phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn được kết cấu thành 2 chương 5 tiết. CHƢƠNG 1 ĐẠO ĐỨC HỌC HY LẠP CỔ ĐẠI: SỰ HÌNH THÀNH VÀ CÁC TÁC GIA TIÊU BIỂU 1. Những điều kiện và tiền đề cho sự hình thành các tƣ tƣởng đạo đức học Hy Lạp cổ đại 1. Điều kiện tự nhiên Ngày xưa, các bộ lạc Hy Lạp gọi bộ lạc mình bằng những tên riêng.
Đến khoảng thế kỷ thứ VIII - VII trước công nguyên, người Hy Lạp mới gọi mình là Helen (Hellenes) và gọi đất nước mình là Hella (Hellas) tức Hy Lạp. Lãnh thổ của Hy Lạp cổ đại rộng hơn nước Hy Lạp ngày nay rất nhiều, bao gồm miền nam bán đảo Ban Căng, các đảo trên biển Êgiê và miền ven biển phía tây Tiểu Á, trong đó quan trọng nhất là miền Nam bán đảo Ban Căng, tức là vùng lục địa Hy Lạp. Từ cuộc di cư ồ ạt vào các thế kỷ VIII - VI T., người Hy Lạp chiếm thêm miền nam Ý, đảo Sicily, vùng ven biển Đen, lập nên Đại Hy Lạp. Sau này, những cuộc viễn chinh toàn thắng của Alêchxăngđrơ xứ Makêđônia vào cuối thế kỷ IV T.
đã đưa đến sự ra đời của các quốc gia Hy Lạp hóa trải rộng từ Sicily ở phía tây sang Ấn Độ ở phía đông, từ biển Đen ở phía bắc đến tiếp giáp sông Nil ở phía nam. Miền lục địa Hy Lạp về mặt địa hình chia làm ba khu vực: Bắc bộ, Trung bộ và Nam bộ. Từ Bắc bộ xuống Trung bộ phải qua một cái đèo hẹp nằm gần sát bờ biển phía đông gọi là đèo Técmôpin. Trung bộ tuy là vùng có nhiều dãy núi ngang dọc nhưng cũng có những đồng bằng trù phú như đồng bằng Áttích và đồng bằng 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.
Đồng thời ở đây còn có nhiều thành phố quan trọng mà nổi tiếng nhất là Aten. Ranh giới giữa Trung bộ và Nam bộ là eo đất Coranh. Nam bộ là một bán đảo hình bàn tay bốn ngón gọi là bán đảo Pêlôpônedơ. Ở đây có nhiều cánh đồng rộng và phì nhiêu, rất thuận lợi cho việc trồng trọt.
Vùng bờ biển phía đông của bán đảo Ban Căng khúc khuỷu tạo nên nhiều vịnh và nhiều hải cảng thuận lợi cho việc phát triển hàng hải. Các đảo trên bờ biển Êgiê trở thành các trạm nghỉ chân cho các thuyền đi lại từ Hy Lạp đến Tiểu Á và Bắc Phi, trong đó lớn nhất là đảo Crét ở phía nam bán đảo. Trong khi đó biển Êgiê lại như một cái hồ lớn nên càng tạo điều kiện thuận lợi cho nghề đi biển trong điều kiện kĩ thuật đóng thuyền khá thô sơ. Còn Tiểu Á là một vùng giàu có và là cầu nối Hy Lạp với các nước phương Đông cổ đại có nền văn minh phát triển sớm.
Do điều kiện địa hình phức tạp như vậy, cho nên Hy Lạp cổ đại rộng lớn bị phân tán thành nhiều khu vực (các Thành Bang), chia cắt bởi thung lũng, hoặc các ngọn đồi bao quanh, các hòn đảo ven biển. Các khu vực đó có sắc tộc, lợi ích, cách thức quản lý đôi khi khác xa nhau, dẫn đến tình trạng hiềm khích, xung đột triền miên. Ngay cả trong phạm vi một khu vực, mối liên hệ giữa các nhóm không cùng huyết thống cũng lỏng lẻo, trừ khi tất cả cư dân phải hợp sức với nhau chống kẻ thù bên ngoài. Chính những yếu tố trên đã chi phối sự hình thành, phát triển và tan rã của Hy Lạp cổ đại.
