Luận văn thạc sĩ quản trị nhân lực đào tạo nghề Ba Vì Hà Nội

Luận văn thạc sĩ quản trị nhân lực nghiên cứu thực trạng và giải pháp nâng cao chất lượng đào tạo nghề cho lao động nông thôn tại huyện Ba Vì Hà Nội

Trường đại học

Đại học Quốc gia Hà Nội

Chuyên ngành

Quản trị kinh doanh

Tác giả

Nguyễn Thị Lan

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2018

93
0
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Cách nâng cao chất lượng đào tạo nghề lao động nông thôn Ba Vì Hà Nội

Đào tạo nghề lao động nông thôn Ba Vì Hà Nội đóng vai trò then chốt trong chuyển dịch cơ cấu kinh tế địa phương. Với hơn 90% dân số sống ở khu vực nông thôn và lực lượng lao động trong độ tuổi lên tới 180.923 người, nhu cầu đào tạo nghề là cấp thiết. Tuy nhiên, chất lượng đào tạo nghề vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu thực tiễn do nhiều hạn chế về đội ngũ giảng viên, cơ sở vật chất và chương trình đào tạo. Để nâng cao hiệu quả, cần đồng bộ hóa chính sách, đầu tư cơ sở hạ tầng dạy nghề và cập nhật chương trình sát với nhu cầu thị trường lao động. Theo Đề án “Đào tạo nghề cho lao động nông thôn đến năm 2020” (Quyết định 1956/QĐ-TTg), việc nâng cao chất lượng đào tạo nghề không chỉ giúp người lao động có việc làm mà còn thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội bền vững. Tại Ba Vì, việc này càng quan trọng khi địa phương đang chuyển dịch mạnh từ nông nghiệp sang dịch vụ và du lịch – hai lĩnh vực đòi hỏi kỹ năng nghề chuyên biệt.

1.1. Hiện trạng đào tạo nghề cho lao động nông thôn tại Ba Vì

Theo Báo cáo kinh tế - xã hội năm 2017 của UBND huyện Ba Vì, hơn 90% dân số sống ở nông thôn, trong khi cơ sở dạy nghề còn hạn chế về quy mô và chất lượng. Trung tâm dạy nghề Ba Vì虽 được đầu tư nhưng vẫn thiếu trang thiết bị hiện đại và giảng viên chuyên môn cao. Nhiều lớp học vẫn theo phương pháp truyền thống, chưa gắn với nhu cầu thực tế của ngành du lịch sinh thái, chăn nuôi bò sữa hay trồng chè chất lượng cao – những thế mạnh kinh tế của địa phương.

1.2. Vai trò của chính sách hỗ trợ đào tạo nghề

Các chính sách như Quyết định 1956/QĐ-TTg và Quyết định 46 của Thủ tướng Chính phủ đã tạo điều kiện cho lao động nông thôn tiếp cận đào tạo nghề miễn phí hoặc có trợ cấp. Tại Ba Vì, Phòng Lao động – TBXH huyện đã triển khai nhiều lớp học nghề ngắn hạn, tuy nhiên tỷ lệ lao động sau đào tạo có việc làm ổn định vẫn chưa cao do thiếu liên kết giữa cơ sở đào tạo và doanh nghiệp. Việc hoàn thiện cơ chế phối hợp giữa nhà nước, doanh nghiệp và người học là chìa khóa để nâng cao hiệu quả đào tạo nghề lao động nông thôn.

II. Thách thức lớn trong đào tạo nghề lao động nông thôn Ba Vì Hà Nội

Mặc dù có nhiều chính sách hỗ trợ, đào tạo nghề lao động nông thôn Ba Vì Hà Nội vẫn đối mặt với nhiều thách thức. Một trong những rào cản lớn nhất là tính thời vụ của lao động nông nghiệp, khiến người dân khó tham gia các khóa học dài hạn. Bên cạnh đó, nhận thức của người lao động về tầm quan trọng của học nghề còn hạn chế, dẫn đến tỷ lệ đăng ký học thấp hoặc bỏ dở giữa chừng. Cơ sở vật chất tại các trung tâm dạy nghề chưa đồng bộ với tư liệu sản xuất hiện đại, khiến kỹ năng học được không áp dụng được vào thực tế. Ngoài ra, đội ngũ giáo viên chủ yếu là hợp đồng khoán việc, thiếu ổn định và chuyên môn sâu. Điều này ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng đầu ra của học viên. Theo báo cáo của Trung tâm dạy nghề Ba Vì (2018), chỉ khoảng 45% học viên có việc làm phù hợp sau khi tốt nghiệp, cho thấy sự mất kết nối giữa đào tạo và thị trường lao động.

