phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn gồm 3 chƣơng, 6 tiết. Chƣơng 1: Chủ trƣơng và sự chỉ đạo của Đảng bộ tỉnh Thái Nguyên đối với công tác đào tạo, bồi dƣỡng lý luận chính trị cho cán bộ chủ chốt cấp cơ sở từ năm 1997 đến năm 2000 Chƣơng 2: Sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Thái Nguyên đối với công tác đào tạo, bồi dƣỡng lý luận chính trị cho cán bộ chủ chốt cấp cơ sở từ năm 2001 đến năm 2005 Chƣơng 3: Nhận xét và kinh nghiệm lịch sử 8 z Chƣơng 1 CHỦ TRƢƠNG VÀ SỰ CHỈ ĐẠO CỦA ĐẢNG BỘ TỈNH THÁI NGUYÊN ĐỐI VỚI CÔNG TÁC ĐÀO TẠO, BỒI DƢỠNG LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ CHO CÁN BỘ CHỦ CHỐT CẤP CƠ SỞ TỪ NĂM 1997 ĐẾN NĂM 2000 1. Đặc điểm tự nhiên, kinh tế- xã hội tỉnh Thái Nguyên và công tác đào tạo, bồi dƣỡng lý luận chính trị cho cán bộ chủ chốt cấp cơ sở trƣớc năm 1997 1. Khái quát về đặc điểm tự nhiên, kinh tế xã hội tỉnh Thái Nguyên Đặc điểm tự nhiên Thái Nguyên là tỉnh thuộc vùng trung du – miền núi Đông Bắc, diện tích tự nhiên 3.531,02 km2 nằm trong hệ tọa độ địa lí từ 21o19’ đến 22o03’ vĩ Bắc và 105o29’ đến 106o15’ kinh Đông [10, tr.
Thái Nguyên phía bắc giáp tỉnh Bắc Kạn; phía đông giáp các tỉnh Lạng Sơn, Bắc Giang; phía nam giáp thủ đô Hà Nội; phía tây giáp các tỉnh Vĩnh Phúc, Tuyên Quang. Do vị trí địa lí thuận lợi, Thái Nguyên là một trong những trung tâm chính trị, kinh tế quan trọng thuộc vùng trung du, miền núi phía Bắc và là cửa ngõ giao lƣu kinh tế, xã hội giữa trung du, miền núi phía Bắc với đồng bằng Bắc Bộ. Cấu tạo địa hình tự nhiên của tỉnh Thái Nguyên đƣợc phân thành ba vùng: Vùng núi phía Tây và Tây Bắc gồm các huyện Định Hóa, Đại Từ, các xã phía Tây huyện Phú Lƣơng; Vùng núi phía Đông gồm hai huyện Đồng Hỷ, Võ Nhai; Vùng có địa hình đồi núi thấp gồm phía Nam huyện Phú Lƣơng, phía Tây huyện Đồng Hỷ, thành phố Thái Nguyên, huyện Phú Bình, huyện Phổ Yên, thị xã Sông Công. Với vị trí rất thuận lợi về giao thông, cách sân bay quốc tế nội bài 50 km, cách biên giới Trung Quốc 200 km, cách trung tâm Hà Nội 75 km và cảng Hải Phòng 200 km.
Thái Nguyên còn là điểm nút giao lƣu thông qua hệ thống đƣờng bộ, đƣờng sắt, đƣờng sông hình rẻ quạt kết nối với các tỉnh thành, đƣờng quốc lộ 3 nối Hà Nội đi Bắc Kạn; Cao Bằng và cửa khẩu Việt 9 z Nam – Trung Quốc; quốc lộ 1B Lạng Sơn; quốc lộ 37 Bắc Ninh, Bắc Giang. Hệ thống đƣờng sông Đa Phúc - Hải Phòng; đƣờng sắt Thái Nguyên – Hà Nội - Lạng Sơn. Đây là điều kiện thuận lợi cho việc lƣu thông hàng hóa và trao đổi kinh tế giữa Thái Nguyên và các địa phƣơng trong khu vực. Thái Nguyên có tám dân tộc sinh sống là Kinh, Tày, Nùng, Dao, H’mông, Sán Chay, Sán Dìu, Hoa.
Theo thống kê năm 2013, dân số của tỉnh đạt sấp xỉ: 1,16 triệu, Thái Nguyên đang trong giai đoạn cơ cấu dân số “vàng”, đây cũng là cơ hội thuận lợi cho phát triển nguồn lực phục vụ sự nghiệp CNH, HĐH đất nƣớc. Cƣ dân các dân tộc ít ngƣời chiếm 24,49% dân số toàn tỉnh. Mặc dù mỗi thành phần dân tộc ở Thái Nguyên mang những đặc điểm riêng về tiếng nói, trình độ sản xuất, bản sắc văn hoá, song tất cả đều có những nét tƣơng đồng, hoà nhập trong một cộng đồng và chung sống trên một lãnh thổ. Đặc điểm kinh tế- xã hội Tỉnh Thái Nguyên có tổng diện tích tự nhiên là 353.
