phần Mở đầu, 3 Chương, Kết luận và Danh mục tài liệu tham khảo. Đạo đức nghề nghiệp của người làm báo cách mạng Việt Nam trong thời kỳ đổi mới – Một số vấn đề lý luận - Chương II. Thực trạng đạo đức nghề nghiệp của người làm báo nước ta trong thời kỳ đổi mới hiện nay. - Chương III.
Những quan điểm giải pháp nhằm nâng cao phẩm chất đạo đức nghề nghiệp của đội ngũ người làm báo cách mạng Việt Nam. 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CHƢƠNG I ĐẠO ĐỨC NGHỀ NGHIỆP CỦA NGƢỜI LÀM BÁO CÁCH MẠNGVIỆT NAM TRONG THỜI KỲ ĐỔI MỚI – MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN 1.1 Quan điểm Mác xít về mối quan hệ đạo đức với kinh tế 1.1 Mối quan hệ giữa đạo đức với kinh tế là mối quan hệ giữa kiến trúc thượng tầng và cơ sở hạ tầng. Đạo đức là một hình thái ý thức xã hội xuất hiện sớm nhất trong lịch sử và phát triển cùng với sự phát triển của các phương thức sản xuất. Khi xã hội loài người có sự phân chia giai cấp thì đạo đức cũng luôn mang tính giai cấp.
Trong lịch sử, sự xuất hiện những xung đột giữa các hệ thống đạo đức, sự chuyển dịch, thay thế nhau giữa các hệ thống đạo đức không là gì khác hơn ngoài sự phản ánh những xung đột giai cấp, sự thay đổi về địa vị thống trị của giai cấp này bằng giai cấp khác. Đại Từ điển Tiếng Việt đã định nghĩa đạo đức là: “Phép tắc về quan hệ giữa người với người, giữa cá nhân với tập thể, với xã hội. Xã hội nào cũng đề ra các nguyên tắc, quy tắc, chuẩn mực làm tiêu chuẩn cho hoạt động của cá nhân và các cộng đồng người, ngoài hình thức là luật pháp nhằm trực tiếp điều chỉnh hành vi bằng các quy tắc, chuẩn mực có các chế tài cưỡng chế và đảm bảo thực hiện thì còn có các chuẩn mực đạo đức, nó là các nguyên tắc, chuẩn mực thường ở mức cao hơn, chung hơn những quy định luật pháp mà ở đó con người tự giác điều chỉnh hành vi suy nghĩ của mình vì lợi ích của tập thể và xã hội. Xã hội cộng sản nguyên thủy, với kinh tế săn bắt hái lượm thì phù hợp với nó là một hệ thống chuẩn mực đạo đức mang tính chất nguyên thủy, giản đơn, thiết thực cụ thể, mang đầy tính trực quan sơ khai được tồn tại bằng các thói quen truyền thống và kinh 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.
Những người nguyên thủy có tính thẳng thắn trung thực, kiên cường, dũng cảm theo đúng nghĩa của nó trong những quan hệ giữa người với người và với toàn bộ thị tộc. Trong các bộ lạc nguyên thủy, con người trong thị tộc nhất thiết phải có tính công bằng thông cảm và tương trợ lẫn nhau. Tất cả những gì có lợi cho cộng đồng thì được coi là điều thiện, có đạo đức và ngược lại, những gì không có lợi cho cộng đồng đều bị coi là điều ác, không có đạo đức và cần phải loại trừ. Vậy phải chăng trong xã hội nguyên thủy, đạo đức có vai trò đặc bỉệt to lớn và chủ đạo trong việc điều chỉnh các hành vi của con người ?.