2.1. Hạn chế về nhận thức và động lực học nghề

Nhiều lao động nông thôn tại Ba Vì vẫn coi học nghề là “kế hoạch dự phòng”, ưu tiên làm nông hoặc đi làm thuê tự do. Việc thiếu thông tin về cơ hội việc làm sau đào tạo khiến họ thiếu động lực tham gia. Các chương trình truyền thông về lợi ích của học nghề chưa được triển khai sâu rộng, đặc biệt ở vùng dân tộc Mường và Giao – nơi có tỷ lệ tiếp cận thông tin thấp hơn.

2.2. Cơ sở vật chất và đội ngũ giảng viên chưa đáp ứng

Cơ sở thực hành tại Trung tâm dạy nghề Ba Vì tuy được đầu tư nhưng chưa theo kịp công nghệ sản xuất hiện đại trong lĩnh vực du lịch, chăn nuôi hay chế biến nông sản. Đội ngũ giảng viên phần lớn là giáo viên hợp đồng, thiếu kinh nghiệm thực tiễn và khả năng cập nhật xu hướng nghề nghiệp mới. Điều này làm giảm tính ứng dụng của chương trình đào tạo và ảnh hưởng đến khả năng cạnh tranh của lao động nông thôn trên thị trường lao động.

III. Phương pháp đổi mới đào tạo nghề cho lao động nông thôn Ba Vì

Để khắc phục những hạn chế, cần áp dụng phương pháp đào tạo nghề linh hoạt và thực tiễn. Một trong những giải pháp hiệu quả là gắn đào tạo với nhu cầu doanh nghiệp và chuỗi giá trị địa phương. Ví dụ, tại Ba Vì – nơi phát triển mạnh về du lịch sinh tháichăn nuôi bò sữa, các khóa học nên tập trung vào kỹ năng phục vụ du lịch, chế biến sữa, hoặc quản lý trang trại. Đồng thời, nên tổ chức các lớp học theo mô hình “học đi đôi với hành”, kết hợp lý thuyết với thực hành tại các cơ sở sản xuất thực tế. Ngoài ra, ứng dụng công nghệ số trong đào tạo – như học trực tuyến, mô phỏng kỹ năng – có thể giúp người lao động tiếp cận kiến thức mọi lúc, mọi nơi, phù hợp với tính thời vụ. Theo Đề án đào tạo nghề huyện Ba Vì giai đoạn 2015–2020, việc liên kết giữa trung tâm dạy nghề và doanh nghiệp là yếu tố then chốt để đảm bảo đầu ra cho học viên.

3.1. Gắn đào tạo nghề với thế mạnh kinh tế địa phương

Ba Vì có lợi thế về nông nghiệp chất lượng cao (chè, bò sữa) và du lịch sinh thái (Ao Vua, Khoang Xanh, Vườn Quốc gia Ba Vì). Các chương trình đào tạo cần được thiết kế sát với các ngành này, ví dụ: kỹ thuật chế biến sữa, hướng dẫn viên du lịch cộng đồng, kỹ năng quản lý homestay. Việc này giúp học viên nhanh chóng áp dụng kiến thức vào thực tế và tạo thu nhập ổn định ngay tại địa phương.

3.2. Ứng dụng công nghệ trong đào tạo nghề linh hoạt

Với đặc thù lao động nông thôn bận rộn theo mùa vụ, mô hình đào tạo linh hoạt như học online, học theo module, hoặc học tại chỗ (on-the-job training) là giải pháp tối ưu. Các nền tảng số có thể cung cấp video hướng dẫn, bài kiểm tra trực tuyến và hỗ trợ từ xa, giúp người học tiếp cận kiến thức mà không cần đến lớp thường xuyên. Điều này đặc biệt hữu ích cho vùng sâu, vùng xa như các xã miền núi của Ba Vì.