Tuy nhiên, điều kiện địa lý đó đã giúp cho Hy Lạp cổ đại trở thành nơi có nền công thương nghiệp phát triển, đồng thời có thể tiếp thu ảnh hưởng văn minh cổ đại ở phương Đông. Điều kiện kinh tế - xã hội qua các thời kì lịch sử * Văn hóa Crét - Myxen và thời Hôme. Từ sớm, ở vùng biển Êgiê mà trung tâm là đảo Crét và vùng Myxen ở bán đảo Pêlônênedơ đã từng tồn tại những nền văn minh rực rỡ. Nhưng mãi đến tận thập kỉ 70 của thế kỉ XIX, nhờ các cuộc khai quật khảo cổ học, người ta mới biết cụ thể về nền văn minh đạo đức.
Tại Crét và Myxen, người ta đã tìm thấy cung điện, thành quách và nhiều hiện vật khác trong đó có cả chữ viết. Nền văn minh 12 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Crét tồn tại trong khoảng 18 thế kỉ, từ đầu thiên kỉ III đến thế kỉ XII T. Trên cơ sở công cụ đồng thau, ở Crét và Myxen đã xây dựng những nhà nước tương đối hùng mạnh., Myxen đã tấn công thành Tơroa ở Tiểu Á và đã tiêu diệt quốc gia này. Sau cuộc chiến tranh này 80 năm tức là đến cuối thế kỉ XII T., người Đôriêng với vũ khí bằng sắt từ phía bắc tràn xuống đã tiêu diệt các quốc gia ở Myxen và Crét.
Thời kì Crét - Myxen kết thúc. Tiếp theo thời Myxen là thời Hôme (thế kỉ XI - IX T. Sở dĩ gọi như vậy là vì lịch sử Hy Lạp trong giai đoạn này được phản ánh trong hai tập sử thi Iliát và Ôđixê của Hôme. Thời kỳ đó, ở Hy Lạp công xã thị tộc đã chớm bắt đầu tan rã, do phân công lao động trong nông nghiệp giữa trồng trọt và chăn nuôi phát triển mạnh mẽ.
Dân cư thời kỳ này chủ yếu là nông dân, chủ đất và người chăn gia súc; những người làm nghề buôn bán và thủ công còn rất ít. Do vậy, còn chưa xuất hiện đồng tiền kim khí. Khái niệm “Polis” được dùng để chỉ lối tổ chức nhà nước độc đáo của người Hy Lạp, xuất hiện từ rất sớm, nhưng vào thời Hôme, nó chưa được hiểu như thị quốc, mà chỉ như một công xã với cụm dân cư, sống có tổ chức, được thành lũy bao bọc xung quanh. Tuy nhiên, trong nội bộ công xã bắt đầu diễn ra những xung đột, mà nguyên nhân của chúng có thể từ việc hôn nhân đến phân chia tài sản giữa các thế hệ, cuối cùng là việc phân định quyền lực.
Biểu hiện trước tiên của phân hóa xã hội là sự xuất hiện hai loại người có lượng tài sản khác nhau – những người được chia nhiều đất và những người hầu như không có đất canh tác. Dần dần trong công xã hình thành hai tầng lớp đối lập nhau về địa vị và quyền lợi – tầng lớp “ưu tú” và tầng lớp “thấp hèn”. Biểu hiện về mặt xã hội là sự đối lập của tầng lớp đông đảo, bao gồm những người tiểu nông, các thành viên tự do của công xã nông thôn với tầng lớp quý tộc dòng dõi bao gồm các chủ đất lớn, các nhà quý tộc – những người cố gắng gia tăng sở hữu của mình nhờ các chủ điền nhỏ và công xã của họ. Cơ cấu xã hội đó trở nên phức tạp hơn nhiều trong điều kiện nhà nước – thị thành.
