phần mở đầu, kết luận, luận văn gồm 3 chƣơng: Chƣơng 1: Một số vấn đề lí luận về đào tạo nguồn nhân lực trong các doanh nghiệp. Chƣơng 2: Thực trạng công tác đào tạo nguồn nhân lực tại công ty Cổ phần Kim khí Miền Trung thời gian qua. Chƣơng 3: Một số giải pháp nhằm hoàn thiện công tác đào tạo nguồn nhân lực tại công ty Cổ phần Kim khí Miền Trung thời gian đến. Tổng quan tài liệu Công tác đào tạo nguồn nhân lực có ý nghĩa rất to lớn đối với các doanh nghiệp.
Qua quá trình đào tạo giúp ngƣời lao động không ngừng nắm vững đƣợc lý thuyết mà còn tiếp thu đƣợc những kỹ năng nghề nghiệp, sử dụng thành thạo những công nghệ mới trong sản xuất kinh doanh và quản lý. Điều đó tạo điều kiện cho doanh nghiệp có thể áp dụng nhiều tiến bộ kỹ thuật vào trong quá trình sản xuất của doanh nghiệp mình. Từ đó, doanh nghiệp có khả năng thích ứng với sự thay đổi của cơ chế thị trƣờng và sự cạnh tranh với các doanh nghiệp khác để có thể tồn tại và phát triển. Có thể nói, đào tạo nguồn nhân lực là yếu tố quyết định của sự phát triển của doanh nghiệp.
Vấn đề này đã và đang là mảng đề tài đƣợc sự quan tâm của nhiều giới nghiên cứu. Trong cuốn sách “Quản Trị Nhân Sự” của Nguyễn Hữu Thân (2008), tác giả khẳng định: “Đào tạo và huấn luyện là một nghệ thuật nhằm cung cấp kiến thức, kỹ năng, cho phép con ngƣời nâng cao tri thức, tiếp thu các kiến thức, học các kỹ năng mới nhằm thay đổi quan điểm, hành vi nâng cao khả năng thực hiện công việc”. Theo Nguyễn Hữu Thân, đào tạo là một quá trình, mà bƣớc đầu tiên của quá trình đó là Xác định mục tiêu đào tạo. Tiếp theo, doanh nghiệp phải Phân tích để hiểu rõ nhu cầu đào tạo, bao gồm Phân tích doanh nghiệp, Phân tích tác nghiệp, Phân tích nhân viên và Thu thập thêm tài liệu về nhu cầu đào tạo.
Sau đó, doanh nghiệp sẽ tìm cách thức đạt đƣợc mục tiêu, hành động và liên tục học hỏi. Theo tác giả, có hai cách thức thực hiện quá trình đào tạo đó là Đào tạo tại nơi làm việc và đào tạo ngoài nơi làm việc. Cuối cùng của quá trình sẽ là giai đoạn thu thập ý kiến phản hồi, kiểm tra kết quả đạt đƣợc và tiếp tục xác định mục tiêu mới. Trong cuốn “Quản Trị Nhân Lực” của tác giả Nguyễn Thanh Hội (Nhà xuất bản thống kê, Hà Nội), tác giả đã đƣa ra lời giải thích chi tiết cho việc vì sao phải tiến hành đào tạo nhân viên.Theo ông, quá trình đào tạo gồm 3 giai 4 đoạn: lúc nhân viên mới bắt đầu nhận việc, trong thời gian làm việc, và để chuẩn bị cho công việc mới.
Trong mỗi giai đoạn, mục tiêu và cách thức đào tạo nhân viên sẽ khác nhau. Bên cạnh đó, tác giả Nguyễn Thanh Hội cũng đƣa ra mô hình đào tạo gồm 3 bƣớc: Ƣớc lƣợng, phát triển và đánh giá. Mục tiêu của giai đoạn ƣớc lƣợng là thu thập thông tin để xác định xem việc đào tạo có cần thiết trong tổ chức hay không. Sau khi thu thập thông tin doanh nghiệp sẽ rút ra mục tiêu của chƣơng trình đào tạo.
