Chương 1. Một số vấn đề lý luận về đào tạo nguồn nhân lực trong các tổ chức, doanh nghiệp Chương 2. Thực trạng công tác đào tạo đội ngũ cán bộ, tại VNPT Đắk Lắk trong thời gian qua Chương 3. Giải pháp để hoàn thiện công tác đào tạo đội ngũ cán bộ tại VNPT Đắk Lắk.
Tổng quan tài liệu nghiên cứu Để nghiên cứu đề tài này, ngoài đề cƣơng nghiên cứu đã trao đổi với giáo viên hƣớng dẫn, bài giảng của môn học Quản trị NNL, tác giả đã sƣu tầm và nghiên cứu một số tài liệu sau đây: - Trần Kim Dung “Quản trị nguồn nhân lực”, NXB tổng hợp Tp HCM. Cuốn sách đã giới thiệu tổng quan về nguồn nhân lực. Sách gồm mƣời hai chƣơng, trong đó chƣơng VII: “Đào tạo và phát triển”, chƣơng này đã nêu một cách khá rõ về nội dung, tiến trình đào tạo nguồn nhân lực. Tuy nhiên, chƣa đi sâu vào hệ thống lý luận của công tác đào tạo nguồn nhân lực.
- Nguyễn Văn Điềm, Nguyễn Ngọc Quân (1995), “Giáo trình quản trị nhân lực”– NXB Lao động – Xã hội. Nội dung giáo trình có nêu hệ thống lý luận đào tạo nguồn nhân lực theo các yếu tố cơ bản, đó là xác định nhu cầu đào tạo; lựa chọn phƣơng pháp đào tạo; đánh giá hiệu quả đào tạo làm cơ sở để đi sâu vào kiến thức quản trị NNL. - Nguyễn Quốc Tuấn, Đoàn Gia Dũng, Đào Hữu Hòa, Nguyễn Thị Loan, Nguyễn Thị Bích Thu, Nguyễn Phúc Nguyên (2005), “Quản trị nguồn nhân lực”, NXB thống kê. Trong chƣơng VII “Đào tạo và phát triển nguồn nhân lực” đã nêu tƣơng đối toàn diện về cơ sở lý luận về công tác đào tạo và 0 5 phát triển nguồn nhân lực, các khái niệm rõ ràng, cụ thể.
- Nguyễn Thanh (2005), “Phát triển nguồn nhân lực phục vụ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước”. Bài viết của tác giả cho ta thấy một cái nhìn tổng thể về tình hình phát triển nguồn nhân lực và các giải pháp nhằm nâng cao chất lƣợng nguồn nhân lực phục vụ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nƣớc. - Đào Duy Bình (2010) “Đào tạo nguồn nhân lực cho UBND cấp xã – trường hợp huyện Đại lộc tỉnh Quảng Nam” Luận văn Thạc sĩ của tác giả đã khái quát các vấn đề lý luận có liên quan đến công tác đào tạo nguồn nhân lực, từ đó đƣa ra một số giải pháp cho công tác đào tạo ngồn nhân lực cho cấp xã tại huyện Đại lộc nói riêng và tỉnh Quảng Nam nói chung. - Đào Hữu Hòa (2013) “Vấn đề đào tạo và s dụng nguồn nhân lực t nh độ cao đ ng, đại h c tr n địa bàn khu vực miền Trung – Tây Nguy n”.
Tạp chí Khoa học & Công nghệ số 6(67). Nghiên cứu cho thấy, khu vực miền Trung – Tây Nguyên hiện có tỷ lệ lao động qua đào tạo nói chung và lao động có trình độ đại học, cao đẳng còn rất thấp, chƣa đáp ứng dƣợc nhu cầu của xã hội. Việc xác định cơ cấu ngành nghề và cấp đào tạo chƣa hợp lý, nhiều lao động có trình độ đào tạo cao nhƣng không đƣợc sử dụng đúng với chuyên môn và trình độ đào tạo, gây lãnh phí lớn cho xã hội. Bài báo cũng đã cho thấy tính hiệu quả trong việc tạo sự gắn kết giữa các doanh nghiệp với các cơ sở đào tạo nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng NNL sau đào tạo.
