Tổng quan nghiên cứu

Lực lượng lao động nông thôn Việt Nam hiện có khoảng 32,7 triệu người, chiếm 76% lực lượng lao động của cả nước. Đây là nguồn lực to lớn đóng vai trò then chốt trong tiến trình công nghiệp hóa và hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn. Tuy nhiên, trước làn sóng đô thị hóa nhanh chóng và diện tích đất canh tác bị thu hẹp, chất lượng nguồn nhân lực nông thôn vẫn bộc lộ nhiều điểm nghẽn nghiêm trọng. Tại tỉnh Thái Bình, một địa bàn thuần nông thuộc vùng Đồng bằng sông Hồng với diện tích 1.542 km2, tỷ lệ lao động qua đào tạo nghề đến năm 2013 mới đạt 36,5%. Thực trạng này dẫn đến năng suất lao động thấp, nguy cơ thiếu việc làm thường trực và áp lực di cư tự do ra các đô thị lớn.

Vấn đề nghiên cứu trọng tâm của luận văn tập trung vào việc phân tích thực trạng công tác dạy nghề và giải quyết việc làm cho người lao động nông thôn tại tỉnh Thái Bình. Mục tiêu cụ thể là đánh giá toàn diện các cơ chế, chính sách hỗ trợ học nghề, chỉ rõ những mặt tích cực cùng những bất cập tồn tại trong giai đoạn 2010 - 2013, từ đó đề xuất hệ thống giải pháp quản lý đồng bộ nhằm nâng cao chất lượng nguồn nhân lực và mở rộng cơ hội việc làm bền vững.

Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của công trình thể hiện ở việc cung cấp luận cứ quản lý thực chứng giúp nâng tỷ lệ lao động có việc làm sau học nghề lên mức trên 80%, giải quyết bài toán thiếu hụt thợ kỹ thuật lành nghề và thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế địa phương theo phương châm ly nông bất ly hương.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Luận văn vận dụng lý thuyết phát triển nguồn nhân lực trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, kết hợp với lý thuyết phân công lao động xã hội và lý thuyết thị trường lao động định hướng cầu. Dưới góc độ quản lý kinh tế - xã hội, ba trụ cột giáo dục, đào tạo kỹ năng và phát triển năng lực tạo thành thể thống nhất nhằm nâng cao năng suất xã hội.

Hệ thống khái niệm nền tảng trong luận văn bao gồm:

  • Khái niệm đào tạo nghề: Là quá trình truyền thụ tri thức chuyên môn và rèn luyện kỹ năng thực hành thông qua các cấp độ sơ cấp nghề, trung cấp nghề, cao đẳng nghề và đào tạo nghề thường xuyên nhằm đáp ứng yêu cầu công việc.
  • Khái niệm việc làm: Căn cứ Điều 13 Bộ luật Lao động và Điều 55 Hiến pháp năm 1992, việc làm được xác định là mọi hoạt động lao động tạo ra nguồn thu nhập hợp pháp mà pháp luật không ngăn cấm.
  • Khái niệm giải quyết việc làm cho lao động nông thôn: Là tổng thể các chính sách kinh tế - xã hội của Nhà nước và cộng đồng nhằm tạo điều kiện thuận lợi để người lao động có việc làm thuần nông hoặc phi nông nghiệp với thu nhập ổn định.
  • Mối quan hệ biện chứng giữa đào tạo nghề và việc làm: Đào tạo nghề tạo tiền đề nâng cao năng lực làm việc, trong khi yêu cầu của thị trường việc làm quy định nội dung, quy mô và cấp trình độ đào tạo.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng phương pháp luận duy vật biện chứng, đi từ phương pháp lịch sử đến logic học thuật.

Nguồn dữ liệu thứ cấp được thu thập từ Niên giám Thống kê tỉnh Thái Bình, các báo cáo tổng kết giai đoạn 2010 - 2013 của Sở Lao động - Thương binh và Xã hội tỉnh Thái Bình, Tổng cục Dạy nghề và các quyết định phân bổ ngân sách của Ủy ban nhân dân tỉnh Thái Bình.

