CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ĐÀO TẠO NGUỒN NHÂN LỰC 1. KHÁI NIỆM, ĐẶC ĐIỂM, VAI TRÒ CỦA CÔNG TÁC ĐÀO TẠO NGUỒN NHÂN LỰC TRONG PHÁT TRIỂN KINH TẾ 1. Khái niệm nguồn nhân lực Theo Từ điển Tiếng Việt: Nguồn là nơi phát sinh, nơi cung cấp. Nhân lực là sức của con người bao gồm: sức lực cơ bắp (thể lực), trình độ tri thức được vận dụng vào quá trình lao động của mỗi cá nhân (trí lực), những ham muốn, hoài bão của bản thân người lao động hướng tới một mục đích xác định (tâm lực).
Nhân lực với ý nghĩa đầy đủ của nó bao gồm ba yếu tố có sự liên hệ biện chứng với nhau, đó là thể lực, trí lực, tâm lực. Nguồn nhân lực được hiểu là nơi phát sinh, nơi cung cấp sức lực của con người trên đầy đủ các phương diện cho lao động sản xuất. “Nguồn lực con người” hay “nguồn nhân lực” là khái niệm được hình thành trong quá trình nghiên cứu, xem xét con người với tư cách là một nguồn lực, là động lực của sự phát triển. Các công trình nghiên cứu trên thế giới và trong nước gần đây đề cập đến khái niệm nguồn nhân lực với các góc độ khác nhau.
Theo định nghĩa của Liên Hợp Quốc: “ Nguồn nhân lực là trình độ lành nghề, là kiến thức và năng lực của toàn bộ cuộc sống con người hiện có thực tế hoặc tiềm năng để phát triển KT - XH trong một cộng đồng”. Việc quản lý và sử dụng nguồn lực con người khó khăn phức tạp hơn nhiều so với các nguồn lực khác bởi con người là một thực thể sinh vật - xã hội, rất nhạy cảm với những tác động qua lại của mọi mối quan hệ tự nhiên, kinh tế, xã hội diễn ra trong môi trường sống của họ. Ngân hàng Thế giới cho rằng: Nguồn nhân lực là toàn bộ “vốn người” (thể lực, trí lực, kỹ năng nghề nghiệp.) mà mỗi cá nhân sở hữu. Nguồn lực con người được coi như là một nguồn vốn bên cạnh Luan van 12 các cạnh các nguồn vốn khác như tài chính, công nghệ, tài nguyên thiên nhiên.
Nghiên cứu các khái niệm trên cho thấy, NNL không chỉ đơn thuần là lực lượng lao động đã có và sẽ có, mà còn bao gồm sức mạnh của thể chất, trí tuệ, tinh thần của các cá nhân trong một cộng đồng, một quốc gia được đem ra hoặc có khả năng đem ra sử dụng vào quá trình phát triển xã hội. Khái niệm “nguồn nhân lực” (Human Resoures) được hiểu như khái niệm “nguồn lực con người”. Khi được sử dụng như một khái niệm công cụ để điều hành, thực thi chiến lược phát triển KT - XH, nguồn nhân lực bao gồm bộ phận dân số trong độ tuổi lao động, có khả năng lao động và những người ngoài độ tuổi lao động có tham gia lao động - hay còn được gọi là nguồn lao động. Bộ phận của nguồn lao động gồm toàn bộ những người từ độ tuổi lao động trở lên có khả năng và nhu cầu lao động được gọi là lực lượng lao động.