Giai đoạn phát triển của việc đào tạo là thiết kế môi trƣờng đào tạo cần thiết để đạt đƣợc mục tiêu. Giai đoạn đánh giá đòi hỏi phải nhận ra và phát triển những tiêu chuẩn, bao gồm phản ứng của ngƣời tham dự vào việc đào tạo, ƣớc tính xem họ đã học tập đƣợc chƣơng trình gì trong chƣơng trình đào tạo, đánh giá thái độ của họ sau đào tạo. Với thể loại báo, tạp chí, có rất nhiều bài viết về đề tài đào tạo nguồn nhân lực, nhƣ bài báo “Một số vấn đề về đào tạo và phát triển nguồn nhân lực” của tác giả PGS – TS. Võ Xuân Tiến, trƣờng Đại Học Kinh Tế, Đại Học Đà Nẵng.
Bài báo này làm sáng tỏ nội dung: Nguồn nhân lực là nguồn lực quý giá nhất của tổ chức, là yếu tố quyết định sự thành bại của họ trong tƣơng lai. Bởi vậy, các tổ chức và đơn vị luôn tìm cách để duy trì và phát triển nguồn nhân lực của mình. Một trong các biện pháp hữu hiệu nhất nhằm thực hiện mục tiêu là đào tạo và phát triển nguồn nhân lực. Bài báo đã làm rõ các nội dung của đào tạo nguồn nhân lực và đƣợc tham khảo để xây dựng cơ sở lí luận cho đề tài.
Tác giả Nguyễn Ngọc Vinh trƣờng ĐH Kinh Tế thành phố Hồ Chí Minh có bài viết “Phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao yếu tố quyết định trong công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước” đăng trên Tạp chí Phát triển và hội nhập – số 3 – tháng 3-4/2012. Bài báo đã phân tích khái quát khía cạnh giá trị vô hạn của nguồn nhân lực cũng nhƣ khả năng khai thác tiềm năng thời kì dân số vàng của Việt Nam. Bài viết của tác giả Nguyễn Văn Chiều “Triết lí đầu tư cho đào tạo nhân lực của doanh nghiệp” đăng trên tạp 5 chí Nhà quản lí đã tổng kết kinh nghiệm của nhiều doanh nghiệp thành công nhờ chính sách đào tạo và huấn luyện nhân viên, và đã chỉ ra 7 triết lí có ý nghĩa trong đầu tƣu cho đào tạo nguồn nhân lực đối với các doanh nghiệp hiện nay. Bài viết “Đào tạo và phát triển nguồn nhân lực trong các công ty nhà nước trong thời kì hội nhập” đăng trên web Doanhnhan360.com của tác giả thạc sĩ Ngô Thị Minh Hằng đã chỉ rõ tầm quan trọng của công tác đào tạo và phát triển nguồn nhân lực, đồng thời nêu ra những yếu kém của công tác này trong các công ty hiện nay.
Bên cạnh đó, tác giả cũng đƣa ra một số giải pháp để công tác đào tạo và phát triển nguồn nhân lực trong các công ty thật sự có hiệu quả. Hiện nay, đã có một số luận văn nghiên cứu tại công ty Cổ phần Kim khí Miền Trung, nhƣng chủ yếu nghiên cứu đến công tác quản lí, hoạch định marketing, tuyển dụng nhân viên,… Tuy nhiên, đến thời điểm này, chƣa có tác giả nào nghiên cứu cụ thể và đi sâu vào vấn đề hoàn thiện công tác Đào tạo tại công ty Cổ phần Kim khí Miền Trung. Vì vậy, tôi chọn đề tài “Đào tạo nguồn nhân lực tại công ty Cổ Phần Kim khí Miền Trung” để nghiên cứu. Các công trình trên sẽ là nguồn tài liệu tham khảo quý giá, bổ ích cho tôi trong quá trình tiến hành bài viết.
6 CHƢƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ ĐÀO TẠO NGUỒN NHÂN LỰC TRONG CÁC DOANH NGHIỆP 1. KHÁI QUÁT VỀ ĐÀO TẠO NGUỒN NHÂN LỰC 1. Một số khái niệm về đào tạo nguồn nhân lực a. Nhân lực Nhân lực là một danh từ theo nghĩa Hán Việt có nghĩa: Nhân là ngƣời, lực là sức lực.
