CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ĐÀO TẠO CÁN BỘ, CÔNG CHỨC CẤP XÃ NGƯỜI DÂN TỘC THIỂU SỐ 1. NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ ĐÀO TẠO CÁN BỘ, CÔNG CHỨC CẤP XÃ NGƯỜI DÂN TỘC THIỂU SỐ 1. CBCC cấp xã người DTTS a. Khái niệm CBCC cấp xã Điều 1 Pháp lệnh CBCC 2003 ửa đổi ổ ung một ố điều Pháp lệnh 1 8 đã mở rộng phạm vi điều chỉnh thêm các đối tượng gồm nh ng người được ầu cử để đảm nhiệm chức vụ theo nhiệm kỳ (cán ộ chuyên trách cấp xã) và nh ng người được tuyển ụng giao gi một chức anh chuyên môn nghiệp vụ thuộc Ủy an nh n n cấp xã (công chức cấp xã).
Trên cơ ở Pháp lệnh CBCC ửa đổi ổ ung năm 2003 Nghị định 114 2003 NĐ-CP ngày 10 10 2003 của Chính phủ về CBCC xã phường thị trấn đã quy định CBCC cấp xã. Luật CBCC đã được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XII kỳ họp thứ 4 thông qua ngày 13 11 2008 có hiệu lực thi hành từ ngày 01 01 2010. Tại Khoản 3 Điều 4 quy định: Cán ộ xã phường thị trấn ( au đ y gọi chung là cấp xã) là công n Việt Nam được ầu cử gi chức vụ theo nhiệm kỳ trong Thường trực Hội đồng nh n n Ủy an nh n n Bí thư Phó Bí thư Đảng ủy người đứng đầu tổ chức chính trị - xã hội; Công chức cấp xã là công n Việt Nam được tuyển ụng gi một chức anh chuyên môn nghiệp vụ thuộc Ủy an nh n n cấp xã trong iên chế và hưởng lương từ ng n ách nhà nước. Điều 61 Luật CBCC quy định r ràng chức vụ chức anh CBCC cấp xã.
Cán ộ cấp xã có các chức vụ au: Luan van 8 a) Bí thư Phó Bí thư Đảng ủy; b) Chủ tịch Phó Chủ tịch Hội đồng nh n n; c) Chủ tịch Phó Chủ tịch Ủy an nh n n; ) Chủ tịch Ủy an Mặt trận Tổ quốc Việt Nam; đ) Bí thư Đoàn Thanh niên Cộng ản Hồ Chí Minh; e) Chủ tịch Hội Liên hiệp Phụ n Việt Nam; g) Chủ tịch Hội Nông n Việt Nam (áp ụng đối với xã phường thị trấn có hoạt động nông l m ngư iêm nghiệp và có tổ chức Hội Nông n Việt Nam). h) Chủ tịch Hội Cựu chiến inh Việt Nam; Công chức cấp xã có các chức anh au đ y: a) Trưởng Công an; ) Chỉ huy trưởng qu n ự; c) Văn phòng - thống kê; ) Địa chính - x y ựng - đô thị và môi trường (đối với phường thị trấn) hoặc địa chính - nông nghiệp - x y ựng và môi trường (đối với xã); đ) Tài chính - kế toán; e) Tư pháp - hộ tịch; g) Văn hóa - xã hội. Như vậy Luật CBCC đã làm r được các tiêu chí để ph n định một cách tương đối cán ộ với công chức. Trong đó CBCC cấp xã được quy định cụ thể theo chức vụ ầu cử và chức anh chuyên môn để khắc phục xu hướng “hành chính hóa” và “phình” iên chế ở cơ ở.
