Tổng quan nghiên cứu
Trong tiến trình công nghiệp hóa và hiện đại hóa, huyện Đan Phượng thuộc thành phố Hà Nội ghi nhận sự biến động mạnh mẽ về cơ cấu dân cư và việc làm. Với tổng dân số năm 2019 đạt 156.175 người, trong đó lực lượng trong độ tuổi lao động là 106.257 người (chiếm 68% dân số) và trung bình mỗi năm bổ sung thêm khoảng 3.535 người bước vào độ tuổi lao động, áp lực giải quyết việc làm tại chỗ trở nên vô cùng cấp thiết. Quá trình đô thị hóa nhanh chóng cùng việc triển khai các dự án quy mô lớn như Khu đô thị The Phoenix Garden đã thu hẹp diện tích đất nông nghiệp, khiến hàng nghìn lao động nông thôn rơi vào tình trạng thiếu việc làm hoặc buộc phải chuyển đổi nghề nghiệp.
Nhằm giải quyết vấn đề an sinh xã hội và tận dụng lợi thế truyền thống, Huyện ủy và Hội đồng nhân dân huyện Đan Phượng đã ban hành Nghị quyết số 34-NQ/HU và Nghị quyết số 75/NQ-HĐND nhằm đẩy mạnh đào tạo nghề gắn với giải quyết việc làm. Mục tiêu trọng tâm của nghiên cứu là đánh giá toàn diện thực trạng công tác đào tạo nghề và giải quyết việc làm cho lao động nông thôn giai đoạn 2016 - 2019, tập trung vào trường hợp điển hình tại hai xã làng nghề mộc Liên Hà và Liên Trung – nơi có hơn 40% lực lượng lao động nông thôn tham gia sản xuất đồ gỗ mỹ nghệ và gia dụng cao cấp.
Nghiên cứu làm rõ những thành tựu đạt được cũng như các nút thắt cố hữu trong quản lý nhà nước về dạy nghề. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của công trình thể hiện qua việc cung cấp hệ thống giải pháp nâng cao chất lượng nguồn nhân lực làng nghề, góp phần duy trì tốc độ tăng trưởng kinh tế địa phương đạt 19,68% trong giai đoạn 2016 - 2019, nâng thu nhập bình quân đầu người từ mức 53,8 triệu đồng/năm (2018) lên các mục tiêu cao hơn, đồng thời hiện thực hóa Đề án xây dựng huyện Đan Phượng thành quận vào năm 2025 theo Quyết định số 5848/QĐ-UBND của Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Khung lý thuyết áp dụng
Nghiên cứu vận dụng đồng bộ ba lý thuyết nền tảng trong khoa học quản lý: Lý thuyết phân công lao động xã hội, Lý thuyết phát triển nguồn nhân lực nông thôn và Lý thuyết chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp - nông thôn trong thời kỳ công nghiệp hóa. Các lý thuyết này khẳng định rằng nâng cao chất lượng lao động thông qua đào tạo là động lực then chốt để chuyển dịch sinh kế từ khu vực nông nghiệp năng suất thấp sang khu vực tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ có giá trị gia tăng cao.
Hệ thống khái niệm chính được chuẩn hóa theo quy chuẩn pháp lý và học thuật:
- Nghề và Đào tạo nghề: Căn cứ theo Luật Giáo dục nghề nghiệp năm 2014 và Luật Dạy nghề năm 2006, đào tạo nghề được xác định là quá trình trang bị có hệ thống về kiến thức, kỹ năng và thái độ nghề nghiệp nhằm giúp người học có khả năng tìm kiếm việc làm hoặc tự tạo việc làm với năng suất cao.
- Việc làm và Giải quyết việc làm: Theo Điều 9 Bộ luật Lao động Việt Nam và khuyến nghị của Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO), việc làm là mọi hoạt động lao động hợp pháp tạo ra thu nhập. Giải quyết việc làm là tổng thể các chính sách kinh tế - xã hội của Nhà nước và chính quyền địa phương nhằm kết nối cung - cầu lao động, giảm thiểu thất nghiệp và tạo điều kiện làm việc ổn định.
- Làng nghề và Lao động nông thôn: Khái niệm làng nghề được tiếp cận theo Nghị định số 52/2018/NĐ-CP của Chính phủ, quy định các tiêu chí cốt lõi gồm: tối thiểu 20% tổng số hộ trên địa bàn tham gia hoạt động ngành nghề nông thôn, thời gian hoạt động sản xuất kinh doanh ổn định từ 02 năm trở lên và bảo đảm các điều kiện bảo vệ môi trường.