Phạm trù sức ngƣời lao động chứa một nội hàm rất rộng, nếu diễn giải theo từng bộ phận cấu thành thì đó là sức của trí óc, sức của cơ bắp, sức của xƣơng cốt… Sức thể hiện thông qua năm giác quan: thính giác, thị giác, vị giác, khứu giác và cảm giác. Chất lƣợng của sức lao động đó là trình độ văn hóa, trình độ chuyên môn kĩ thuật, mức độ lành nghề… Nhân lực của một doanh nghiệp là toàn bộ những khả năng lao động mà doanh nghiệp cần và huy động cho việc thực hiện và hoàn thành những nhiệm vụ trƣớc mắt và lâu dài của doanh nghiệp. Nhƣ vậy, Nhân lực là nguồn lực của mỗi người, bao gồm thể lực, trí lực và nhân cách của mỗi con người được đem ra sử dụng trong quá trình lao động sản xuất. Thể lực là sức khỏe, khả năng sử dụng cơ bắp, chân tay.
Thể lực phụ thuộc vào nhiều yếu tố nhƣ giới tính, gen di truyền, tầm vóc ngƣời, chế độ ăn uống, nghỉ ngơi. Trí lực là khả năng suy nghĩ, hiểu biết của con ngƣời, trí lực ở đây muốn nói tới khả năng lao động bằng trí óc của con ngƣời. Nhân cách là những nét đặc trƣng tiêu biểu của con ngƣời, đƣợc hình thành trong sự kết hợp giữa hiệu quả giáo dục và môi trƣờng. Nguồn nhân lực Hiện nay có nhiều quan điểm khác nhau về nguồn nhân lực.
Có thể nêu lên một số quan điểm: 7 Nguồn nhân lực là một khái niệm mang tính tổng hợp các đặc tính số lƣợng và chất lƣợng về nguồn nhân lực, đƣợc mô tả bởi quy mô và cơ cấu theo các đặc điểm giới tính, trình độ chuyên môn nghiệp vụ, ngành nghề hay một đặc tính nào khác. Nói đến nguồn nhân lực, chúng ta không chỉ dừng lại ở việc mô tả quy mô của lực lƣợng này và cơ cấu theo các đặc tính dễ xác định nhƣ giới tính, trình độ chuyên môn, nghiệp vụ mà còn xác định các thông tin về kĩ năng, kinh nghiệm, sự tận tâm, nỗ lực, tiềm năng sáng tạo,… [17] Nguồn nhân lực của doanh nghiệp là tổng hợp cá nhân những con ngƣời cụ thể tham gia vào quá trình lao động, là tổng thể các nhân tố về thể chất và tinh thần đƣợc huy động vào quá trình lao động. Nguồn nhân lực là tổng thể những tiềm năng của con ngƣời (trƣớc hết và cơ bản nhất là tiềm năng lao động). Gồm: thể lực, trí lực, nhân cách của con ngƣời đáp ứng một cơ cấu kinh tế - xã hội đòi hỏi.
Nguồn nhân lực vừa là phƣơng tiện vừa là mục đích, nguồn nhân lực tƣơng tác với các nguồn lực khác và đó là con ngƣời có cá tính, năng lực riêng. [13] Nguồn nhân lực của doanh nghiệp là tất cả những ngƣời đang làm việc trong tổ chức, doanh nghiệp đó, là lực lƣợng lao động của từng doanh nghiệp đƣợc hình thành trên cơ sở của các cá nhân có vai trò khác nhau và đƣợc liên kết với nhau theo những mục tiêu nhất định. Nguồn nhân lực doanh nghiệp đƣợc xem xét trên góc độ số lƣợng và chất lƣợng. Số lƣợng đƣợc biểu hiện thông qua các chỉ tiêu quy mô và tốc độ tăng nguồn nhân lực.
Các chỉ tiêu về số lƣợng có quan hệ mật thiết với chỉ tiêu quy mô và tăng trƣởng của doanh nghiệp. Chất lƣợng doanh nghiệp thể hiện thông qua tình trạng sức khỏe trình độ văn hóa, trình độ chuyên môn, kĩ năng, kinh nghiệp,… [1] 8 Từ những quan niệm của một số tác giả trên, chúng ta có thể nêu lên khái quát: Nguồn nhân lực là tổng thể những tiềm năng của con ngƣời (trƣớc hết và cơ bản nhất là tiềm năng lao động), gồm: Thể lực, trí lực và nhân cách của con ngƣời nhằm đáp ứng các nhiệm vụ, mục tiêu của doanh nghiệp.