Chương 1: Cơ sở lý luận về đào tạo cán bộ công đoàn chuyên trách Chương 2: Thực trạng đào tạo cán bộ công đoàn chuyên trách tại Công đoàn Công Thương Việt Nam Chương 3: Giải pháp đẩy mạnh đào tạo cán bộ công đoàn chuyên trách tại Công đoàn Công Thương Việt Nam 10 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ĐÀO TẠO CÁN BỘ CÔNG ĐOÀN CHUYÊN TRÁCH 1. Một số khái niệm cơ bản 1. Cán bộ và cán bộ công đoàn 1. Cán bộ Theo Đại từ điển tiếng Việt do tác giả Nguyễn Như Ý chủ biên: “Cán bộ: 1.
Người làm việc trong cơ quan nhà nước - cán bộ nhà nước. Người giữ chức vụ, phân biệt với người bình thường, không giữ chức vụ trong các cơ quan, tổ chức nhà nước” [56]. Theo định nghĩa này, cán bộ bao gồm người làm công tác chuyên môn, nghiệp vụ trong cơ quan Nhà nước hoặc người giữ một chức vụ trong một tổ chứcnhà nước. Hiện nay, quan niệm về cán bộ được mở rộng hơn, bao gồm: Tất cả những người được bầu cử vào các cơ quan Nhà nước, Đảng, đoàn thể; hoặc là những người được bổ nhiệm giữ một trọng trách nào đó; hoặc những người đảm nhiệm một công tác chuyên môn như: cán bộ giảng dạy, cán bộ khoa học kỹ thuật; hoặc trong lực lượng vũ trang là những cán bộ khung từ tiểu đội trưởng trở lên.
Như vậy, về cán bộ cho đến nay có rất nhiều quan niệm khác nhau, được hình thành từ cách nhìn trực tiếp đối với từng loại cán bộ, theo phương pháp liệt kê các tiêu chí hoặc theo cảm tính. Luật Cán bộ, công chức số 22/2008/QH12 ghi rõ “Cán bộ là công dân Việt Nam, được bầu cử, phê chuẩn, bổ nhiệm giữ chức vụ, chức danh theo nhiệm kỳ trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị – xã hội ở trung ương, ở tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, ở huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước”[32]. Với quy định trên cán bộ được xác định gắn với cơ chế bầu cử, phê chuẩn, bổ nhiệm giữ chức vụ, chức danh theo nhiệm kỳ. Những người đủ các tiêu chí chung của cán bộ, công chức mà được tuyển vào làm việc trong các 11 cơ quan của Đảng, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội thông qua con đường bầu cử, phê chuẩn, bổ nhiệm giữ chức vụ, chức danh theo nhiệm kỳ thì được xác định là cán bộ và được hưởng lương từ nguồn ngân sách Nhà nước.
Từ các khái niệm trên, có thể hiểu khái niệm về cán bộ như sau: Thứ nhất, cán bộ bao gồm những người trong biên chế nhà nước, làm việc trong các cơ quan Đảng, Nhà nước, đoàn thể, tổ chức chính trị xã hội. xác định và các lực lượng vũ trang nhân dân từ cấp Trung ương đến cấp địa phương và tại cơ sở. Thứ hai, cán bộ là những người giữ chức vụ trong một cơ quan hay một tổ chức để phân biệt với người không giữ chức vụ. Thứ ba, cán bộ là người được bầu cử và bổ nhiệm Thứ tư, đặc trưng của cán bộbao gồm: - Cán bộ được bầu thông qua hình thức bầu cử trong các tổ chức của Đảng, Nhà nước và các tổ chức khác trong hệ thống chính trị… hoạt động thực hiện mục tiêu, nhiệm vụ của tổ chức.