Nhìn chung các giáo trình, báo cáo khoa học, bài viết, giáo trình nghiên cứu đều nhấn mạnh về tầm quan trọng của công tác đào tạo nguồn nhân lực, nêu lên đƣợc thực trạng của nguồn nhân lực nói chung từ đó đƣa ra những giải pháp để phát triển nguồn nhân lực. Các công trình nghiên cứu thuộc các lĩnh vực khác nhau và đƣa ra các giải pháp khác nhau để phù hợp với đơn vị của mình. 0 6 Mỗi doanh nghiệp đều có một đặc điểm riêng, chính vì vậy công tác đào tạo nguồn nhân lực tại VNPT Đắk Lắk đƣợc xem xét một cách cụ thể có hệ thống cơ sở lý luận chắc chắn, sát với thực trạng của DN để đƣa ra các giải pháp nhằm nâng cao công tác đào tạo, bồi dƣỡng để sử dụng có hiệu quả nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu phát triển tại VNPT Đắk Lắk trong giai đoạn mới. 0 7 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ĐÀO TẠO NGUỒN NHÂN LỰC TRONG DOANH NGHIỆP 1.
KHÁI NIỆM, VAI TRÕ VÀ NGUYÊN TẮC ĐÀO TẠO NGUỒN NHÂN LỰC TRONG DOANH NGHIỆP 1. Khái niệm nguồn nhân lực và đào tạo nguồn nhân lực a. Khái niệm về nguồn nhân lực Nguồn nhân lực là “tổng hợp các năng lực lao động trong mỗi con ngƣời của một quốc gia, một vùng lãnh thổ, địa phƣơng, đã đƣợc chuẩn bị ở một mức độ nhất định và có khả năng huy động vào quá trình phát triển kinh tế xã hội của đất nƣớc hoặc vùng địa phƣơng cụ thể” [3, tr. Tài nguyên nhân lực là tất cả các thành viên trong tổ chức sử dụng kiến thức, khả năng hành vi ứng xử, giá trị đạo đức để thành lập, duy trì và phát triển tổ chức.
Nhân sự của một tổ chức đƣợc hình thành trên cơ sở các tác nhân có vai trò khác nhau và đƣợc liên kết với nhau theo những mục tiêu nhất định. Tài nguyên nhân lực của các tổ chức khác nhau thì khác nhau, và do chính đặc điểm của các cá nhân trong tổ chức tạo nên. Những cá nhân của các tổ chức có năng lực, đặc điểm, tiềm năng phát triển khác nhau nên cũng tạo ra những tiềm lực khác nhau về nguồn nhân lực cho mỗi tổ chức. việc đánh giá chính xác giá trị nguồn tài nguyên trong một tổ chức có ý nghĩa lớn vì trên cơ sở đó nhà quản trị sẽ thực hiện có hiệu quả trong công tác quản trị nguồn nhân sự.
Quan điểm này nhìn nhận nguồn nhân lực một cách toàn diện, coi nguồn nhân lực không chỉ trên góc độ số lƣợng (nguồn lực lao động) mà cả về chất lƣợng (tiềm năng phát triển). Nguồn nhân lực là tất cả các kỹ năng và năng lực của con ngƣời liên quan tới sự phát triển của mỗi cá nhân và của quốc gia. Ngày nay, trí tuệ và nền kinh tế tri thức đang là trụ cột của sự phát 0 8 triển. Các thành quả khoa học kỹ thuật trở thành yếu tố sản xuất và trở thành cấu phần của sản phẩm.
Tỷ trọng hàm lƣợng chất xám trong mỗi sản phẩm cao hay thấp thể hiện khả năng cạnh tranh của ngành nghề hay quốc gia đó. Vì vậy, chất lƣợng của nguồn nhân lực, yếu tố trình độ chuyên môn, kỹ năng nghề nghiệp, nhân cách, phẩm chất là tiêu chí quan trọng trong việc đánh giá thực trạng và khả năng phát triển nguồn nhân lực của tổ chức hoặc của từng quốc gia. Từ các vấn đề trên, chúng ta có thể hiểu: nguồn nhân lực là tổng thể những tiềm năng của con người , bao gồm cả phẩm chất, trình độ chuy n môn, kiến thức, óc sáng tạo, năng lượng, nhiệt huyết và kinh nghiệm sống của con người, nhằm đáp ứng cơ cấu kinh tế xã hội đòi hỏi. Nguồn nhân lực của tổ chức có các đặc điểm sau đây: ● Nguồn nhân lực là nguồn lực căn bản của m i tổ chức Nhƣ chúng ta đã biết, sự phát triển của tri thức là vô hạn, con ngƣời luôn phải tự tìm kiếm và khám phá ra cái mới, quá trình nay luôn tiếp diễn và đƣợc thừa kế và phát triển từ thế hệ nay qua thế hệ khác.
