phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, các phụ lục, luận văn được kết cấu thành 3 chương: C ƣơng 1: Cơ sở lý luận về đào tạo nguồn n ân lự trong tổ ứ C ƣơng 2: T ự trạng đào tạo nguồn n ân lự tạ Công ty ổ p ần Tấn P át Kon Tum C ƣơng 3: Một số g ả p áp n ằm oàn t ện ông tá đào tạo nguồn n ân lự tạ Công ty ổ p ần Tấn P át Kon Tum 7. Tổng qu n tà l ệu ng ên ứu Những năm qua, nước ta có nhiều nghiên cứu mang tính chất hệ thống, được xuất bản thành các giáo trình, sách hay các nghiên cứu lý luận về đào tạo nguồn nhân lực được đăng trên các tạp chí. Trong đó có nhiều công trình nghiên cứu đạt được thành công đáng kể. Có thể dẫn chứng điển hình một số nghiên cứu lý luận như sau: Luận văn thạc sĩ “Sự cần thiết về hoàn thiện công tác đào tạo nguồn nhân lực tại Công ty cổ phần Sông Đà” năm 2013 của tác giả Trần Thị Thu Huyền.
Bài luận văn đã khái quát hóa được những vấn đề lý luận về công tác đào tạo nguồn nhân lực, nêu rõ quy trình đào tạo tại công ty. Có thể nói thành 4 công nhất của bài luận là tác giả đã tìm ra được những bất cập trong công tác đào tạo tạo tại đơn vị thời gian qua, đồng thời phát hiện ra những nguyên nhân chủ quan và khách quan dẫn tới một lượng lớn lao động sau khi được đào tạo lại không làm đúng chuyên môn khiến cho chất lượng lao động vẫn thấp, năng suất lao động không cao. Từ đó, tác giả đã đưa ra một số giải pháp thiết thực nhằm nâng cao hiệu quả của công tác đào tạo tại đơn vị. Luận án tiến sĩ “Nghiên cứu việc làm của lao động qua đào tạo nghề ở Việt Nam” – năm 2009 – Tác giả: Bùi Tôn Hiến – Trường Đại học Kinh tế Quốc dân, Hà Nội.
Luận án đã khái quát hóa được những vấn đề cơ bản về lao động qua đào tạo nghề. Đồng thời, tác giả đã phân tích rõ thực trạng việc làm của lao động qua đào tạo nghề, vấn đề sử dụng nguồn nhân lực sau đào tạo khá hiệu quả. Qua đó, tác giả đã đề xuất một số giải pháp về công tác đào tạo và giải quyết việc làm cho lực lượng lao động qua đào tạo nghề giai đoạn 2011 – 2020. Giáo trình “Nguồn nhân lực” – năm 2008 – PGS.
Nguyễn Tiệp – NXB Lao động – Xã hội, Hà Nội. Giáo trình đi sâu nghiên cứu các vấn đề lý luận và thực tiễn của nguồn nhân lực thuộc bình diện vĩ mô, được phân tích theo hệ thống các yếu tố cấu thành, đặc điểm và các nhân tố tác động đến số lượng, chất lượng, cơ cấu nguồn nhân lực, đưa ra các giải pháp nhằm thúc đẩy sự hoàn thiện và phát triển nguồn nhân lực. Ngoài ra, tác giả cũng nghiên cứu một số tài liệu nước ngoài được phổ biến rộng rãi, mang lại nhiều kinh nghiệm và kiến thức bổ ích về vấn đề đào tạo nguồn nhân lực như: Cuốn “The manager’s guide to maximizing employee potential” – William J. Rothwell, mang đến cho người đọc những chiến lược đơn giản nhưng vô cùng hiệu quả để phát triển năng lực của nhân viên, trong đó có các chiến lược thực hiện việc đào tạo nhân viên một cách thường xuyên thông qua 5 công việc.
