Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ĐÀO TẠO NGUỒN NHÂN LỰC TRONG TỔ CHỨC 1. Một số khái niệm có liên quan 1. Nguồn nhân lực “Nguồn nhân lực là nguồn lực con người. Nguồn lực đó được xem xét ở hai khía cạnh.
Trước hết,với ý nghĩa là nguồn gốc, là nơi phát sinh ra nguồn lực. Nguồn nhân lực nằm ngay trong bản thân con người, đó cũng là sự khác nhau cơ bản giữa nguồn lực con người với các nguồn lực khác. Thứ hai, nguồn nhân lực được hiểu là tổng thể nguồn lực của từng cá nhân con người. Với tư cách là một nguồn lực của quá trình phát triển,nguồn nhân lực là nguồn lực con người có khả năng sáng tạo ra của cải vật chất và tinh thần cho xã hội được biểu hiện ra là số lượng và chất lượng nhất định tại một thời điểm nhất định” [10, tr.
Do đó có thể thấy nguồn nhân lực phụ thuộc nhiều vào cá nhân mỗi con người cũng như điều kiệu môi trường sống. Xét về về góc độ sử dụng nguồn nhân lực người ta có thể chia thành nguồn nhân lực xã hội và nguồn nhân lực của tổ chức. “Nguồn nhân lực là một phạm trù dùng để chỉ sức mạnh tiềm ẩn của dân cư, khả năng huy động tham gia vào quá trình tạo ra của cải vật chất và tinh thần cho xã hội trong hiện tại cũng như trong tương lai. Sức mạnh và khả năng đó được thể hiện thông qua số lượng, chất lượng và cơ cấu dân số, nhất là số lượng và chất lượng con người có đủ điều kiện tham gia vào nền sản xuất xã hội” [9, tr.
Như vậy, xem xét dưới các góc độ khác nhau có những khái niệm khác nhau về nguồn nhân lực nhưng những khái niệm này đều thống nhất nội dung cơ bản: “Nguồn nhân lực là nguồn cung cấp sức lao động cho xã hội, là yếu tố cấu thành lực lượng sản xuất, giữ quyết định của sự phát triển kinh tế - xã hội của mọi quốc gia” [9, tr. Các công trình nghiên cứu và thực tế phát 8 triển của các nước đều đã khẳng định có tính chất quyết định của nguồn nhân lực đối với phát triển kinh tế - xã hội nói chung, đặc biệt trong xu thế toàn cầu hóa hiện nay. Sự khẳng định này được trải qua thời gian kiểm nghiệm, đúc kết kinh nghiệm trong hoạt động thực tiễn. “Nguồn nhân lực của một tổ chức bao gồm tất cả những người lao động làm việc trong tổ chức đó, còn nhân lực được hiểu là nguồn lực của mỗi con người, gồm thể lực và trí lực” [10, tr.
Theo cách hiểu này thì nguồn nhân lực trong tổ chức nói chung chỉ trong khuôn khổ danh sách của đơn vị, được tổ chức trả lương, điều này dễ dẫn đến sự cứng nhắc trong sử dụng nguồn nhân lực. Nói cách khác, nguồn nhân lực chỉ bao gồm số người bên trong tổ chức, trong khi đó hiện nay việc sử dụng lao động rất uyển chuyển linh hoạt nhiều khi số bên ngoài, theo hợp đồng vụ việc, công việc hay khoán còn gấp nhiều lần số cố định trong danh sách. Tác giả nhất trí với quan điểm, cho rằng: “Nguồn nhân lực trong tổ chức là tất cả những người lao động đang làm việc cho tổ chức”. Bởi vì theo quan niệm này thì nguồn nhân lực trong tổ chức không đề cập đến độ tuổi (cận dưới hoặc cận trên) của nhân lực, mà căn cứ và sự tham gia đóng góp của người lao động vào quá trình của tổ chức, nghĩa là tùy theo khả năng và sự tham gia đóng góp của người lao động vào việc thực hiện mục đích chung và miễn là có tham gia giải quyết các phần việc nào đó cho tổ chức sẽ được tính là nguồn nhân lực của tổ chức.