Mô hình nghiên cứu phân tích mối quan hệ hữu cơ hai chiều: Đào tạo nghề đóng vai trò cung ứng đầu vào chất lượng cao, còn nhu cầu giải quyết việc làm tại các cơ sở sản xuất làng nghề đóng vai trò điều tiết quy mô, cơ cấu ngành nghề và phương thức đào tạo.
Phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu sử dụng nguồn dữ liệu thứ cấp được tổng hợp từ Niên giám thống kê huyện Đan Phượng giai đoạn 2016 - 2019, báo cáo tổng kết của Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện Đan Phượng, các văn kiện của Huyện ủy, Ủy ban nhân dân huyện và báo cáo kinh tế - xã hội của Ủy ban nhân dân hai xã Liên Hà, Liên Trung.
Dữ liệu sơ cấp được thu thập thông qua khảo sát thực địa với tổng cỡ mẫu là 65 đối tượng được lựa chọn theo phương pháp chọn mẫu phân tầng kết hợp chọn mẫu có chủ đích. Cấu trúc mẫu khảo sát bao gồm:
- 01 chuyên viên phụ trách đào tạo nghề thuộc Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện Đan Phượng;
- 02 cán bộ phụ trách công tác lao động - thương binh và xã hội tại xã Liên Hà và xã Liên Trung;
- 03 giáo viên trực tiếp tham gia giảng dạy tại các cơ sở đào tạo nghề;
- 02 đại diện Ban quản lý cụm công nghiệp và điểm tiểu thủ công nghiệp làng nghề;
- 07 chủ doanh nghiệp, cơ sở sản xuất đồ gỗ quy mô vừa và lớn;
- 50 lao động nông thôn đại diện cho hơn 7.000 thợ thủ công và người học nghề tại hai xã Liên Hà và Liên Trung.
Lý do lựa chọn phương pháp phân tích kết hợp giữa phương pháp thống kê mô tả, phương pháp so sánh chuỗi thời gian (2016 - 2019) và phương pháp phỏng vấn sâu là nhằm đối chiếu chính xác giữa số liệu báo cáo hành chính với thực tế kỹ năng của người lao động tại các xưởng sản xuất. Việc kết hợp này giúp bóc tách nguyên nhân sâu xa của những bất cập trong công tác đào tạo nghề mà các chỉ số định lượng đơn thuần không phản ánh hết.
Kết quả nghiên cứu và thảo luận
Những phát hiện chính
Quá trình phân tích dữ liệu thực tế tại huyện Đan Phượng và hai xã Liên Hà, Liên Trung giai đoạn 2016 - 2019 chỉ ra 4 phát hiện cốt lõi:
Thứ nhất, cơ cấu kinh tế huyện Đan Phượng chuyển dịch nhanh và đúng hướng công nghiệp hóa. Tỷ trọng ngành công nghiệp - xây dựng tăng đều đặn từ 62,6% năm 2016 lên 65,1% năm 2019; ngành thương mại - dịch vụ tăng từ 26,5% lên 29,7%; trong khi khu vực nông nghiệp - thủy sản giảm mạnh từ 10,9% xuống chỉ còn 5,2%. Đến năm 2018, tổng giá trị sản xuất toàn huyện đạt 11.636 tỷ đồng, trong đó công nghiệp - xây dựng đóng góp 5.440 tỷ đồng và thương mại - dịch vụ đóng góp 5.250 tỷ đồng.
Thứ hai, kết quả đào tạo nghề cho lao động nông thôn đạt quy mô đáng kể theo các chỉ tiêu đề ra. Toàn huyện đã đào tạo nghề cho 5.239 lao động theo Quyết định số 1956/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ trong 4 năm (2016 - 2019). Tại hai xã Liên Hà và Liên Trung, hoạt động sản xuất đồ gỗ mỹ nghệ thu hút hơn 7.000 lao động tham gia thường xuyên, chiếm tỷ lệ trên 40% tổng số lao động làng nghề toàn huyện.
Thứ ba, phương thức đào tạo nghề thực tế tồn tại sự phân hóa rõ nét. Hình thức truyền nghề tự phát, kèm cặp "cầm tay chỉ việc" trực tiếp tại hộ gia đình và xưởng mộc chiếm trên 80% tổng số lao động tham gia học nghề. Ngược lại, các khóa đào tạo nghề chính quy theo lớp tập trung do Trung tâm Giáo dục nghề nghiệp huyện tổ chức chỉ chiếm tỷ trọng khiêm tốn và chủ yếu dừng lại ở trình độ sơ cấp ngắn hạn.