Theo quy định của Tổng cục Thống kê thì nguồn nhân lực - dùng trong thống kê thị trường lao động gồm những người đủ 15 tuổi trở lên có việc làm (lao động đang làm việc) và những người trong độ tuổi lao động có khả năng lao động nhưng đang ở trong các tình trạng sau đây: - Đang thất nghiệp; - Đang đi học; - Đang làm nội trợ trong gia đình mình; - Không có nhu cầu làm việc; - Những người thuộc tình trạng khác chưa tham gia lao động. Như vậy, xem xét dưới các góc độ khác nhau có thể có những khái niệm khác nhau về nguồn nhân lực nhưng những khái niệm này đều thống nhất nội dung cơ bản: Nguồn nhân lực là nguồn cung cấp sức lao động cho xã hội, con người với tư cách là yếu tố cấu thành lực lượng sản xuất, giữ vị trí hàng đầu, là nguồn lực cơ bản và nguồn lực vô tận của sự phát triển thì không thể Luan van 13 chỉ được xem xét đơn thuần ở góc độ số lượng hay chất lượng mà là sự tổng hợp của cả số lượng và chất lượng; không chỉ là bộ phận dân số trong độ tuổi lao động mà là các thế hệ con người với những tiềm năng, sức mạnh trong cải tạo tự nhiên, cải tạo xã hội. Vì vậy, có thể nói rằng nguồn nhân lực là tổng thể số lượng và chất lượng con người với tổng hoà các tiêu chí về trí lực, thể lực và những phẩm chất đạo đức - tinh thần tạo nên năng lực mà bản thân con người và xã hội đã, đang và sẽ huy động vào quá trình lao động sáng tạo vì sự phát triển và tiến bộ xã hội. Đào tạo nguồn nhân lực Đào tạo là quá trình học hỏi nhằm nâng cao kiến thức kỹ năng, thái độ và hành vi làm việc của con người.
Thông qua đào tạo sẽ làm thay đổi những hiểu biết, cách thức làm việc và thái độ của con người đối với công việc; đào tạo là định hướng vào hiện tại, chú trọng vào công việc hiện thời của cá nhân, giúp họ có ngay các kỹ năng và khả năng cần thiết để thực hiện tốt các công việc hiện tại. Đào tạo thường đề cập đến việc dạy các kỹ năng thực hành, nghề nghiệp hay kiến thức liên quan đến một lĩnh vực cụ thể, để người học lĩnh hội và nắm vững những tri thức, kỹ năng, nghề nghiệp một cách có hệ thống để chuẩn bị cho người đó thích nghi với cuộc sống và khả năng đảm nhận được một công việc nhất định. Khái niệm đào tạo thường có nghĩa hẹp hơn khái niệm giáo dục, thường đào tạo đề cập đến giai đoạn sau, khi một người đã đạt đến một độ tuổi nhất định, có một trình độ nhất định. Có nhiều dạng đào tạo: đào tạo cơ bản và đào tạo chuyên sâu, đào tạo chuyên môn và đào tạo nghề, đào tạo lại, đào tạo từ xa, tự đào tạo.
Trong quá trình đào tạo, mỗi người sẽ được bù đắp những thiếu hụt trong học vấn, được cập nhật hóa kiến thức và mở rộng tầm hiểu biết để Luan van 14 không những hoàn thành tốt những công việc được giao mà còn có thể đương đầu với những biến đổi của môi trường xung quanh có ảnh hưởng tích cực tới việc làm của người lao động. Đào tạo nguồn nhân lực là một loại hoạt động có tổ chức, được thực hiện trong một thời gian nhất định và nhằm đem đến sự thay đổi nhân cách và nâng cao năng lực của con người. Là quá trình học tập nhằm mở ra cho cá nhân một công việc mới dựa trên những định hướng tương lai của tổ chức. Theo quan niệm này, khi nối đến đào tạo nguồn nhân lực là nói đến việc trang bị cho người lao động: kiến thức phổ thông, kiến thức chuyên nghiệp, kiến thức quản lý.