Sản xuất thủ công nghiệp, buôn bán, cuộc sống đô thị có ảnh hưởng mang tính tiêu 13 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com cực đối với công xã nông thôn, và những người nông dân bị phá sản đã trở thành nguồn nhân lực bổ sung cho thành phố. Tầng lớp thợ thủ công đông đảo, thủy thủ được hình thành ở đây. Tầng lớp thị dân giàu có, chủ nhân các xưởng thủ công nghiệp, thương nhân… bắt đầu giữ vai trò lớn hơn. Đấu tranh giai cấp cũng vì thế mà trở nên gay gắt và khốc liệt.
Để củng cố quyền lực trong công xã, những người “ưu tú” cần đến một thế lực tinh thần vững chắc - đó là các thần linh. Họ luận chứng về nguồn gốc thần linh, sự thông thái và các khả năng siêu việt của thần linh. Chỉ có họ mới đối thoại được với thần linh, và giải mã tất cả những bí mật ở thế giới này trong chừng mực không làm tổn hại đến thần linh. Giầu có và thông thái là những khái niệm đi đôi với nhau vào thời đó.
Sức mạnh kinh tế của tầng lớp “ưu tú” đảm bảo cho họ vị trí lãnh đạo công xã cả trong chiến tranh lẫn hòa bình. Lý do cơ bản dẫn đến sự phân hóa giai cấp trong xã hội là việc sử dụng công cụ bằng sắt trong sản xuất thủ công nghiệp. Chính điều đó đã khiến cho thủ công nghiệp thoát khỏi hoạt động sản xuất nông nghiệp trên quy mô rộng lớn. Như vậy, những mầm mống của xã hội có giai cấp vào thời đại hưng thịnh của văn minh Myxen đã một lần nữa manh nha vào thời đại Hôme dưới hình thức các công xã tự quản của các chủ đất tự do.
Trong các công xã ấy đã xuất hiện những xung đột xã hội mà sự phát triển tiếp theo là mâu thuẫn giai cấp. Chính những xung đột đó góp phần phá vỡ những ràng buộc truyền thống, thúc đẩy quá trình xác lập các quan hệ xã hội phù hợp hơn với nhu cầu phát triển chung. Từ đó, các nhà nước – thành bang, tức các thị quốc thực sự ra đời. * Thời kì thành bang (thế kỉ VIII - IV T.) Bước sang thế kỷ VIII T., chế độ thị tộc với lối tổ chức quản lý xã hội nguyên thủy, cơ cấu kinh tế giản đơn và nền văn minh nguyên thủy đã chuyển dần thành chế độ chiếm hữu nô lệ.
Các công xã nhỏ, phân tán, tách biệt nhau phát triển thành các thị quốc (Polis). Trong các thị quốc nhỏ này có một thành phố làm trung tâm nên gọi là thành bang. Trong lòng xã hội Hy Lạp lúc đó, mâu thuẫn giữa các công xã trước đây đã chuyển thành mâu thuẫn giữa các thành bang. Biểu hiện của 14 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com mâu thuẫn đó là các cuộc chiến tranh giành đất đai, nguồn tài nguyên, nô lệ và khẳng định vị thế bá chủ của thành bang.
Bên cạnh mâu thuẫn trên còn có mâu thuẫn giữa các giai cấp, tầng lớp có địa vị khác nhau, đối nghịch nhau ngay trong lòng một thị quốc. Đặc biệt là cuộc đấu tranh của những người bị tước hết mọi quyền làm người – người nô lệ, chống lại giai cấp chủ nô. Đây chính là nguyên nhân cơ bản về sau này đã dẫn tới sự tan rã của chế độ chiếm hữu nô lệ. Vào khoảng cuối thế kỷ VII - đầu thế kỷ VI T., các thị quốc bước vào thời kỳ phát triển khá thịnh vượng.
Sự phân công lao động lần thứ hai đã tách thủ công nghiệp ra khỏi nghề nông và đồng tiền kim khí xuất hiện đã tạo nên những sự phát triển trong đời sống xã hội.