một cách khoa học và có hệ thống.

2.1. Thiết kế và phương pháp thu thập dữ liệu

Công trình sử dụng thiết kế nghiên cứu mô tả cắt ngang để thu thập dữ liệu từ hồ sơ bệnh nhân và các hồ sơ kê đơn kháng sinh. Biến số nghiên cứu bao gồm thông tin về loại kháng sinh, đường dùng, liều lượng và thời gian điều trị.

2.2. Xử lý và phân tích dữ liệu

Dữ liệu được xử lý theo phương pháp thống kê để tạo ra các bảng và biểu đồ phân tích. Phân tích dữ liệu tập trung vào so sánh cơ cấu kháng sinh, đánh giá sự tuân thủ hướng dẫn lâm sàng và phân tích hiệu quả điều trị.

III. Kết quả nghiên cứu Cơ cấu thuốc kháng sinh sử dụng

Kết quả phân tích cơ cấu kháng sinh tại Bệnh viện 19-8 năm 2017 cho thấy những đặc điểm quan trọng về sử dụng. Cơ cấu thuốc kháng sinh theo nguồn gốc xuất xứ cho biết tỷ lệ sử dụng thuốc nội địa và nhập khẩu. Cơ cấu theo biệt dược gốc và generic phản ánh tình hình sử dụng thuốc gốc so với thuốc vi sinh sản xuất. Cơ cấu theo đường dùng bao gồm sử dụng kháng sinh đường uống, tiêm và hô hấp. Nghiên cứu cũng phân loại kháng sinh đơn thành phần và đa thành phần, cũng như phân nhóm theo cấu trúc hóa học. Các kết quả này cung cấp cơ sở dữ liệu quan trọng để đánh giá hợp lý hóa sử dụng kháng sinh.

3.1. Phân tích cơ cấu kháng sinh theo đặc tính

Phân tích chi tiết cơ cấu cho thấy tỷ lệ sử dụng các nhóm kháng sinh khác nhau. Kháng sinh nhóm beta-lactam, macrolide và fluoroquinolone là những nhóm được sử dụng phổ biến nhất trong điều trị viêm phổi cộng đồng.

3.2. Đánh giá sử dụng kháng sinh đơn và phối hợp

Kết quả cho thấy tỷ lệ sử dụng kháng sinh đơn thành phầnphối hợp kháng sinh trong điều trị. Phối hợp kháng sinh thường được áp dụng trong những trường hợp viêm phổi cộng đồng nặng hoặc có yếu tố nguy hiểm.

IV. Phân tích chỉ định và khuyến cáo từ luận văn

Phân tích việc chỉ định kháng sinh tại Bệnh viện 19-8 cho thấy tình hình tuân thủ quy chế kê đơn và các hướng dẫn lâm sàng. Luận văn đánh giá số ngày sử dụng kháng sinh trong một đợt điều trị, chi phí tiền kháng sinh cho bệnh nhân, và số lượng kháng sinh được kê cho mỗi bệnh nhân. Thay đổi kháng sinh trong quá trình điều trị được phân tích để hiểu rõ việc điều chỉnh phương án điều trị. Luận văn cũng đánh giá sử dụng kháng sinh theo bằng chứng vi khuẩn học để xác định mức độ sử dụng kháng sinh hợp lý dựa trên kết quả xét nghiệm. Các khuyến cáo từ luận văn nhằm tối ưu hóa sử dụng kháng sinhphòng chống kháng thuốc.

4.1. Thực hiện quy chế và hướng dẫn sử dụng kháng sinh

Đánh giá tuân thủ quy chế cho thấy mức độ thực hiện hướng dẫn sử dụng kháng sinh tại bệnh viện. Luận văn cũng phân tích các nguyên tắc sử dụng kháng sinh theo hướng dẫn của các tổ chức y tế quốc tế như WHO.

4.2. Gợi ý cải thiện và phòng chống kháng thuốc

Kết quả nghiên cứu cung cấp các khuyến cáo cải thiện việc sử dụng kháng sinh trong điều trị viêm phổi cộng đồng. Luận văn đề xuất các biện pháp nhằm phòng chống kháng thuốc kháng sinhtối ưu hóa hiệu quả điều trị viêm phổi cộng đồng.