Nghiên cứu thực địa sử dụng phương pháp chọn mẫu phân tầng kết hợp ngẫu nhiên với cỡ mẫu khảo sát là 2.500 lao động tại 12 xã thuộc 4 huyện trọng điểm về đào tạo nghề gồm Đông Hưng, Hưng Hà, Vũ Thư và Tiền Hải. Lý do lựa chọn phương pháp phân tích thống kê mô tả kết hợp phỏng vấn sâu là nhằm phản ánh chính xác tương quan giữa nhu cầu thực tế của người học, năng lực của các cơ sở đào tạo và khả năng hấp thụ lao động của các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, mạng lưới cơ sở đào tạo nghề trên địa bàn tỉnh Thái Bình phát triển tương đối đồng bộ với 27 cơ sở dạy nghề bao gồm 8 trường trung cấp nghề, 18 trung tâm dạy nghề và 1 điểm liên kết cao đẳng nghề. Trong năm 2013, toàn tỉnh đã tuyển sinh dạy nghề cho 33.500 người, trong đó trình độ cao đẳng nghề đạt 2.000 người, trung cấp nghề 4.800 người, sơ cấp nghề và dạy nghề dưới 3 tháng đạt 26.700 người, góp phần nâng tỷ lệ lao động qua đào tạo toàn tỉnh lên 36,5%.

Thứ hai, việc triển khai Đề án 1956 của Thủ tướng Chính phủ về đào tạo nghề cho lao động nông thôn tại địa phương ghi nhận bước tiến rõ rệt. Năm 2013, với tổng kinh phí hỗ trợ 15,1 tỷ đồng, tỉnh đã đào tạo cho 11.855 lao động với 22 ngành nghề khác nhau, gồm 4.800 học viên nhóm nghề nông nghiệp và 7.055 học viên nhóm nghề phi nông nghiệp. Bình quân trên 80% người học hoàn thành khóa học đã tìm được việc làm mới, tiếp tục làm nghề cũ với năng suất cao hơn hoặc được các doanh nghiệp bao tiêu sản phẩm.

Thứ ba, nguồn vốn tín dụng chính sách phát huy vai trò đòn bẩy khi Quỹ quốc gia hỗ trợ việc làm đã cho vay trên 95 tỷ đồng thông qua hơn 3.000 lượt dự án, góp phần giải quyết việc làm cho 3,2 vạn lao động, trong đó tạo ra 1,4 vạn chỗ làm việc mới.

Thứ tư, bất cập về cơ cấu nghề và mức thu nhập sau đào tạo vẫn còn tồn tại. Thu nhập khởi điểm bình quân của lao động qua đào tạo kỹ thuật đạt khoảng 3,5 triệu đồng/tháng, cao hơn đáng kể so với mức 2,2 triệu đồng/tháng ở nhóm ngành dịch vụ. Đội ngũ giảng viên dạy nghề còn mỏng, khi tỷ lệ giảng viên có trình độ thạc sĩ trở lên ở các trường cao đẳng nghề chỉ đạt 18,3% và ở trường trung cấp nghề là 5,4%.

Thảo luận kết quả

Thành công bước đầu tại Thái Bình bắt nguồn từ việc thành lập và kiện toàn bộ máy Ban chỉ đạo Đề án 1956 tại 8/8 huyện, thành phố và 100% các xã, phường, thị trấn. Dữ liệu khảo sát có thể được biểu diễn trực quan qua biểu đồ cột thể hiện biến động quy mô tuyển sinh các cấp trình độ qua các năm 2010 - 2013, kết hợp bảng thống kê cơ cấu chuyển dịch việc làm tại các làng nghề truyền thống. Điển hình như làng nghề Bánh Cáy Làng Nguyễn tại xã Nguyên Xá huyện Đông Hưng, làng nghề dệt Chiếu Hưng Nhân tại huyện Hưng Hà và mô hình kinh tế sinh thái Làng vườn Bách Thuận tại huyện Vũ Thư.