Thứ tư, hạ tầng làng nghề phát triển vượt bậc nhưng thiếu tính liên kết bền vững. Huyện đã hình thành 03 cụm công nghiệp tập trung và 07 điểm công nghiệp làng nghề với tổng diện tích 69,79 ha, đạt tỷ lệ lấp đầy trên 90%. Toàn địa bàn có 1.703 doanh nghiệp và 2.978 hộ sản xuất kinh doanh cá thể. Tuy nhiên, sự gắn kết giữa 1.703 doanh nghiệp này với chính quyền và cơ sở đào tạo công lập trong việc đặt hàng đào tạo còn rất rời rạc.
Thảo luận kết quả
Khi mô tả sự chuyển biến kinh tế qua biểu đồ cơ cấu ngành và bảng tổng hợp chỉ tiêu đào tạo - việc làm, dữ liệu phản ánh rõ nét sự tăng trưởng vượt bậc về lượng nhưng còn hạn chế về chất. Sự gia tăng tỷ trọng công nghiệp từ 62,6% lên 65,1% là minh chứng cho sức sống mãnh liệt của các làng nghề truyền thống.
Nguyên nhân dẫn đến những hạn chế trong công tác đào tạo nghề xuất phát từ cả hai phía:
- Về phía quản lý nhà nước: Công tác khảo sát nhu cầu học nghề tại các thôn, xóm còn mang tính hình thức, số liệu điều tra thiếu độ chính xác thực tế dẫn đến việc lập kế hoạch mở lớp chưa sát với yêu cầu của thị trường lao động. Trang thiết bị thực hành tại các cơ sở dạy nghề công lập chậm được đổi mới, chưa bắt kịp công nghệ máy móc tự động hóa như máy chạm khắc CNC đang được các doanh nghiệp gỗ Liên Hà và Liên Trung sử dụng phổ biến.
- Về phía người lao động và doanh nghiệp: Người dân vẫn giữ tâm lý chuộng học nghề nhanh tại các xưởng tư nhân để có thu nhập ngay thay vì tham gia các khóa đào tạo bài bản có cấp chứng chỉ. Các chủ cơ sở sản xuất chưa nhận thức đầy đủ quyền lợi từ các chính sách hỗ trợ kinh phí đào tạo của Nhà nước nên thiếu chủ động hợp tác.
So sánh với nghiên cứu về đào tạo nghề vùng Đồng bằng sông Hồng của các tác giả cùng thời kỳ, luận văn khẳng định tính đặc thù nổi bật của Đan Phượng: Áp lực mất đất nông nghiệp do đô thị hóa được bù đắp hiệu quả nhờ nội lực của cụm làng nghề đồ gỗ mỹ nghệ Liên Hà - Liên Trung. Tuy nhiên, nếu thiếu sự gắn kết ba bên giữa Nhà nước, Cơ sở đào tạo và Doanh nghiệp, nguồn ngân sách hỗ trợ dạy nghề theo Quyết định 1956/QĐ-TTg sẽ không phát huy được tối đa hiệu quả kinh tế - xã hội.
Đề xuất và khuyến nghị
Dựa trên kết quả nghiên cứu thực chứng, luận văn đưa ra 4 nhóm giải pháp trọng tâm nhằm nâng cao chất lượng đào tạo nghề và giải quyết việc làm tại các làng nghề huyện Đan Phượng đến năm 2025:
Thứ nhất, chuẩn hóa quy trình điều tra và dự báo nhu cầu đào tạo nghề. Ủy ban nhân dân huyện Đan Phượng chỉ đạo Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội chủ trì phối hợp với Ủy ban nhân dân xã Liên Hà và Liên Trung tiến hành khảo sát định kỳ 100% nhu cầu học nghề của người dân và đơn đặt hàng nhân lực từ 1.703 doanh nghiệp, hộ kinh doanh. Mục tiêu đặt ra là hoàn thiện hệ thống cơ sở dữ liệu việc làm làng nghề trước năm 2022, đảm bảo 100% kế hoạch mở lớp dạy nghề hàng năm phải căn cứ trên hợp đồng tuyển dụng hoặc cam kết tự tạo việc làm của người học.