IV. Kết quả thực tiễn từ các mô hình đào tạo nghề tại Ba Vì

Trong giai đoạn 2015–2020, huyện Ba Vì đã triển khai nhiều mô hình đào tạo nghề hiệu quả, mang lại kết quả khả quan. Theo Báo cáo của Phòng Lao động – TBXH huyện Ba Vì (2018), các lớp dạy nghề may, điện dân dụng, chăn nuôi bò sữa và dịch vụ du lịch đã thu hút hàng nghìn lao động tham gia. Đặc biệt, mô hình “liên kết đào tạo – doanh nghiệp – tiêu thụ sản phẩm” trong lĩnh vực chăn nuôi bò sữa đã giúp hơn 60% học viên có thu nhập ổn định từ 6–10 triệu đồng/tháng. Ngoài ra, các lớp đào tạo kỹ năng du lịch cộng đồng tại xã Tản Lĩnh và Ba Trại đã góp phần nâng cao chất lượng dịch vụ tại các khu du lịch sinh thái, thu hút thêm khách nội địa và quốc tế. Tuy nhiên, tỷ lệ thành công vẫn chưa đồng đều giữa các ngành nghề, cho thấy cần đánh giá định kỳ và điều chỉnh chương trình theo phản hồi thực tế.

4.1. Mô hình đào tạo gắn với chuỗi giá trị bò sữa

Hợp tác với các doanh nghiệp như Vinamilk và Mộc Châu Milk, Trung tâm dạy nghề Ba Vì đã tổ chức các lớp đào tạo kỹ thuật chăn nuôi, vắt sữa, xử lý vệ sinh chuồng trại. Học viên sau khi tốt nghiệp được ưu tiên tuyển dụng hoặc hỗ trợ vay vốn phát triển trang trại. Mô hình này không chỉ tạo việc làm mà còn nâng cao giá trị sản phẩm nông nghiệp địa phương.

4.2. Đào tạo kỹ năng du lịch cộng đồng tại các xã miền núi

Tại các xã như Ba Trại, Minh Quang, các lớp học về kỹ năng giao tiếp, phục vụ homestay, thuyết minh du lịch đã giúp người dân tận dụng tiềm năng thiên nhiên để phát triển kinh tế. Nhiều hộ gia đình sau đào tạo đã mở dịch vụ lưu trú, tăng thu nhập gấp 2–3 lần so với làm nông truyền thống. Đây là minh chứng rõ ràng cho hiệu quả của đào tạo nghề định hướng thị trường.

V. Tương lai của đào tạo nghề lao động nông thôn Ba Vì Hà Nội

Trong bối cảnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế và hội nhập quốc tế, đào tạo nghề lao động nông thôn Ba Vì Hà Nội cần hướng tới sự chuyên nghiệp, bền vững và gắn với kinh tế số. Tương lai của đào tạo nghề không chỉ dừng ở kỹ năng tay nghề mà còn bao gồm kỹ năng mềm, ngoại ngữ cơ bản và tư duy khởi nghiệp. Các chính sách cần được điều chỉnh để hỗ trợ khởi nghiệp sau đào tạo, như quỹ vay vốn ưu đãi, cố vấn kinh doanh và kết nối thị trường. Đồng thời, cần xây dựng hệ thống đánh giá chất lượng đào tạo dựa trên tỷ lệ có việc làm và thu nhập sau đào tạo, thay vì chỉ dựa trên số lượng học viên. Với tiềm năng về du lịch và nông nghiệp sạch, Ba Vì hoàn toàn có thể trở thành điểm sáng trong đào tạo nghề nông thôn nếu có chiến lược đồng bộ và sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị, doanh nghiệp và cộng đồng.

5.1. Hướng đến đào tạo nghề gắn với kinh tế số và khởi nghiệp

Tương lai của lao động nông thôn Ba Vì không chỉ là làm thuê mà còn là khởi nghiệp từ chính thế mạnh địa phương. Các khóa đào tạo nên bổ sung kỹ năng bán hàng online, marketing số, quản lý tài chính vi mô để giúp học viên tự xây dựng thương hiệu cho sản phẩm chè, sữa, hoặc dịch vụ du lịch. Việc này sẽ thúc đẩy kinh tế nông thôn bền vững và giảm di cư lao động.