Tuy nhiên, việc đào tạo nghề vẫn còn nặng tính hình thức chạy theo chỉ tiêu số lượng, chưa bám sát nhu cầu sử dụng thực tế của thị trường. Tỷ lệ doanh nghiệp ký kết hợp đồng đào tạo trực tiếp với các trường nghề mới dừng lại ở mức 37,1%, trong khi 40% doanh nghiệp chỉ gửi nhân công đi nâng cao tay nghề ngắn hạn. Sự tham gia thụ động này khiến mục tiêu phát triển nguồn nhân lực kỹ thuật chất lượng cao gặp nhiều rào cản.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, đổi mới chương trình và nội dung dạy nghề theo chuẩn kỹ năng nghề quốc gia: Sở Lao động - Thương binh và Xã hội chủ trì phối hợp với Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn rà soát 22 ngành nghề đào tạo, chuyển dịch mạnh từ lý thuyết hàn lâm sang tích hợp thực hành trực tiếp tại xưởng sản xuất và đồng ruộng, đặt mục tiêu đến năm 2020 có 85% học viên sau tốt nghiệp đạt kỹ năng nghề từ loại khá trở lên.

Thứ hai, nâng cấp cơ sở vật chất và chuẩn hóa đội ngũ giáo viên dạy nghề: Ủy ban nhân dân tỉnh phân bổ nguồn ngân sách hằng năm để hiện đại hóa trang thiết bị máy móc tại 18 trung tâm dạy nghề cấp huyện; tổ chức bồi dưỡng nghiệp vụ sư phạm thường xuyên, phấn đấu nâng tỷ lệ giảng viên trình độ thạc sĩ tại các trường cao đẳng nghề lên mức 25% và 100% giáo viên đạt chuẩn chuyên môn trước năm 2020.

Thứ ba, thiết lập cơ chế liên kết ba bên chặt chẽ giữa Nhà nước, cơ sở đào tạo và doanh nghiệp: Các hiệp hội doanh nghiệp và chủ cơ sở làng nghề cần chủ động tham gia xây dựng giáo trình, tiếp nhận học sinh thực tập và bao tiêu sản phẩm đầu ra, phấn đấu huy động tối thiểu 40% nguồn vốn xã hội hóa ngoài ngân sách phục vụ công tác dạy nghề.

Thứ tư, hoàn thiện hệ thống thông tin dự báo cung - cầu thị trường lao động: Trung tâm Giới thiệu việc làm tỉnh chịu trách nhiệm xây dựng phần mềm quản lý và mạng lưới dữ liệu việc làm cập nhật liên tục từ cấp xã, kết nối cung ứng lao động với hơn 375.000 doanh nghiệp đang hoạt động trên cả nước và các khu công nghiệp trọng điểm như Tiền Hải, Nguyễn Đức Cảnh.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nhóm cơ quan quản lý nhà nước: Lãnh đạo và chuyên viên thuộc Sở Lao động - Thương binh và Xã hội, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Ủy ban nhân dân cấp huyện, cấp xã tại tỉnh Thái Bình và các tỉnh vùng Đồng bằng sông Hồng cần dữ liệu thực tiễn để hoạch định chính sách phân bổ ngân sách và điều hành Đề án 1956 hiệu quả.

Nhóm cơ sở giáo dục nghề nghiệp: Ban giám hiệu, cán bộ quản lý đào tạo và giáo viên tại các trường trung cấp nghề, cao đẳng nghề, trung tâm giáo dục nghề nghiệp muốn tham khảo phương pháp xây dựng chương trình giảng dạy tích hợp và mô hình hợp tác với doanh nghiệp địa phương.

Nhóm doanh nghiệp và làng nghề nông thôn: Các hợp tác xã nông nghiệp, chủ doanh nghiệp vừa và nhỏ, cơ sở sản xuất thủ công mỹ nghệ tại các làng nghề truyền thống cần nắm bắt cơ chế hỗ trợ vốn vay ưu đãi và liên kết đào tạo nhân lực tay nghề cao.