Thứ hai, đổi mới nội dung chương trình giảng dạy và nâng cấp trang thiết bị thực hành. Trung tâm Giáo dục nghề nghiệp - Giáo dục thường xuyên huyện Đan Phượng chủ động mời các nghệ nhân, thợ giỏi tại làng nghề mộc Liên Hà, Liên Trung tham gia biên soạn giáo trình và trực tiếp giảng dạy. Cơ cấu chương trình cần nâng tỷ lệ thời lượng thực hành lên 75 - 80%, tăng cường đào tạo ứng dụng phần mềm thiết kế 3D và vận hành máy chế biến gỗ tự động CNC trong giai đoạn 2021 - 2025.
Thứ ba, thiết lập cơ chế liên kết ba nhà: Nhà nước - Cơ sở đào tạo - Doanh nghiệp làng nghề. Ủy ban nhân dân huyện Đan Phượng ban hành quy chế khuyến khích doanh nghiệp tham gia dạy nghề; ưu tiên hỗ trợ mặt bằng sản xuất tại 7 điểm công nghiệp làng nghề (diện tích 69,79 ha) và giảm thuế cho các doanh nghiệp tiếp nhận thực tập sinh, cam kết giải quyết việc làm ổn định cho tối thiểu 85% học viên sau khi kết thúc khóa học.
Thứ tư, hoàn thiện hạ tầng dịch vụ việc làm và mở rộng các kênh vốn vay ưu đãi. Phòng giao dịch Ngân hàng Chính sách Xã hội huyện Đan Phượng phối hợp với các tổ chức đoàn thể nâng hạn mức cho vay vốn tạo việc làm lên 100 triệu đồng/lao động đối với các hộ sản xuất đồ gỗ mỹ nghệ. Đồng thời, Trung tâm Dịch vụ việc làm định kỳ tổ chức các phiên giao dịch việc làm lưu động tại xã Liên Hà và Liên Trung, phấn đấu mỗi năm giải quyết việc làm mới cho hơn 3.500 lao động trong toàn huyện.
Đối tượng nên tham khảo luận văn
Công trình nghiên cứu mang lại giá trị tham khảo thực tiễn và học thuật cho 4 nhóm đối tượng cụ thể:
Nhóm thứ nhất là các nhà hoạch định chính sách và cán bộ quản lý nhà nước tại Sở Lao động - Thương binh và Xã hội, Ủy ban nhân dân các huyện, thị xã đang trong quá trình đô thị hóa. Luận văn cung cấp khung quy trình 5 bước tổ chức đào tạo nghề và bài học kinh nghiệm về chuyển đổi sinh kế cho lao động bị thu hồi đất tại các địa bàn ven đô.
Nhóm thứ hai là Ban giám hiệu, giảng viên tại các Trung tâm Giáo dục nghề nghiệp - Giáo dục thường xuyên và các trường trung cấp nghề. Cán bộ quản lý giáo dục có thể tham khảo phương pháp thiết kế chương trình đào tạo kết hợp giữa lý thuyết đồ họa với kỹ năng mộc truyền thống, bám sát nhu cầu sử dụng thực tế của thị trường.
Nhóm thứ ba là các chủ cơ sở sản xuất, chủ doanh nghiệp vừa và nhỏ, hợp tác xã tại các làng nghề truyền thống. Nhóm này có thể ứng dụng mô hình liên kết đào tạo kèm cặp tại xưởng, phương thức quản trị nhân lực và cách tiếp cận các chính sách hỗ trợ tài chính, công nghệ từ Nhà nước để tối ưu hóa chi phí sản xuất.
Nhóm thứ tư là học viên cao học, nghiên cứu sinh và sinh viên thuộc các chuyên ngành Khoa học quản lý, Quản lý công, Kinh tế phát triển và Xã hội học. Luận văn là nguồn tư liệu chuẩn mực về phương pháp nghiên cứu trường hợp (case study), cung cấp hệ thống dữ liệu thống kê chi tiết và khung phân tích chính sách an sinh xã hội tại làng nghề.
Câu hỏi thường gặp
Đề tài luận văn giải quyết vấn đề cốt lõi nào tại huyện Đan Phượng?
Luận văn giải quyết bài toán chuyển dịch việc làm và nâng cao tay nghề cho lao động nông thôn trong bối cảnh diện tích đất nông nghiệp bị thu hẹp do đô thị hóa. Nghiên cứu tập trung tháo gỡ điểm nghẽn giữa công tác đào tạo nghề của Nhà nước với nhu cầu sử dụng lao động thực tế tại hai làng nghề mộc truyền thống xã Liên Hà và xã Liên Trung.