- Cán bộ được bổ nhiệm giữ một chức vụ, một trọng trách nào đó trong các cơ quan, tổ chức của hệ thống chính trị. - Cán bộ được tuyển dụng thông qua tuyển chọn hay phân công công tác sau khi hoàn thành chương trình đào tạo tại các trường đại học, cao đẳng, trung học chuyên nghiệp, dạy nghề; cán bộ được bổ nhiệm, đề bạt hoặc bầu cử. - Cán bộ được hưởng lương và chính sách đãi ngộ căn cứ vào trình độ, nội dung, chất lượng công việc đảm nhận và thời gian công tác của họ. Tóm lại, từ các khái niệm, các đặc trưng của cán bộ, theo quan điểm của tác giả luận văn: Cán bộ là người lãnh đạo,quản lý trong các tổ chức hoặc người làm chuyên môn, nhà khoa học hay công chức, viên chức làm việc, hưởng lương từ ngân sách nhà nước hoặc từ các nguồn khác.
Họ trở thành cán bộ thông qua bổ nhiệm, đề bạt hoặc bầu cử, hoặc được tuyển dụng, phân công giữ các nhiệm vụ trong các tổ chức để thừa hành công vụ. Cán bộ công đoàn Theo Điều lệ Công đoàn Việt Nam [47]: (1) Cán bộ công đoàn là người đảm nhiệm các chức danh từ tổ phó công đoàn trở lên thông qua bầu cử tại đại hội hoặc hội nghị công đoàn; được cấp có thẩm quyền chỉ định, công nhận, tuyển dụng, bổ nhiệm vào các chức danh cán bộ công đoàn hoặc được giao nhiệm vụ thường xuyên để thực hiện chức năng, nhiệm vụ của tổ chức công đoàn. (2) Cán bộ công đoàn gồm có cán bộ công đoàn chuyên trách và cán bộ công đoàn không chuyên trách. a) Cán bộ công đoàn chuyên trách là người được cấp có thẩm quyền chỉ định, tuyển dụng, bổ nhiệm hoặc được đại hội, hội nghị công đoàn các cấp bầu ra để đảm nhiệm công việc thường xuyên trong tổ chức công đoàn.
b) Cán bộ công đoàn không chuyên trách là người làm việc kiêm nhiệm, do đoàn viên tín nhiệm bầu và được cấp có thẩm quyền của công đoàn công nhận hoặc chỉ định vào các chức danh từ tổ phó công đoàn trở lên. Trên cơ sở quy định về cán bộ công đoàn, có thể phân loại cán bộ công đoàn như sau: - Căn cứ vào tính chất công việc, chức trách, nhiệm vụ, cán bộ công đoàn bao gồm: Cán bộ do bầu cử: là những cán bộ được bầu ra từ đại hội công đoàn các cấp. Những cán bộ này có thể là làm chuyên trách công đoàn hoặc không chuyên trách công đoàn, bao gồm các ủy viên ban chấp hành, ủy viên ủy ban kiểm tra, ban thanh tra nhân dân, tổ trưởng công đoàn, tổ phó tổ công đoàn… Cán bộ chuyên môn, nghiệp vụ: là những cán bộ được tuyển dụng, bổ nhiệm hoặc phân công làm công tác chuyên môn tại các ban, các phòng nghiệp vụ trong các cơ quan công đoàn và đơn vị sự nghiệp trực thuộc công đoàn các cấp. - Căn cứ vào chức năng, nhiệm vụ và nguồn gốc tiền lương, cán bộ công đoàn gồm có cán bộ công đoàn chuyên trách và cán bộ công đoàn không chuyên trách: 13 a) Cán bộ công đoàn chuyên trách: là những người làm việc chuyên trách trong các cơ quan công đoàn, thực hiện chức năng, nhiệm vụ của tổ chức công đoàn, hưởng lương từ tổ chức công đoàn, do tổ chức công đoàn phân công nhiệm vụ, được đề bạt, bổ nhiệm hoặc được công nhận các chức danh thông qua bầu cử.