Đây là cuốn sách rất cần thiết cho bộ phận nhân sự và các nhà quản lý trong việc thu hút, nuôi dưỡng và giữ chân nhân tài. Cuốn “Training and Development: Enhancing Communication and Leadership Skills” – 2012 – Steven A. David Roach, cuốn sách trình bày một cách tiếp cận từng bước để phát triển các chương trình đào tạo được tổ chức xung quanh mô hình đào tạo dựa vào nhu cầu là trung tâm. Cuốn sách này cho thấy rằng mọi khía cạnh của việc phát triển một chương trình đào tạo phải dựa trên nhu cầu của người học.
Nó bao gồm các câu hỏi về ứng dụng và thảo luận ở cuối mỗi chương, cung cấp cho người đọc cơ hội đưa ra các nguyên tắc và kỹ năng để kiểm tra. Nó cũng cung cấp cho người đọc những ví dụ về bảng câu hỏi đánh giá nhu cầu, phân tích công việc, kế hoạch đào tạo và các công cụ khác có thể được sử dụng làm mô hình khi lập kế hoạch cho các chương trình đào tạo trong doanh nghiệp. Nhìn chung, những tài liệu nêu trên đã có những đóng góp đáng kể trong việc giải quyết các khó khăn phổ biến trong công tác đào tạo nguồn nhân lực tại các tổ chức. Tuy nhiên, mỗi tổ chức lại có những đặc điểm khác nhau, do đó, các tài liệu trên chưa hoàn toàn đáp ứng được yêu cầu giải quyết các khó khăn cụ thể tại Công ty cổ phần Tấn Phát Kon Tum.
Tính đến nay, tại Công ty Cổ phần Tấn Phát Kon Tum chưa có công trình nào nghiên cứu vấn đề đào tạo nguồn nhân lực tại đơn vị. Với mục tiêu nâng cao hơn nữa chất lượng nguồn nhân lực nhằm đáp ứng yêu cầu công việc, tác giả đã lựa chọn đề tài "Đào tạo nguồn nhân lực ở Công ty Cổ phần Tấn Phát Kon Tum" làm vấn đề nghiên cứu của bài luận văn, nhằm đề xuất một số giải pháp thiết thực có thể áp dụng vào thực tế để giải quyết những vấn đề bất cập mà Công ty đang gặp phải. 6 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ĐÀO TẠO NGUỒN NHÂN LỰC TRONG DOANH NGHIỆP 1. TỔNG QUAN VỀ NGUỒN NHÂN LỰC VÀ ĐÀO TẠO NGUỒN NHÂN LỰC 1.
Một số á n ệm ơ bản a. Nhân lực Nhân lực là sức lực nằm trong mỗi con người và làm cho con người hoạt động. Sức lực đó ngày càng phát triển cùng với sự phát triển của cơ thể con người, đến một mức độ nào đó, con người đủ điều kiện tham gia vào quá trình lao động – con người có sức lao động. Hiểu theo cách khác, nhân lực là nguồn lực của mỗi người, bao gồm cả thể lực và trí lực.
Thể lực thể hiện là sức khỏe, khả năng sử dụng cơ bắp, chân tay. Thể lực phụ thuộc vào tình trạng sức khỏe của con người, mức sống, thu nhập, chế độ ăn uống, chế độ làm việc, nghỉ ngơi,…Trí lực là năng lực trí tuệ, là nguồn tiềm tàng to lớn của con người, đó là tài năng, năng khiếu cũng như quan điểm, lòng tin, nhân cách,… Vậy nhân lực bao gồm tất cả các tiềm năng của con người trong một tổ chức hay xã hội (kể cả nhẵng thành viên trong ban lãnh đạo doanh nghiệp), tức là tất cả thành viên trong doanh nghiệp sử dụng kiến thức, khả năng, hành vi ứng xử và giá trị đạo đức để thành lập, duy trì và phát triển doanh nghiệp. Nguồn nhân lực Nguồn nhân lực của một tổ chức được hình thành trên cơ sở của các cá nhân có vai trò khác nhau và được liên kết với nhau theo những mục tiêu nhất định. Nguồn nhân lực khác với các nguồn lực khác của doanh nghiệp do chính bản chất của con người.