5.2. Đề xuất chính sách hỗ trợ dài hạn cho đào tạo nghề

Cần có cơ chế tài chính bền vững cho đào tạo nghề, như quỹ hỗ trợ học nghề – khởi nghiệp do nhà nước và doanh nghiệp cùng đóng góp. Đồng thời, nên xây dựng hệ thống thông tin thị trường lao động địa phương để cập nhật nhu cầu nghề theo thời gian thực, giúp định hướng đào tạo chính xác hơn. Điều này sẽ đảm bảo đào tạo nghề lao động nông thôn Ba Vì không chỉ giải quyết việc làm ngắn hạn mà còn đóng góp vào chiến lược phát triển kinh tế dài hạn của huyện.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

15/03/2026
Lv ths qtnl đào tạo nghề cho lao động nông thôn huyện ba vì thành phố hà nội

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ĐÀO TẠO NGHỀ CHO LAO ĐỘNG NÔNG THÔN 1. Một số khái niệm cơ bản 1. Lao động nông thôn Lao động nông thôn là một bộ phận dân số sinh sống và làm việc ở nông thôn trong độ tuổi lao động theo qui định của pháp luật (nam từ 16 đến 60 tuổi, nữ từ 16 đến 55 tuổi) có khả năng lao động [18, tr215] Lực lượng lao động ở nông thôn là bộ phận của nguồn lao động ở nông thôn bao gồm những người trong độ tuổi lao động có khả năng lao động, đang có việc làm và những người thất nghiệp nhưng có nhu cầu tìm việc làm. Tuy nhiên do đặc điểm, tính chất, mùa vụ của công việc ở nông thôn mà lực lượng tham gia sản xuất nông nghiệp không chỉ có những người trong độ tuổi lao động mà còn có những người trên hoặc dưới độ tuổi lao động tham gia sản xuất với những công việc phù hợp với mình.Từ khái niệm nguồn lao động ở nông thôn mà ta thấy lao động ở nông thôn rất dồi dào, nhưng đây cũng chính là thách thức trong việc giải quyết việc làm ở nông thôn.

Nghề Hiện nay, "nghề” được hiểu theo nhiều cách khác nhau: Nghề là một lĩnh vực hoạt động lao động mà trong đó, nhờ được đào tạo, con người có được những tri thức, những kỹ năng để làm ra các loại sản phẩm vật chất hay tinh thần nào đó, đáp ứng được những nhu cầu của xã hội. Theo Từ điển Tiếng Việt: “Nghề là công việc chuyên làm theo phân công lao động trong xã hội”. Với cách tiếp cận này, mỗi người trong hệ thống phân công lao động xã hội sẽ đảm nhận một hoặc một số công việc, những công việc này lặp đi lặp lại thường xuyên, từ ngày này sang ngày khác, nội dung của những công việc đó không hề thay đổi, và nó được hiểu là nghề. 8 Theo giáo trình Kinh tế nguồn nhân lực- Đại học kinh tế quốc dân PGS.TS Trần Xuân Cầu, “Nghề cũng đươc hiểu là một hình thức phân công lao động, nó dòi hỏi kiến thức lý thuyết tổng hợp và thói quen thực hành để hoàn thành những công việc nhất định”.

Như vậy để có được nghề, người lao động cần phải có kiến thức về lý thuyết của một hoặc một vài môn khoa học nào đó, những kỹ năng thực hành đến mức thành thạo. Nghề có thể hiểu là tổng hợp những kiến thức và kỹ năng lao động mà con người tiếp thu được do kết quả của đào tạo chuyên môn và tích lũy kinh nghiệm trong công việc.Mặc dù các khái niệm trên được hiểu theo các góc độ khác nhau, song chúng ta có thể thấy nghề có các đặc điểm sau: - Nghề là hoạt động, là công việc về lao động của con người được lặp đi lặp lại.Nghề được hình thành do sự phân công lao động xã hội, phù hợp với yêu cầu của xã hội và là phương tiện để sinh sống. - Nghề là lao động kỹ năng, kỹ xảo chuyên biệt có giá trị trao đổi, đòi hỏi phải có một quá trình đào tạo nhất định. Vì vậy đào tạo nghề là yêu cầu tất yếu bắt nguồn từ chính bản chất, đặc trưng của nó.