Điều này, trong thực tế sử dụng nguồn nhân lực ở Việt Nam cho thấy đã phát huy được tốt và đã huy động và tận dụng được tất cả những khả năng, tiềm năng có thể có của nguồn nhân lực vào việc giải quyết các mục tiêu của tổ chức. Với góc độ nguồn nhân lực bao gồm cả những người bên trong và bên ngoài nhưng có tham gia giải quyết các công việc của tổ chức hay thực hiện các nhiệm vụ được phân công sẽ đồng nghĩa với việc khi tiến hành các hoạt động đào tạo nguồn nhân lực nói chung chúng ta cần quan tâm đào tạo, huấn luyện cả lực lượng lao động bên ngoài để họ có đủ kiến thức, trình độ, điều 9 kiện và năng lực cần thiết hoàn thành các nhiệm vụ, công việc mà doanh nghiệp phân công. Theo định nghĩa nhân lực y tế của WHO, ở Việt Nam các nhóm đối tượng được coi là “Nhân lực y tế” sẽ bao gồm các cán bộ, nhân viên y tế thuộc biên chế và hợp đồng đang làm trong hệ thống y tế công lập, các cơ sở đào tạo và nghiên cứu khoa học y/dược và tất cả những người khác đang tham gia vào các hoạt động quản lý và cung ứng dịch vụ chăm sóc sức khỏe nhân dân. Từ đó có thể định nghĩa: Nguồn nhân lực y tế là một thuật ngữ dùng đề chỉ tổng thể những người hoạt động trong lĩnh vực xây dựng và ban hành chiến lược, chính sách y tế; đào tạo, bồi dưỡng và nghiên cứu trong lĩnh vực y tế; tổ chức, thực hiện những chiến lược, chính sách y tế, nhằm thực hiện nhiệm vụ chăm sóc và bảo vệ sức khỏe nhân dân, nâng cao sức khỏe của cộng đồng, xã hội.
Nhân lực y tế giữ vai trò quan trọng trong đời sống xã hội: Nhân lực y tế đóng vai trò chủ đạo trong công cuộc đổi mới và xây dựng phát triển nền y tế đất nước. Một đất nước có nhân lực y tế đầy đủ phẩm chất chính trị, có trình độ chuyên môn và năng lực, có tinh thần trách nhiệm cao, sẵn sàng cống hiến cho sự nghiệp xây dựng và phát triển nền y tế đất nước là một đất nước có nền y tế phát triển mạnh. Bởi vì, nhân lực y tế chính là lực lượng nòng cốt, luôn đóng vai trò chủ đạo thực hiện các nhiệm vụ quan trọng trong mỗi giai đoạn lịch sử của phát triển nền y tế đất nước. Ngay trong nền y tế, nhân lực y tế là nhân lực quan trọng có vai trò quyết định trong việc nâng cao hiệu lực, hiệu quả của bộ máy quản lý ngành y tế, là một trong những nhân lực quan trọng trong việc thực hiện công cuộc phát triển nền y tế đất nước cụ thể là: Nhân lực y tế là đội ngũ chủ yếu trực tiếp tham gia xây dựng đường lối đổi mới nền y tế của đất nước, hoạch định các chính sách, chiến lược phát triển y tế, tổ chức quản lý mọi hoạt động y tế.