21/12/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

ĐẶT VẤN ĐỀ Viêm phổi mắc phải trong cộng đồng, hay viêm phổi cộng đồng (Community-Acquired Pneumonia: CAP) là một bệnh lý thường gặp và gây tử vong cao. Tại Mỹ, viêm phổi là nguyên nhân gây tử vong hàng thứ 6 tính chung, nhưng là nguyên nhân gây tử vong hàng đầu trong số các bệnh lý nhiễm trùng, với chi phí điều trị hàng năm lên tới 17 tỷ USD [40]. Tại Việt Nam, viêm phổi là bệnh có tỷ lệ mắc cao và ngày càng tăng, năm 2014 là bệnh có tỷ lệ mắc cao thứ 2 với 603 ca/100000 dân và tỷ lệ tử vong cao thứ 2 với 1,32 người chết do viêm phổi /100000 dân [6], năm 2015 viêm phổi là bệnh có tỷ lệ mắc cao nhất với 498,9 ca/100000 dân và có tỷ lệ tử vong cao thứ 2, trung bình 1,02 người chết do viêm phổi/100000 dân [7]. Nguyên nhân gây bệnh chủ yếu là do vi khuẩn, virus, nấm… Trong đó chủ yếu là do vi khuẩn [8], vì vậy vai trò của kháng sinh trong điều trị viêm phổi cộng đồng là rất lớn.

Tuy nhiên việc sử dụng kháng sinh trong điều trị viêm phổi cộng đồng đã hợp lý chưa, còn tồn tại những bất cập gì vẫn còn là một câu hỏi lớn. Tỷ lệ kháng penicillin ở Việt Nam cao nhất (71,4%) tiếp theo là Hàn Quốc (54,8%), Hồng Kông (43,2%) và Đài Loan (38,6%). Tỷ lệ kháng erythromycin ở Việt Nam là 92,1%, Đài Loan là 86%, Hàn Quốc là 80,6%, Hồng Kông là 76,8% và Trung Quốc là 73,9%. Cùng với các nước trên thế giới, Việt Nam đã hưởng ứng tích cực lời kêu gọi của Tổ chức Y tế thế giới “Không hành động hôm nay, ngày mai không có thuốc chữa”.

“Kế hoạch hành động quốc gia về chống kháng thuốc giai đoạn từ năm 2013 đến năm 2020” đã được ban hành [9], nhằm đẩy mạnh các hoạt động phòng, chống kháng thuốc góp phần nâng cao hiệu quả của công tác phòng, chống dịch bệnh, khám bệnh, chữa bệnh, bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân. Tại Bệnh viện 19-8, kháng sinh là nhóm thuốc có số lượng hoạt chất và giá trị cao nhất [14],[15]. Năm 2015 Bệnh viện sử dụng 14/24 loại kháng sinh (*) với kinh phí chiếm 66% kinh phí mua thuốc kháng sinh [14]. Tuy nhiên cho 1 đến nay, Bệnh viện chưa có chương trình giám sát kháng kháng sinh, chưa xây dựng các hướng dẫn sử dụng kháng sinh riêng, đặc biệt chưa có nghiên cứu nào đưa ra cái nhìn thời sự và tổng quát về thực trạng sử dụng kháng sinh tại đây theo các tiêu chí của WHO và của Bộ Y tế Việt Nam.

Tình hình sử dụng kháng sinh tại đây đang rất được Lãnh đạo Cục Y tế, Lãnh đạo Bộ Công an quan tâm. Với mong muốn góp phần tăng cường sử dụng kháng sinh hợp lý tại bệnh viện 19-8 Bộ Công an, đề tài: "Phân tích thực trạng sử dụng kháng sinh điều trị viêm phổi cộng đồng tại Bệnh viện 19-8 Bộ Công an" được tiến hành với hai mục tiêu: 1. Mô tả cơ cấu thuốc kháng sinh đã sử dụng trong điều trị viêm phổi cộng đồng tại Bệnh viện 19-8 năm 2017. Phân tích việc chỉ định thuốc kháng sinh trong điều trị viêm phổi cộng đồng tại Bệnh viện 19-8 năm 2017.

Từ đó làm rõ những vấn đề bất cập, tồn tại trong sử dụng kháng sinh điều trị viêm phổi cộng đồng làm cơ sở đề xuất những giải pháp nhằm tăng cường sử dụng kháng sinh hợp lý tại bệnh viện 19-8 Bộ Công an trong những năm tiếp theo. Đại cương Bệnh 1. Khái niệm − Viêm phổi mắc phải ở cộng đồng (community acquired pneumonia) là tình trạng nhiễm khuẩn của nhu mô phổi xảy ra ở ngoài bệnh viện, bao gồm viêm phế nang, ống và túi phế nang, tiểu phế quản tận hoặc viêm tổ chức kẽ của phổi. − Tác nhân gây viêm phổi có thể là các vi khuẩn, virus, ký sinh trùng, nấm, nhưng không phải do trực khuẩn lao [8], [5].