Đào tạo nghề Theo PGS.TS Trần Xuân Cầu, “Đào tạo nghề là quá trình trang bị kiến thức, kỹ năng, khả năng thuộc về một nghề, một chuyên môn nhất định để người lao động thực hiện có hiệu quả chức năng và nhiệm vụ của mình.”[5, tr 103] Nếu xét theo chủ thể tham gia quá trình đào tạo thì đào tạo nghề gồm hai quá trình không thể tách rời nhau: dạy nghề và học nghề. Trong một số văn bản hiện nay, đào tạo nghề và dạy nghề được hiểu đồng nhất với nhau. Theo Luật Giáo dục nghề nghiệp 2014 số 74/2014/QH13 được Quốc hội thông qua ngày 27/11/2014 tại kỳ họp thứ 8, Quốc hội khóa XIII: "Dạy nghề là hoạt động dạy và học nhằm trang bị kiến thức, kỹ năng và thái độ nghề nghiệp cần thiết cho người học nghề để có thể tìm được việc làm hoặc tự tạo việc làm sau khi hoàn thành khoá học. " Theo tác giả, tác giả đồng tình với khái niệm của PGS.TS Trần Xuân Cầu về khái niệm đào tạo nghề.

Vậy Đào tạo nghề là quá trình trang bị kiến thức, kỹ năng, 9 khả năng thuộc về một nghề, một chuyên môn nhất định để người lao động thực hiện có hiệu quả chức năng và nhiệm vụ của mình. Dạy nghề là tổng thể các hoạt động truyền nghề đến người học nghề. Đó là quá trình giảng viên truyền bá những kiến thức về lý thuyết và thực hành để học viên để học viên có được một trình độ, kỹ năng, sự khéo léo, thành thục nhất định về nghề nghiệp. Học nghề là quá trình tiếp thu những kiến thức về lý thuyết và thực hành của học viên để có được một nghề nghiệp nhất định Đối tượng của đào tạo nghề là lao động nói chung, đối tượng của đào tạo nghề cho lao động nông thônlà những người lao động nông thôn 1.

Đào tạo nghề cho lao động nông thôn Đối tượng của đào tạo nghề là lao động nói chung, đối tượng của đào tạo nghề cho lao động nông thônlà những người lao động nông thôn. Đào tạo nghề cho lao động nông thônlà quá trình giảng viên truyền bá những kiến thức về lý thuyết và thực hành để những người lao động nông thôn có được một trình độ, kỹ năng, kỹ xảo, sự khéo léo, thành thục nhất định về nghề nghiệp. Đào tạo nghề cho lao động nông thôncó những đặc điểm sau: Thứ nhất, do số lượng nguồn lao động nông thôn lớn nên đối tượng đào tạo nghề cho lao động nông thôncó số lượng lớn. Số lượng đối tượng đào tạo nghề cho lao động nông thônlớn còn thể hiện ở chất lượng nguồn lao động nông thôn thấp.

Thực tế hiện nay, lực lượng lao động nông thôn được đào tạo và bồi dưỡng kiến thức về nghề nghiệp chiếm tỷ lệ rất thấp, hầu hết các kiến thức, kinh nghiệm người lao động sử dụng đều thông qua sự đúc rút kinh nghiệm trong quá trình làm việc và sự truyền dạy lại của các thế hệ trước. Theo Báo cáo điều tra Lao động việc làm quý 4 năm 2014 của Tổng Cục Thống kê, lực lượng lao động nông thôn không có trình độ chuyên môn kỹ thuật là 32,689 triệu người, chiếm 89,14% trong tổng số lựclượng lao động nông thôn. Thứ hai, do tính đa dạng của đối tượng đào tạo, nên việc tổ chức các khóa đào tạo phải rất linh hoạt về chương trình đào tạo, hình thức đào tạo, phương thức đào tạo, phương pháp truyền đạt. Chương trình đào tạo phải gắn với học liệu sinh động, đa 10 dạng và thiết thực, phù hợp với trình độ, hoàn cảnh của người học để tất cả người lao động nông thôn có cơ hội được đào tạo chuyên môn kỹ thuật từ đó tìm việc làm và tạo việc làm có năng suất lao động cao hơn, nâng cao dần mức sống của người dân.