Nhân viên có các năng lực, đặc điểm cá nhân khác nhau, có tiềm năng phát triển, có khả năng hình thành các nhóm hội, các 7 tổ chức công đoàn để bảo vệ quyền lợi của họ. Họ có thể đánh giá và ddwatj câu hỏi đối với hoạt động của các cán bộ quản lý, hành vi của họ có thể thay đổi phụ thuộc vào chính bản thân họ hoặc sự tác động của môi trường xung quanh. Do đó, quản trị nguồn nhân lực khó khăn và phức tạp hơn nhiều so với quản trị các yếu tố khác của quá trình sản xuất kinh doanh. Nguồn nhân lực là một trong những nguồn lực quan trọng nhất của sự phát triển kinh tế và xã hội.
Có thể hiểu khái niệm nguồn nhân lực dưới nhiều góc độ khác nhau: Theo giáo trình Kinh tế nguồn nhân lực, trường Đại học Kinh tế quốc dân, nguồn nhân lực là nguồn lực con người, nguồn lực đó được xem xét ở hai khía cạnh. Trước hết, với ý nghĩa là nguồn gốc, là nơi phát sinh ra nguồn lực. Nguồn nhân lực nằm trong bản thân con người, đó cũng là sự khác nhau cơ bản giữa nguồn lực con người và các nguồn lực khác. Thứ hai, nguồn nhân lực được hiểu là tổng thể nguồn nhân lực của từng cá nhân con người.
Với tư cách là một nguồn nhân lực của quá trình phát triển, nguồn nhân lực là nguồn lực con người có khả năng sáng tạo ra của cải vật chất và tinh thần cho xã hội, được biểu hiện là số lượng và chất lượng nhất định tại một thời điểm nhất định. Cách hiểu này thể hiện một sự nhìn nhận lại vai trò yếu tố con người trong quá trình phát triển. Theo giáo trình Nguồn nhân lực, trường Đaị học Lao động – Xã hội thì nguồn nhân lực được định nghĩa như sau: Thứ nhất, “Nguồn nhân lực bao gồm toàn bộ dân cư có khả năng lao động”. Khái niệm này chỉ nguồn nhân lực với tư cách là nguồn cung cấp sức lao động cho xã hội.
Thứ hai, “Nguôn nhân lực được hiểu theo nghĩa hẹp hơn, bao gồm nhóm dân cư trong độ tuổi lao động có khả năng lao động”. Khái niệm này chỉ khả năng đảm đương lao động chính của xã hội. 8 Nội hàm nguồn nhân lực không chỉ bao hàm những người trong độ tuổi lao động có khả năng lao động, cũng không chỉ bao hàm về mặt chất lượng mà còn chứa đựng hàm ý rộng hơn.TS Phạm Minh Hạc: “Nguồn nhân lực là tổng thể các tiềm năng lao động của một nước hoặc một địa phương, tức nguồn lao động được chuẩn bị (ở các mức độ khác nhau) sẵn sàng tham gia một công việc lao động nào đó, tức là những người lao động có kỹ năng (hay khả năng nói chung), bằng con đường đáp ứng được yêu cầu của cơ chế chuyển đổi cơ cấu lao động, cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa”. Như vậy, nguồn nhân lực không chỉ bao hàm chất lượng nguồn nhân lực hiện tại mà còn bao hàm cả nguồn cung cấp nhân lực trong tương lai.
Nguồn nhân lực là tổng thể các tiềm năng lao động của một tổ chức, một địa phương, một quốc gia trong thể thống nhất hữu cơ năng lực xã hội (Thể lực, trí lực, nhân cách) và tính năng động xã hội của con người thuộc các nhóm đó, nhờ tính thống nhất mà nguồn lực con người biến thành nguồn vốn con người đáp ứng yêu cầu phát triển.