Khi xã hội không ngừng tiến lên, tổ chức không ngừng phát triển và con ngƣời luôn đồng hành cùng với sự tiến lên và phát triển đó. Do đó, nguồn nhân lực là nguồn lực căn bản, không bao giờ cạn kiệt đối với mọi tổ chức. Nếu tổ chức biết cách đào tạo và khai thác tốt thì nguồn lực có đóng góp rất lớn và quyết định đến sự thành công của tổ chức trong hiện tại cũng nhƣ trong tƣơng lai [1, tr. Khi xem xét nguồn nhân lực dƣới góc độ là nguồn lực của mọi tổ chức, thì năng lực lao động của con ngƣời trở thành năng lực nghề nghiệp của một nhân viên và ngƣời có năng lực nghề nghiệp tốt phải là ngƣời: có cơ thể khỏe mạnh, có tinh thần chủ động làm việc, có ý thức sáng tạo, có khả năng thích ứng với môi trƣờng tổ chức và văn hóa danh nghiệp.
0 9 ● Nguồn nhân lực là nguồn lực lao động Giá trị của nguồn lực con ngƣời đƣợc thể hiện dƣới năng lực lao động của con ngƣời, mà năng lực lao động của con ngƣời không thể tồn tại độc lập ngoài cơ thể sống hay nói cách khác nguồn nhân lực là nguồn lực con ngƣời, mà con ngƣời thì luôn trong trạng thái động và biến chuyển phức tạp. Ngoài ra, khi nghiên cứu về giá trị của hàng hóa ta thấy rằng giá trị của hàng hóa đƣợc cấu thành bởi 2 bộ phận là “giá trị chuyển dịch” và “Giá trị gia tăng”. Giá trị chuyển dịch là giá trị của những yếu tố sản xuất nhƣ: nguyên vật liệu, thiết bị…thông qua quá trình sản xuất đã chuyển hóa giá trị vốn có của nó vào sản phẩm. Do đó, giá trị chuyển dịch không tạo ra lợi nhuận.
Giá trị gia tăng là phần chênh lệch giữa giá trị hàng hóa và giá trị chuyển dịch. Phần giá trị này về cơ bản là do lao động sáng tạo ra, đó chính là nguồn gốc lợi nhuận của doanh nghiệp. Giá trị gia tăng của doanh nghiệp càng cao thì lợi nhuận của doanh nghiệp càng lớn, mà muốn có giá trị gia tăng cao thì phải dựa vào kết quả và chất lƣợng của nguồn nhân lực Chính vì thế, nguồn nhân lực là một nguồn lực năng động, là nguồn lực chính tạo ra lợi nhuận cho doanh nghiệp. ● Nguồn nhân lực là nguồn lực mang tính chiến lược Nguồn nhân lực là nguồn lực tích cực và năng động nhất trong các hoạt động kinh tế xã hội.
Đặc biệt trong thời đại kinh tế tri thức nhƣ ngày nay, thì nguồn nhân lực ngày càng khẳng định đƣợc vai trò của nó trong tổ chức, thông qua các giá trị mà nó tạo ra. Bên cạnh đó, nguồn nhân lực là nguồn lực cốt lõi tạo ra đƣợc nét độc đáo, sáng tạo của tổ chức. do đó nguồn nhân lực là nguồn lực có ảnh hƣởng rất lớn đến năng lực cạnh tranh của tổ chức. Đây là nguồn lực mang tính chiến lƣợc.
Khái niệm về đào tạo nguồn nhân lực Trong bộ sách quản trị nguồn nhân lực của George T.Milkovich và 0 10 Jonh W.