Nguyên nhân gây bệnh − Nguyên nhân viêm phổi mắc phải ở cộng đồng tùy thuộc từng vùng địa lý, nhưng Streptococcus pneumoniae là nguyên nhân hay gặp nhất trên thế giới. − Ngoài ra còn do một số loại vi khuẩn, vi rút, nấm như: S. pneumoniae, Legionella, Klebsiella pneumoniae, Escherichia coli, Enterobacter, Influenza virus, Parainfluenza virus, respiratory syncytial virus, Adenovirus, Human metapneumovirus, Severe acute respiratory syndrome (SARS), Cryptococcus spp., Histoplasma capsulatum, Coccidioides spp [8], 1. Dịch tễ học bệnh viêm phổi mắc phải ở cộng đồng − Tại Việt Nam tỉ lệ mắc chung của viêm phổi mắc phải ở cộng đồng khoảng 5,16 - 6,11/1000 người trong năm và tăng theo tuổi.

Mùa hay gặp là mùa đông. Nam gặp nhiều hơn nữ. Tử vong do viêm phổi mắc phải ở cộng đồng hay gặp ở nhóm phải nhập viện điều trị, tỉ lệ tử vong chung lên tới 28% mỗi năm [8]. theo số liệu thống kê y tế của Bộ Y tế trong giai đoạn 2011- 2015, viêm phổi là bệnh có tỷ lệ mắc cao và ngày càng tăng năm 2014 là bệnh có tỷ lệ mắc cao thứ 2 với 603 ca/100000 dân và tỷ lệ tử vong cao thứ 2 trung bình 1,32 người chết do viêm phổi /100000 dân [6], năm 2015 viêm 3 phổi là bệnh có tỷ lệ mắc và chết cao nhất cụ thể tỷ lệ mắc 498,9 ca/100000 dân và tỷ lệ tử vong cao thứ 2 trung bình 1,02 người chết do viêm phổi/100000 dân [7].

− Tại Mỹ, viêm phổi là nguyên nhân gây tử vong hàng thứ 6 tính chung nhưng là nguyên nhân gây tử vong hàng đầu trong số các bệnh lý nhiễm trùng, với chi phí điều trị hàng năm lên tới 17 tỷ USD [40]. − Tại châu Á, một nghiên cứu năm 2007 tiến hành tại 14 bệnh viện của tám nước cho thấy tỷ lệ tử vong chung của VPCĐ là 7,3%, các yếu tố làm tăng nguy cơ tử vong là mắc kèm bệnh phổi mãn tính, bệnh tim mạch, bệnh ác tính, hạ natri máu, thở máy [43]. Tỷ lệ mắc VPCĐ của người trưởng thành ở nhật là 9,6/1000 người/năm, con số này cao hơn rất nhiều so với Mỹ và các nước châu Âu, lý do chủ yếu là do nước Nhật có dân số già [44]. − Tại châu Âu, một số nghiên cứu cho thấy: tỷ lệ mắc bệnh thay đổi theo từng quốc gia, tuổi tác và giới tính, cao hơn ở những người trong độ tuổi ≥ 65 tuổi, gặp ở nam giới nhiều hơn nữ.

Tỷ lệ tử vong từ <1 % cho đến 48% có sự liên quan đến tuổi, các bệnh lý mắc kèm và mức độ nặng của bệnh [51]. Tại Tây Ban Nha, một nghiên cứu từ 2002-2005 ghi nhận tỷ lệ mắc bệnh là 14 trường hợp/1000 người/ năm, [50]. Tại Đức, tỉ lệ mắc VPCĐ là 2,75/1000 người/năm vào năm 2005 và 2,96/1000 người/ năm vào năm 2006 [39]. Một nghiên cứu tại bốn nƣớc Phần Lan, Cộng hòa Séc, Slovakia, Hungary cho thấy: tỉ lệ mắc VPMPCĐ phải nhập viện trên 100000 dân/năm là 456,6 (Cộng hòa Séc), 504,6 (Slovakia), 363,9 (Phần Lan) và 845,3 (Hungary).