Cơ cấu đất đai gồm các loại: Đất nông nghiệp (gồm đất sản xuất nông nghiệp; đất lâm nghiệp có rừng; đất nuôi trồng thuỷ sản; đất nông nghiệp khác) chiếm 83,44%; Đất phi nông nghiệp (gồm đất ở; đất chuyên dùng; đất tôn giáo, tín ngƣỡng; đất nghĩa trang, nghĩa địa; đất sông suối và mặt nƣớc chuyên dùng) chiếm 12,09%; Đất chƣa sử dụng (gồm đất bằng; đất đồi núi; Núi đá không có rừng cây) chiếm 4,46%. Diện tích đất lâm nghiệp có rừng của tỉnh là 180.639,32ha, chiếm 51,16% diện tích tự nhiên toàn tỉnh, đƣợc chia ra thành ba loại: Rừng sản xuất chiếm 31,39%; rừng phòng hộ chiếm 9,87% và rừng đặc dụng chiếm 9,90%. Thực vật, động vật khá đa dạng, đặc biệt có nhiều loại cây, con làm đƣợc dƣợc liệu quí, có thể phát triển sản xuất hàng hóa quy mô lớn. Với những thuận lợi trên, Thái Nguyên có điều kiện để đầu tƣ và phát triển nông- lâm nghiệp trong toàn tỉnh.
10 z Nằm trong vùng sinh khoáng Đông Bắc Việt Nam, thuộc vành đai sinh khoáng Thái Bình Dƣơng, Thái Nguyên có nguồn tài nguyên khoáng sản rất phong phú (34 loại hình khoáng sản); trong đó có những khoáng sản có giá trị cao về phát triển kinh tế trong cả nƣớc nhƣ sắt, than (đặc biệt là than mỡ) đã tạo cho Thái Nguyên một lợi thế lớn trong việc phát triển ngành công nghiệp luyện kim, khai khoáng. Đây là thế mạnh đƣa Thái Nguyên trở thành trung tâm công nghiệp luyện kim lớn của cả nƣớc. Tình hình kinh tế - xã hội của tỉnh có nhiều thuận lợi trong hoạt động sản xuất kinh doanh, một số ngành nghề trọng điểm đều có sự tăng về năng lực sản xuất; các thành phần kinh tế đều có sự tăng trƣởng, nhất là kinh tế ngoài quốc doanh đã khẳng định vị trí của mình trong nền kinh tế nhiều thành phần. Song cũng phải đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức nhƣ: thiên tai; kết cấu cơ sở hạ tầng, nhất là kết cấu hạ tầng khu vực nông thôn miền núi tuy đã cải thiện nhƣng vẫn thiếu và xuống cấp; các vấn đề xã hội còn gây nhiều bức xúc.Với sự chỉ đạo quyết tâm của Đảng bộ tỉnh Thái Nguyên cùng nỗ lực cố gắng của các cấp, các ngành và nhân dân toàn tỉnh nên tình hình kinh tế xã hội đã thu đƣợc kết quả đáng kể, kinh tế tiếp tục phát triển theo chiều hƣớng tích cực.
Để đạt đƣợc những thành quả trong công cuộc xây dựng CNH, HĐH phát triển công nghiệp địa phƣơng, thực tiễn đòi hỏi tỉnh Thái Nguyên cần xây dựng đội ngũ cán bộ nói chung và cán bộ cấp cơ sở nói riêng có đủ trình độ chuyên môn, lý luận chính trị, năng lực, phẩm chất. Nhƣ vậy, mới đáp ứng đƣợc yêu cầu phát triển của tỉnh trong những năm tiếp theo. Truyền thống lịch sử Các cứ liệu khoa học thu đƣợc cho thấy con ngƣời xuất hiện ở vùng đất Thái Nguyên ngay từ thời tiền sử (cách ngày nay 40.000 năm trƣớc Công nguyên). Thời các vua Hùng, nƣớc Văn Lang chia thành 15 bộ, Thái Nguyên thuộc bộ Vũ Định.
Thời An Dƣơng Vƣơng, Thái Nguyên 11 z thuộc đất Âu Lạc. Vùng đất Thái Nguyên biến đổi qua bao thăng trầm của lịch sử từ thời thuộc Hán, thuộc Đƣờng đến thời Lí, Trần, Lê, cho đến thời Nguyễn: Năm Minh Mạng thứ 3 (1822) xứ Thái Nguyên đƣợc đổi thành trấn Thái Nguyên. Năm Minh Mạng thứ 12 (1831) đổi trấn thành tỉnh Thái Nguyên gồm cả vùng đất Bắc Kạn. Địa danh Thái Nguyên vẫn trƣờng tồn cùng đất nƣớc [10, tr.