Hiệu quả đào tạo nghề cho lao động nông thôn huyện Đan Phượng giai đoạn 2016 - 2019 đạt kết quả ra sao?
Giai đoạn 2016 - 2019, huyện đã đào tạo nghề cho 5.239 lao động theo Quyết định số 1956/QĐ-TTg, nâng tỷ lệ lao động qua đào tạo tăng đều qua các năm. Kết quả này đóng góp trực tiếp đưa thu nhập bình quân đạt 53,8 triệu đồng/người/năm (2018) và chuyển dịch tỷ trọng ngành công nghiệp - xây dựng lên mức 65,1% vào năm 2019.
Đâu là hạn chế lớn nhất trong công tác dạy nghề tại các làng nghề xã Liên Hà và Liên Trung?
Hạn chế lớn nhất là sự mất cân đối giữa đào tạo chính quy và nhu cầu thực tế. Trên 80% người lao động vẫn học nghề qua hình thức truyền nghề tự phát, kèm cặp tại xưởng gia đình. Trang thiết bị tại các cơ sở dạy nghề công lập chưa đáp ứng được yêu cầu ứng dụng máy móc tự động hóa của hơn 1.703 doanh nghiệp trên địa bàn.
Luận văn đề xuất mô hình đào tạo nghề nào phù hợp nhất với đặc thù làng nghề mộc?
Luận văn đề xuất mô hình liên kết "Nhà nước hỗ trợ kinh phí, chính sách - Doanh nghiệp và nghệ nhân trực tiếp đào tạo tại xưởng". Mô hình này vừa tận dụng hệ thống máy móc hiện đại của 7 điểm công nghiệp làng nghề (69,79 ha), vừa bảo đảm trên 85% học viên có việc làm ổn định ngay sau khi hoàn thành khóa học.
Kết quả nghiên cứu có thể ứng dụng cho các địa phương khác ngoài huyện Đan Phượng không?
Hoàn toàn có thể ứng dụng. Khung giải pháp và mô hình điều tra cung - cầu lao động của luận văn có thể chuyển giao hiệu quả cho các huyện có làng nghề phát triển nhanh tại Hà Nội như Thạch Thất, Hoài Đức, Chương Mỹ hoặc các địa phương đang đối mặt với áp lực chuyển đổi sinh kế vùng ven đô.
Kết luận
- Luận văn khẳng định vai trò quyết định của công tác đào tạo nghề trong việc thúc đẩy cơ cấu kinh tế huyện Đan Phượng chuyển dịch mạnh mẽ, đưa tỷ trọng công nghiệp - xây dựng đạt 65,1% và thương mại - dịch vụ đạt 29,7% vào năm 2019.
- Nghiên cứu đã đánh giá toàn diện kết quả đào tạo 5.239 lao động theo Quyết định số 1956/QĐ-TTg và phân tích sâu sắc bức tranh việc làm của hơn 7.000 thợ mộc tại hai xã trọng điểm Liên Hà và Liên Trung.
- Chỉ rõ 4 nhóm nguyên nhân gây nghẽn dòng liên kết giữa cơ sở đào tạo nghề công lập với 1.703 doanh nghiệp và hơn 2.978 hộ sản xuất kinh doanh tại địa phương.
- Đóng góp hệ thống 4 giải pháp quản lý đồng bộ về khảo sát nhu cầu, đổi mới giáo trình tăng 75 - 80% thời lượng thực hành, gắn kết ba nhà và mở rộng nguồn vốn vay ưu đãi 100 triệu đồng/lao động.
- Xác định lộ trình triển khai cụ thể đến năm 2025, gắn kết trực tiếp với mục tiêu xây dựng huyện Đan Phượng thành quận văn minh, hiện đại theo Quyết định số 5848/QĐ-UBND của Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội.
Đóng góp lớn nhất của luận văn là cung cấp cơ sở khoa học và thực tiễn vững chắc cho các cơ quan quản lý nhà nước trong việc hoạch định chính sách việc làm nông thôn. Kế hoạch tiếp theo đòi hỏi chính quyền địa phương sớm triển khai thí điểm mô hình đặt hàng đào tạo nghề từ năm 2021 và số hóa cơ sở dữ liệu thị trường lao động trước năm 2023. Các nhà quản lý, nhà nghiên cứu và chủ cơ sở sản xuất hãy tham khảo và ứng dụng ngay các giải pháp của luận văn để nâng tầm giá trị nguồn nhân lực làng nghề truyền thống.