Tỉ lệ tử vong là 21,7% (Cộng hòa Séc), 20,9% (Slovakia), 18,6% (Phần Lan), 17,8% (Hungary) [45]. Nguy cơ tử vong do VPMPCĐ ở Châu Âu cũng được ghi nhận có chiều hướng tăng theo tuổi [51]. Tại Bồ Đào Nha, tỷ lệ tử vong là 4,5% ở nhóm bệnh nhân từ 18-50 tuổi, 19,5% ở nhóm trên 50 tuổi và 24,8% ở nhóm trên 70 tuổi [41], theo một nghiên cứu ở Anh cho thấy tỷ lệ tử vong ở nhóm bệnh nhân ≥ 85 tuổi là rất cao 47,2%, trong khi tỷ lệ này ở nhóm < 65 tuổi chỉ là 4 5,6% [46]. Còn tại Phần Lan, tỷ lệ tử vong do VPMPCĐ ở nhóm tuổi từ 15- 59 khá thấp 0,6%, nhóm tuổi ≥ 60 có tỷ lệ tử vong cao hơn hẳn là 11% [42].

Thực trạng sử dụng kháng sinh và kháng sinh điều trị viêm phổi cộng đồng 1. Thực trạng sử dụng kháng sinh Sử dụng thuốc kháng sinh hợp lý đang trở thành vấn đề được cả thế giới quan tâm. Nhiều nghiên cứu cho thấy tình trạng lạm dụng thuốc và kê đơn bất hợp lý còn rất phổ biến, tình trạng kháng thuốc ngày càng gia tăng [34],[47]. Ở quy mô toàn cầu WHO đưa ra phương pháp cho một chương trình toàn cầu về giám sát tiêu thụ kháng sinh [52], ở quy mô châu lục phải kể đến chương trình giám sát sử dụng kháng sinh của châu Âu [36].

Theo kết quả nghiên cứu của Van Boeckel TP trên phạm vi toàn cầu dữ liệu bán hàng của các công ty và bệnh viện trong 10 năm từ năm 2000 đến năm 2010, tiêu thụ thuốc kháng sinh tăng 36%. Brazil, Nga, Ấn Độ, Trung Quốc và Nam Phi đóng góp 76% mức tăng này. Trong đó tăng tiêu thụ carbapenems (45%) và polymixins (13%), hai phân nhóm kháng sinh cuối cùng [48]. Tại Việt Nam ngày 21 tháng 6 năm 2013 Bộ Y tế có Quyết định số 2174/QĐ-BYT Phê duyệt kế hoạch hành động Quốc gia về chống kháng thuốc giai đoạn từ năm 2013 đến năm 2020, Kháng sinh đứng hàng đầu trong 10 nhóm thuốc có giá trị sử dụng cao nhất.

Trong đó, tỷ trọng của kháng sinh tại bệnh viện tuyến trung ương là 25,7%, bệnh viện tuyến tỉnh là 32,0%, bệnh viện tuyến huyện là 43,1% [33], nghiên cứu tình hình sử dụng thuốc tại Bệnh viện Trung ương quân đội 108 năm 2010 cho thấy: 30 kháng sinh chiếm 25,26% giá trị tiền thuốc nhóm A [23]. Kháng sinh là nhóm thuốc gây ra nhiều tác dụng không mong muốn nhất 34,474% tổng số trường hợp (các betalactam 60%, amoxicillin 16,667% tổng số trường hợp ADR do kháng sinh), trong các đường dùng thuốc thì đường uống chiếm tỷ lệ cao nhất 88,816%, phần lớn các trường hợp gặp ADR có tiền sử dị ứng 34,211%. Đặc điểm ADR gặp phải do kháng sinh 80% biểu hiện trên da 5 (ban đỏ 26,667%, mày đay 10%, phù quincke 10%, hồng ban nhiễm sắc 13,333%, đỏ da toàn thân 20%.,) sốc phản vệ 1,66% chủ yếu gặp các kháng sinh 20% tổng số trường hợp sốc phản vệ [24]. Theo báo cáo của Cục quản lý Dược, tính đến ngày 29 tháng 10 năm 2015, trong 04 hoạt chất có nhiều số đăng ký nhất thì có đến 03 hoạt chất là các kháng sinh gồm: ofloxacin (481 số đăng ký), cefpodoxim (376 số đăng ký) và cefuroxime (301 số đăng ký).

Đứng đầu danh sách là acetaminophen [13]. Tình hình sử dụng kháng sinh trong nước, nhập khẩu Nghiên cứu đánh giá về kinh phí sử dụng thuốc của một số bệnh viện tuyến trung ương cho thấy tiền thuốc kháng sinh nhập khẩu chiếm 80,9%, trong đó nhóm thuốc điều trị kí sinh trùng, chống nhiễm khuẩn chiếm 70,3% [26]. Kết quả các nghiên cứu đã thực hiện cho thấy số lượng khoản mục và giá trị các thuốc kháng sinh nhập khẩu cao hơn rất nhiều thuốc kháng sinh sản xuất trong nước.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