Đào tạo nguồn nhân lực là cần thiết cho sự thành công của tổ chức và sự phát triển chức năng của con người. Việc đào tạo nguồn nhân lực không chỉ được thực hiện bên trong một tổ chức, mà còn bao gồm một loạt những hoạt động khác được thực hiện từ bên ngoài như: học việc, học nghề và hành nghề. Kết quả của quá trình đào tạo nguồn nhân lực sẽ nâng cao chất lượng, phát triển nguồn nhân lực đó. Đào tạo nguồn nhân lực là quá trình làm biến đổi về số lượng, chất lượng và cơ cấu nguồn nhân lực ngày càng đáp ứng tốt hơn yêu cầu phát triển KT - XH.
Quá trình đó bao gồm phát triển thể lực, trí lực, khả năng nhận thức và tiếp thu kiến thức, chuyên môn; nền văn hóa truyền thống lịch sử dân tộc, ý chí của con người trong lao động (quá trình nâng cao thể lực, trí lực và nhân cách). Đặc điểm đào tạo nguồn nhân lực ngành chế biến thủy sản Do tính chất đặc thù của ngành chế biến thủy sản nên lao động trong ngành chế biến thủy sản có đặc điểm khác biệt so với những ngành kinh tế khác. Trước hết lao động trong các nhà máy chế biến thủy sản lao động nữ Luan van 15 chiếm hơn 85% trong tổng số công nhân, phần lớn là lao động phổ thông, chưa được đào tạo qua trường lớp chủ yếu là học việc tại nhà máy qua truyền nghề chỉ việc. Lao động ngành chế biến thủy sản phải thường xuyên làm việc trong khu vực đông lạnh luôn sử dụng các hóa chất sát trùng, nhiệt độ chêch lệch giữa môi trường sản xuất với nhiệt độ cơ thể rất lớn và thường xuyên tiếp xúc với nước nên ảnh hưởng rất lớn đến sức khỏe người lao động nếu không được chủ doanh nghiệp thực nghiêm các qui trình sản xuất và bảo hộ lao động.
Lao động trong ngành chế biến thủy sản có tính mùa vụ cao vì thế trong những tháng vào mùa vụ các doanh nghiệp buộc người lao động phải tăng ca liên tục để đảm bảo yêu cầu chất lượng sản phẩm, làm xong mùa vụ thì công nhân không còn tha thiết ở lại công ty do tình trạng thiếu nguyên liệu, sản xuất cầm chừng ảnh hưởng đến thu nhập người lao động. Vì vậy, có thể nói nguồn nhân lực ngành chế biến thủy sản biến động rất cao, công nhân sẳn sàng nhảy việc, tìm việc khác khi điều kiện làm việc tốt hơn và thu nhập cao hơn. Lao động ngành chế biến thủy sản liên quan trực tiếp đến vệ sinh an toàn thực phẩm, sức khỏe người tiêu dùng và ô nhiểm môi trường gắn liền với phát triển bền vững môi trường sống và môi trường sinh thái. Vì vậy khi đào tạo nguồn nhân lực ngành CBTS cần căn cứ vào đặc điểm riêng của ngành.
Ngoài đào tạo theo tiêu chí số lượng đáp ứng nhu cầu phát triển của ngành cần chú ý trang bị kiến thức cơ bản cho người lao động về an toàn lao động để bảo vệ sức khỏe cho chính mình và kiến thức an toàn vệ sinh thực phẩm để đảm bảo sức khỏe cho người tiêu dùng. Vai trò đào tạo nguồn nhân lực trong nền kinh tế Nước ta đang tiến hành CNH, HĐH trong bối cảnh kinh tế thế giới có nhiều biến chuyển. Thế kỷ 21 được dự báo là thế kỷ của nền kinh tế tri thức với Luan van 16 sự phát triển vượt bậc về khoa học - công nghệ. Ngay trong những thập niên đầu của thế kỷ này, sự phát triển mạnh mẽ về khoa học công nghệ, sự bùng nổ về thông tin và truyền thông đang tạo ra những biến đổi to lớn về nhiều phương diện: kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, môi trường với qui mô và mức độ ảnh hưởng ngày càng sâu rộng.