Nhóm học viên và nhà nghiên cứu: Giảng viên, sinh viên, học viên cao học chuyên ngành Khoa học quản lý, Kinh tế phát triển, Quản trị nhân lực sử dụng luận văn làm tài liệu tham khảo có giá trị về phương pháp nghiên cứu định lượng và phân tích chính sách công.

Câu hỏi thường gặp

Đề tài luận văn giải quyết vấn đề quản lý cốt lõi nào trong phát triển nguồn nhân lực? Luận văn giải quyết nút thắt về tình trạng mất cân đối cơ cấu lao động kỹ thuật, chuyển đổi căn bản từ mô hình đào tạo theo năng lực sẵn có sang đào tạo theo đơn đặt hàng và nhu cầu thực tế của thị trường lao động nông thôn.

Đề án 1956 tại tỉnh Thái Bình đạt kết quả nổi bật gì trong năm 2013? Năm 2013, tỉnh đã giải ngân 15,1 tỷ đồng hỗ trợ dạy nghề cho 11.855 lao động nông thôn với 22 ngành nghề. Tỷ lệ học viên có việc làm mới hoặc nâng cao thu nhập sau đào tạo đạt trên 80%.

Các làng nghề truyền thống đóng vai trò như thế nào trong bài toán việc làm tại Thái Bình? Các làng nghề như Bánh Cáy Làng Nguyễn, Chiếu Hưng Nhân và Làng vườn Bách Thuận là hạt nhân kinh tế tại chỗ, giúp giải quyết việc làm cho hàng nghìn lao động và giảm thiểu làn sóng di cư tự do.

Rào cản lớn nhất trong việc gắn kết giữa trường nghề và doanh nghiệp là gì? Rào cản lớn nhất là thiếu cơ chế pháp lý ràng buộc trách nhiệm của doanh nghiệp. Năm 2013, tỷ lệ doanh nghiệp ký hợp đồng đào tạo chính thức với các trường nghề mới chỉ đạt khoảng 37,1%.

Vì sao xuất hiện tình trạng thừa thầy thiếu thợ tại khu vực nông thôn? Tâm lý xã hội chuộng bằng cấp đại học cùng với việc định hướng nghề nghiệp chưa sát thực tế khiến cơ cấu đào tạo bị lệch chuẩn, dẫn tới thừa nhân lực quản lý nhưng thiếu nghiêm trọng công nhân kỹ thuật lành nghề.

Kết luận

  • Luận văn hệ thống hóa cơ sở lý luận vững chắc về quản lý đào tạo nghề và giải quyết việc làm cho lao động nông thôn trong bối cảnh công nghiệp hóa.
  • Phân tích chi tiết bức tranh thực tiễn mạng lưới 27 cơ sở dạy nghề tại Thái Bình với quy mô tuyển sinh đạt 33.500 người trong năm 2013.
  • Đánh giá toàn diện hiệu quả của Đề án 1956 cùng nguồn vốn tín dụng 95 tỷ đồng giúp tạo việc làm mới cho 1,4 vạn lao động địa phương.
  • Đề xuất 4 nhóm giải pháp mang tính đột phá về đổi mới giáo trình, chuẩn hóa giảng viên, gắn kết doanh nghiệp và dự báo thị trường.
  • Đóng góp luận cứ khoa học quan trọng cho lộ trình phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao của tỉnh Thái Bình giai đoạn 2015 - 2020.

Công trình là tài liệu học thuật và thực tiễn sâu sắc, cung cấp giải pháp toàn diện cho các nhà quản lý trong việc xây dựng nông thôn mới bền vững. Quý độc giả, cán bộ quản lý và nhà nghiên cứu quan tâm có thể khai thác các mô hình và hệ thống dữ liệu của luận văn để ứng dụng vào công tác chuyên môn.