Tuy nhiên để phù hợp với tình hình thực tiễn và điều kiện kinh tế - xã hội quy mô đặc điểm của địa phương Quốc Hội giao cho Chính phủ quy định cụ thể ố lượng CBCC cấp xã trên cơ ở các chức vụ chức anh o Luật quy định (Điều 61) Luan van 9 b. Khái niệm CBCC cấp xã người DTTS Tại Điều 5, Nghị định số 05 NĐ-CP ngày 14/01/2011 của Chính phủ ban hành về công tác dân tộc: “ TT là nh ng dân tộc có số n ít hơn o với dân tộc đa ố trên phạm vi lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam”. “ n tộc đa số là dân tộc có số dân chiếm trên 50% tổng dân số của cả nước theo điều tra dân số quốc gia”. Trên cơ ở các khái niệm: DTTS, CBCC cho thấy: CBCC, DTTS là tập hợp của ba khái niệm: Cán bộ, công chức và DTTS.
Từ nh ng ph n tích như trên có thể đi đến một quan niệm chung về CBCC cấp xã người TT như au: “CBCC cấp xã người TT ” là nh ng CBCC được quy định tại Luật CBCC đang công tác làm việc tại cấp xã có thành phần xuất thân từ các DTTS Việt Nam. Đặc điểm của CBCC cấp xã người DTTS Các CBCC cấp xã người TT có các đặc điểm cơ ản có liên quan tới công tác đào tạo như au: - Sống và làm việc ở nh ng vùng có điều kiện khó khăn về kinh tế, xã hội và cơ ở hạ tầng. Nhưng họ là nh ng người sát dân và có thể lãnh đạo, chỉ đạo và làm việc hiệu quả hơn o với cán bộ điều từ nơi khác đến; - Có khả năng thích ứng với điều kiện môi trường làm việc khó khăn ở vùng sâu vùng xa; - Phần lớn trong họ có trình độ học vấn trung bình thấp so với mặt bằng chung; - Khả năng và năng lực trong học tập và làm việc của họ hạn chế hơn so với mặt bằng chung, khả năng tự đào tạo n ng cao trình độ còn hạn chế; - Tỷ lệ khá cao chưa được đào tạo để làm công việc quản lý hành chính do nhiều người trưởng thành từ phong trào của địa phương… Luan van 10 Nh ng đặc điểm này rất quan trọng và cần được xem xét như nh n tố quan trọng chi phối công tác đào tạo CBCC cấp xã người DTTS. Khái niệm đào tạo CBCC cấp xã Đối với nền công vụ của mỗi quốc gia thì vấn đề đào tạo CBCC nhằm nâng cao năng lực công tác, trình độ chuyên môn đảm bảo thực thi công vụ có hiệu quả là rất quan trọng.
Thời gian qua, công tác đào tạo CBCC có nh ng đóng góp không nhỏ đến việc nâng cao chất lượng đội ngũ CBCC. Muốn xây dựng và phát triển đội ngũ CBCC chuyên nghiệp cần phải hiểu rõ về công tác đào tạo. Đào tạo là một quá trình hoạt động có mục đích, có tổ chức nhằm hình thành và phát triển có hệ thống tri thức, kỹ năng, kỹ xảo cho mỗi cá nhân tạo tiền đề cho họ có thể lao động một cách thành thạo và hiệu quả. Quá trình này được thực hiện trong các cơ sở đào tạo như trường đại học, trung tâm, viện hoặc các cơ sở sản xuất với thời gian quy định và trình độ khác nhau.
Hay nói một cách khác đào tạo là quá trình làm biến đổi hành vi con người có hệ thống thông qua việc học tập. Đào tạo được thể hiện bằng kết quả của việc giáo dục, hướng dẫn, phát triển và đúc kết kinh nghiệm một cách khoa học và theo kế hoạch đã đề ra. Theo Uỷ ban Nhân lực của Anh đào tạo công chức được xác định là "một quá trình có kế hoạch làm biến đổi thái độ, kiến thức hoặc kỹ năng thông qua việc học tập rèn luyện để làm việc có hiệu quả trong một hoạt động hay trong một loạt các hoạt động nào đó. Mục đích của nó, xét theo tình hình công tác ở tổ chức, là phát triển nâng cao năng lực cá nhân và đáp ứng nhu cầu nhân lực hiện tại và tương lai của cơ quan".