Năm 1900, chính quyền bảo hộ Pháp chia Thái Nguyên thành 2 tỉnh Thái Nguyên và Bắc Kạn. Ngày 21/4/1965, Chính phủ nƣớc Việt Nam Dân chủ Cộng hoà quyết định sáp nhập 2 tỉnh Thái Nguyên và Bắc Kạn thành tỉnh Bắc Thái. Từ ngày 1/1/1997, tỉnh Bắc Thái đƣợc chia tách thành 2 tỉnh: Bắc Kạn và Thái Nguyên có địa giới nhƣ trƣớc khi hợp nhất và hoạt động theo địa giới hành chính mới. Qua các thời kì phát triển của lịch sử, nhân dân các dân tộc tỉnh Thái Nguyên đã trải qua nhiều chặng đƣờng đấu tranh cách mạng vô cùng khó khăn, gian khổ, đã giành đƣợc nhiều thắng lợi vẻ vang và hun đúc nên truyền thống lịch sử tốt đẹp nhƣ truyền thống yêu nƣớc, đoàn kết bất khuất kiên cƣờng trong đấu tranh chống giặc ngoại xâm, cần cù trong lao động sản xuất.
Thái Nguyên là nơi hội tụ nền văn hóa của các tỉnh miền núi phía Bắc Việt Nam, tạo nên một nền văn hóa phong phú và đậm đà bản sắc dân tộc. Là một tỉnh trung du, miền núi nhƣng sự nghiệp giáo dục và đào tạo ở Thái Nguyên khá phát triển, nơi đây có truyền thống hiếu học. Từ những thế kỷ trƣớc ở Thái Nguyên đã có hàng chục vị đại khoa, tiến sĩ dƣới thời phong kiến, góp phần vào nền văn minh và sự hƣng thịnh của quốc gia. Đặc biệt có ông Đỗ Cận (quê ở Minh Đức, Phổ Yên), đỗ tiến sĩ năm 45 tuổi (1478) dƣới thời nhà Trần đã nêu một tấm gƣơng sáng về tinh thần ham học.
Ông đã từng giữ chức Tham nghị xứ Quảng Nam; Phó sứ trong Đoàn sứ bộ Đại Việt sang nhà Minh (Trung Quốc); chức Thƣợng thƣ (đứng đầu một bộ trong triều)… Tác phẩm của ông khá phong phú nhƣ Kim Lăng ký, Xuân yến, Thái Thạch vãn bạc… 12 z Hiện nay, Thái Nguyên là trung tâm giáo dục miền núi phía Bắc. Ngoài bảy trƣờng đại học thuộc Đại học Thái Nguyên, còn có các trƣờng cao đẳng, các trƣờng công nhân kỹ thuật và trƣờng vùng cao của trung ƣơng đƣợc xây dựng ở địa phƣơng. Đây là điều kiện thuận lợi góp phần nào nâng cao chất lƣợng giáo dục- đào tạo trong tỉnh nói chung và mang lại hiệu quả trong công tác đào tạo, bồi dƣỡng cán bộ cơ sở nói riêng. Ngày 6/11/1996, tại kì họp lần thứ 10, Quốc hội (khóa IX) nƣớc Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ra Nghị quyết chia tách và điều chỉnh địa giới một số tỉnh trong cả nƣớc.
Tỉnh Bắc Thái tách thành 2 tỉnh: Bắc Kạn và Thái Nguyên, có địa giới nhƣ trƣớc khi hợp nhất (7/1965) và hoạt động theo đơn vị hành chính mới kể từ ngày 1/1/1997. Từ đó, dƣới sự lãnh đạo trực tiếp của Đảng bộ Thái Nguyên, nhân dân các dân tộc trong tỉnh bƣớc vào thời kì mới: thời kì đẩy mạnh CNH, HĐH đất nƣớc. Bên cạnh những thuận lợi, tỉnh Thái Nguyên cũng còn nhiều tồn tại khó khăn: xuất phát điểm thấp; cơ sở hạ tầng còn hạn chế; mặc dù chú trọng vào phát triển công nghiệp nhƣng do những tác động của tình hình thế giới và trong nƣớc nên hiệu quả mang lại còn hạn chế; đời sống nhân dân ở các vùng sâu, vùng xa còn gặp nhiều khó khăn; trình độ cán bộ, đảng viên, công nhân viên chức còn chƣa đáp ứng đƣợc những yêu cầu của tỉnh trong giai đoạn phát triển mới; một bộ phận cán bộ, đảng viên còn rơi vào chủ nghĩa cá nhân, suy thoái đạo đức, không nhận đƣợc sự ủng hộ của quần chúng nhân dân.