Cần đa dạng hóa và phù hợp với từng nhóm đối tượng , từng vùng miền như đào tạo tập trung tại các cơ sở, trung tâm dạy nghề đối với người lao động nông thôn chuyển đổi nghề nghiệp; đào tạo nghề lưu động cho lao động nông thônlàm nông nghiệp tại các làng, xã, thôn, bản; dạy nghề tại nơi sản xuất, tại hiện trường nơi người lao động làm việc. Thứ ba, đối tượng đào tạo nghề cho lao động nông thôncó nguồn nội lực cho đào tạo nghề rất hạn chế. Số lượng đối tượng đào tạo nghề rất lớn, tuy nhiên do đó là những người dân ở nông thôn. Đó là nơi GDP đầu người thấp, sản xuất hàng hóa ít phát triển, thị trường lao động ít phát triển, ít có khả năng tiếp cận với hệ thống giáo dục đào tạo, cơ sở hạ tầng kém phát triển, hệ thống chăm sóc sức khỏe cho người dân chưa đảm bảo, môi trường sống của dân cư nông thôn chậm cải thiện (giao thông, điện, nước sạch.), do đó điều kiện của họ cho việc học nghề rất hạn hẹp, đặc biệt là học ở bậc cao và theo các hình thức trường lớp.

Thứ tư, tính chất thời vụ của nguồn lao động nông thôn đòi hỏi việc tổ chức đào tạo nghề, tập huấn các kiến thức liên quan về trồng cây, vật nuôi cũng phải được sắp xếp phù hợp và kịp với thời vụ thì mới đạt hiệu quả cao. Việc đào tạo nâng cao nhận thức và các kiến thức khác không phụ thuộc vào thời vụ cần được tổ chức vào thời điểm nông nhàn để người dân có điều kiện tham gia đông đủ hơn. Thứ năm, trong nông thôn, bên cạnh các cơ sở đào tạo chuyên, hệ thống các tổ chức kinh tế như hộ thủ công truyền thống, các hợp tác xã dịch vụ nông nghiệp, các tổ chức xã hội như hội lao động nông thôn, hội phụ nữ, đoàn thanh niên đặc biệt là các tổ chức khuyến nông, lâm, ngư cũng đảm nhận chức năng đào tạo. Nội dung đào tạo nghề cho lao động nông thôn Đào tạo nghề cho lao động nông thônlà cả một quá trình liên tục bao gồm các hoạt động được tiến hành một cách bài bản, có thể liệt kê qua 8 công việc sau (Sơ đồ 1.1); Trong đó bắt đầu từ khâu: Xác định nhu cầu đào tạo, xác định mục tiêu; lựa chọn đối tượng, Xây dựng nội dung, chương trình đào tạo; Lựa chọn hình thức đào tạo; 11 Chuẩn bị cơ sở vật chất, tài chính và giáo viên; triển khai chương trình đào tạo cho đến việc đánh giá kết quả đào tạo, rút kinh nghiệm cho lần đào tạo sau này [11, tr.

Xác định nhu cầu đào tạo Lao động nông thôn hiện nay có nhu cầu học nghề ở các cơ sở, trung tâm dạy nghề ngày càng gia tăng; mục đích của việc học nghề của họ là sau khi kết thúc khóa đào tạo nghề họ sẽ có trong tay một nghề với trình độ tay nghề, chuyên môn vững vàng để có thể tự lập nghiệp và tìm kiếm cơ hội việc làm ở thị trường lao động.1: Tiến trình đào tạo nguồn nhân lực Xác định nhu cầu đào tạo nghề của mỗi địa phương, cần xác định nhu cầu của các bên liên quan: Từ phía người lao động hay người có nhu cầu học nghề: khi tiến hành đào tạo nghề cần xem xét tời đối tượng của hoạt động đào tạo nghề - những người học nghề với nhu cầu thực sự của họ và các điều kiện của chính họ để có thể tham gia vào quá trình đào tạo nghề, xác định khoảng trống giữa kiến thức, kỹ năng cần có khi tham gia lao động và những kiến thức, kỹ năng mà người học hiện có.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