Trong đạo luật Liên bang của Mỹ đào tạo được xác định như là một quá trình cung cấp, tạo ựng khả năng làm việc cho người học và ố trí, ắp xếp học viên vào các chương trình, khoá học, môn học một cách có hệ thống hay nói một cách khác đào tạo là ự huấn luyện và giáo ục đã được lên kế hoạch Luan van 11 và có ự chuẩn ị, có ự kết hợp trong các lĩnh vực khoa học, kỹ thuật, thương mại, văn phòng, tài chính, hành chính hay một ố lĩnh vực khác nhằm nâng cao kết quả thực hiện công việc của cá nhân, tổ chức và giúp họ hoàn thành nhiệm vụ và mục tiêu công tác. Trước đ y trong lĩnh vực đào tạo công chức còn sử dụng khái niệm "đào tạo lại". Đ y là quá trình đào tạo công chức thay đổi dạng hoạt động nghề nghiệp hay phương thức hoạt động nghề nghiệp (gồm kiến thức, kỹ năng, thái độ…) để phù hợp với nh ng thay đổi của môi trường quản lý cũng như hoạt động chuyên môn. Theo Nghị định ố 18/2010/NĐ-CP ngày 05 tháng 3 năm 2010 của Chính phủ về đào tạo, ồi dưỡng công chức thì: “đào tạo là quá trình truyền thụ, tiếp nhận có hệ thống những tri thức, kỹ năng theo quy định của từng cấp học, bậc học”.
Công chức qua quá trình đào tạo ẽ “trở thành người có năng lực theo những tiêu chuẩn nhất định”. Đào tạo công chức chính là việc tổ chức nh ng cơ hội cho đội ngũ này được học tập, nhằm giúp cơ quan công quyền đạt được mục tiêu của mình trong việc nâng cao năng lực chuyên môn, nghiệp vụ; làm gia tăng giá trị của nguồn lực cơ ản quan trọng nhất là công chức làm việc trong các cơ quan nhà nước. Sau quá trình đào tạo, công chức có thể làm việc và ử ụng tốt hơn các kỹ năng, tiềm năng vốn có, phát huy hết năng lực làm việc của ản thân. Khái niệm “đào tạo, ồi dưỡng” dùng trong thuật ng đào tạo, ồi dưỡng CBCC thông thường không hiểu tách iệt “đào tạo” với “ ồi dưỡng” mà thường được nói đến một khâu trong công tác cán ộ.
Theo đó đào tạo CBCC có điểm khác iệt so với các loại hình giáo ục đào tạo khác trong hệ thống giáo ục quốc dân: Về đối tượng đào tạo, văn ằng trong đào tạo, có nh ng quy định khác iệt, hoạt động theo nguồn kinh phí riêng, chương trình và nội dung riêng do cơ quan QLNN về đào tạo xây ựng và ban hành,… Luan van 12 Tóm lại đào tạo CBCC luôn gắn mục đích của khoá học với yêu cầu phát triển KT-XH đảm bảo tiêu chuẩn chức danh cán bộ, ngạch công chức theo quy định; từ đó mỗi CBCC nhận thức và thực thi các chủ trương, chính sách đường lối của Đảng và Nhà nước, nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ đảm bảo tiêu chuẩn chức danh, ngạch, bậc phù hợp với từng vị trí công việc được phân công. Đối với đội ngũ CBCC thì mỗi cá nhân có nhu cầu về đào tạo khác nhau, có nh ng tiêu chuẩn và yêu cầu khác nhau về trình độ đào tạo nghiệp vụ chuyên môn. Việc phân loại công chức ở trên cũng chính là một trong nh ng cơ ở để xác định nhu cầu đào tạo công chức hiện nay.