Điều này thể hiện rõ ở việc quản lý y tế vĩ mô. Bởi vì, toàn bộ nền y tế hoạt động trong môi trường, thể chế, định hướng nào đều là do nhân lực y tế hoạch định và đội ngũ này là những người trực tiếp tạo môi trường tổ chức hoạt động y tế, điều kiện về sử 10 dụng công cụ kinh tế, thực lực kinh tế để tác động, quản lý, điều tiết nhằm phát triển y tế của đất nước. Vai trò của nhân lực y tế càng trở nên quan trọng, bởi các lý do sau đây: Kinh tế - xã hội phát triển toàn diện khiến nhu cầu về y tế ngày càng tăng, đòi hỏi càng nhiều phương thức hoạt động, đa dạng hoá các loại hình tổ chức hoạt động y tế và sự lựa chọn phương án tối ưu để phát triển nền y tế phù hợp với nhu cầu xã hội đởi hỏi ngày càng thoả mãn hơn. Sự tác động của các quá trình quản lý hoạt động y tế đối với thực tiễn trong điều kiện mới càng trở nên quan trọng.
Các quyết định quản lý sâu sắc lâu dài, có thể đem lại hiệu quả lớn, nhưng cũng có thể dẫn tới hậu quả nghiêm trọng. Do đó, đối với nhân lực y tế phải có trách nhiệm cao về chất lượng, về tính khoa học trong các quyết định tổ chức quản lý hoạt động y tế. Đào tạo nguồn nhân lực trong tổ chức “Đào tạo được hiểu là các hoạt động học tập nhằm giúp cho người lao động có thể thực hiện tốt hơn chức năng, nhiệm vụ của mình. Đó chính là quá trình học tập làm cho người lao động nắm vững hơn về công việc của mình, là những hoạt động học tập để nâng cao trình độ, kỹ năng của người lao động để thực hiện nhiệm vụ lao động của mình có hơn” [10, tr.
Đào tạo nguồn nhân lực trong tổ chức được hiểu là: tổng thể các hoạt động có tổ chức diễn ra trong khoảng thời gian xác định nhằm làm thay đổi hành vi nghề nghiệp của người lao động. Đào tạo là hoạt động để duy trì và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực trong tổ chức, là điều kiện quyết định để tổ chức có thể đứng vững và thắng lợi trong môi trường cạnh tranh [10, tr. Có nhiều hình thức đào tạo như: Đào tạo mới, đào tạo lại, đào tạo nâng cao, đào tạo phát triển [9, tr. Đào tạo mới là đào tạo ban đầu nhằm trang bị cho người lao động những kiến thức, kỹ năng mới mà họ chưa được biết, chưa được trang bị.
Đào tạo lại là đào tạo những kiến thức, kỹ năng mà người lao động trước đây đã được cung cấp, trang bị, được đào tạo nhưng vì một lý do nào đó hiện nay không còn phù hợp nữa. 11 Đào tạo nâng cao là cung cấp cho người lao động những kiến thức kỹ năng cao và phức tạp hơn so với hiện tại để họ có thể làm những công việc phức tạp hơn. Nội dung đào tạo nguồn nhân lực Để đào tạo nguồn nhân lực, các tổ chức thường tiến hành các bước sau đây: Xác định nhu cầu đào tạo Xác định mục tiêu đào tạo Lựa chọn đối tượng đào tạo Xây dựng nội dung, chương trình đào tạo Lựa chọn phương pháp đào tạo Chuẩn bị cơ sở vật chất, tài chính và giáo viên Triển khai thực hiệnchương trình đào tạo Đánh giá kết quả đào tạo Sơ đồ 1.1: Sơ đồ các bước tiến hành đào tạo nguồn nhân lực Nguồn: [10, tr. Xác định nhu cầu đào tạo Để thực hiện đào tạo nguồn nhân lực trong tổ chức thì việc xác định nhu cầu đào tạo là việc đầu tiên mà người làm công tác đào tạo trong tổ chức cần phải quan tâm.
Đây là khâu trọng yếu trong toàn bộ quá trình đào tạo, xác định nhu cầu đào tạo đúng thì mới có thể thực hiện các bước tiếp theo của quá trình đào tạo.