Cán bộ công đoàn chuyên trách phần lớn tập trung ở các cơ quan công đoàn cấp trên cơ sở và một số ở các CĐCS có số lượng đoàn viên và công nhân lao động theo quy định. Cán bộ công đoàn chuyên trách có thể phân chia thành 4 nhóm như sau: + Nhóm thứ nhất: bao gồm cán bộ lãnh đạo chủ chốt các cấp công đoànnhư chủ tịch, phó chủ tịch, ủy viên Đoàn Chủ tịch hoặc Ban thường vụ, trưởng ban, phó ban chuyên đề thuộc cơ quan công đoàn các cấp. + Nhóm thứ hai: bao gồm những cán bộ được bổ nhiệm vào ngạch công chức, viên chức theo quy định làm công tác chuyên môn, nghiệp vụ hoặc phục vụ ở cơ quan công đoàn các cấp. + Nhóm thứ ba: bao gồm cán bộ giảng dạy ở các trường công đoàn, cán bộ nghiên cứu khoa học ở các viện trong hệ thống công đoàn.
+ Nhóm thứ tư: là cán bộ quản lý các đơn vị sự nghiệp, đơn vị sản xuất kinh doanh thuộc hệ thống công đoàn quản lý. b) Cán bộ công đoàn không chuyên trách: Là những người làm công tác chuyên môn, họ chỉ kiêm nhiệm dành một phần quỹ thời gian cho hoạt động công đoàn khi được đoàn viên tín nhiệm bầu và trở thành cán bộ công đoàm, không hưởng lương từ ngân sách Công đoàn, nhưng được hưởng phần phụ cấp theo công việc đảm nhận do tổ chức công đoàn chi trả. Ngoài ra, còn có đối tượng cán bộ chuyên làm việc của công đoàn nhưng do chuyên môn trả lương ở một số đơn vị theo yêu cầu thực tế và được công đoàn cấp trên đồng ý. Đào tạo và đào tạo trong tổ chức 1.
Đào tạo Theo Đại từ điển Tiếng Việt: “Đào tạo (đgt): Dạy dỗ rèn luyện để trở nên người có hiểu biết, có nghề nghiệp: đào tạo thành người trí thức; đào tạo chuyên môn nghiệp vụ” [56, tr. 14 Đào tạo là hoạt động quan trọng vừa để trang bị kiến thức vừa góp phần nâng cao trình độ, kỹ năng cho con người nói chung và cho người lao động nói riêng. Theo tác giả Nguyễn Như Ý, đào tạo vừa là là việc dạy dỗ, rèn luyện kể từ khi chưa biết đến trang bị kiến thức nghề nghiệp, vừa đào tạo trở thành người trí thức có trình độ, chuyên môn nghiệp vụ cao hơn để thực hiện tốt nhiệm vụ. Liên quan đến khái niệm đào tạo, đã có nhiều tác giả đưa ra các khái niệm khác nhau xuất phát từ nhiều cách cách tiếp cận, song có thể nêu ra một số khái niệm sau: Theo TS.
Hà Văn Hội: “Đào tạo” được hiểu là hoạt động nhằm giúp cho người lao động có thể thực hiện có hiệu quả hơn các chức năng, nhiệm vụ của mình. Nói một cách cụ thể, đào tạo liên quan đến việc tiếp thu các kiến thức, kỹ năng đặc biệt, nhằm thực hiện những công việc cụ thể một cách hoàn hảo hơn [18, tr. Tác giả Mai Quốc Chánh và Trần Xuân Cầu xác định “Đào tạo được hiểu là các hoạt động học tập nhằm giúp cho người lao động có thể thực hiện có hiệu quả hơn chức năng, nhiệm vụ của mình. Đây là quá trình học tập làm cho người lao động nắm vững hơn về công việc của mình, là những hoạt động học tập để nâng cao trình độ, kỹ năng của người lao động để thực hiện nhiệm vụ lao động của mình có hiệu quả hơn”[5, tr.
Như vậy đào tạo nguồn nhân lực làquá trình tác động đếncon người thông qua đó làm cho họ lĩnh hội và nắm bắt được những tri thức, kĩ năng một cách có hệ thống. Đây là cơ sở để người lao động tiếp cận với công việc theo sự phân công của tổ chức.