Nếu không có những chuẩn mực đạo đức giản dị đó thì người nguyên thủy làm sao để vượt qua được những thử thách to lớn, chống lại được sức mạnh của thiên nhiên, sự khan hiếm thức ăn, bệnh tật và những cuộc chiến tranh giữa các bộ lạc, sắc tộc vì những nguyên nhân sinh học, tôn giáo? Trong xã hội chiếm hữu nô lệ, sản xuất phát triển thêm một bước làm cơ sở khách quan cho chế độ tư hữu về tư liệu sản xuất ra đời. Lần đầu tiên trong lịch sử, loài người bị phân ra làm nhiều giai cấp mà trước hết là giai cấp điển hình là chủ nô và nô lệ. Theo đó, về phương diện đạo đức, tính đối kháng của đạo đức xuất hiện cùng với hai nền đạo đức cơ bản đối lập nhau là đạo đức của người thống trị (số ít) và đạo đức của những người bị trị (số đông). Trong chế độ chiếm hữu nô lệ, đạo đức có một bước thụt lùi rất lớn so với xã hội cộng sản nguyên thủy, đó là sự xuất hiện những động cơ thấp hèn, lòng tham lam, lừa đảo, hiếu danh, trụy lạc và tính tàn nhẫn.
Vị thế của đạo đức trong xã hội giảm xuống, pháp luật của giai cấp thống trị thay cho đạo đức; chế độ đẳng cấp thay cho chế độ bình đẳng giữa người với người, quan hệ chủ tớ, kẻ trên - người dưới, mệnh lệnh – phục tùng thay cho các chuẩn mực đạo đức cũ. Sự thay đổi về hệ thống quan điểm và đạo đức cũng tạo ra bước chuyển lớn về quan hệ sản xuất, kéo mọi người ra khỏi tình trạng hoang dã. 12 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Nhưng cũng chính sự sa sút về đạo đức đã dẫn tới việc tất yếu diệt vong của chế độ chiếm hữu nô lệ. Bước sang chế độ phong kiến, tình hình cuộc sống của con người cũng có những biểu hiện cải thiện một bước, ít nhất là giai cấp phong kiến không có quyền công khai và tùy tiện giết họ như những nô lệ lúc trước.
Quan hệ giữa giai cấp thống trị và tầng lớp lao động có vẻ hòa bình hơn, tương đồng hơn. Nhờ đó, sự phát triển của chế độ phông kiến có vẻ nhanh hơn chế độ chiếm hữu nô lệ. Tuy vậy, vẫn không xóa bỏ được hai hình thái đạo đức đối lập giữa 2 giai cấp cơ bản trong xã hội là địa chủ và nông dân đã kìm hãm sự phát triển của xã hội phong kiến và dần đưa xã hội này vào thế diệt vong. Xã hội tư bản chủ nghĩa đã xuất hiện thông qua các cuộc cách mạng tư sản, quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa thay thế quan hệ sản xuất phong kiến, hệ quả là làm thay đổi cả hệ thống đạo đức xã hội, những mâu thuẫn, khác biệt về đạo đức được thu hẹp thêm một bước nữa, đặc biệt là chủ nghĩa cá nhân tư sản đã trở thành nguyên tắc cơ bản, một lối sống của tầng lớp thượng lưu, giai cấp thống trị.
Cùng với khẩu hiệu “ Tự do, Bình đẳng, Bác ái” trên cơ sở kinh tế là nền công nghiệp tư bản chủ nghĩa thì chủ nghĩa tư bản đã đạt đến sự phát triển vượt bậc trong thời kỳ cách mạng của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa. Nhưng sự phát triển của chủ nghĩa tư bản trên cơ sở chiếm hữu tư nhân về tư liệu sản xuất cũng mang lại sự tha hóa nghiêm trọng cho đạo đức xã hội. Tình trạng suy đồi về đạo đức trong xã hội tư sản đã đưa đến tình trạng phản tiến bộ của xã hội tư sản. Các yếu tố phủ định nó được tích lũy trong xã hội tư sản để dần dần tiến lên một xã hội có sự phát triển cao hơn về kinh tế và đạo đức.
Cách mạng vô sản nổ ra như một tất yếu để giải quyết sự mâu thuẫn đã lên mức đối kháng của sự phát triển về lực lượng sản xuất đối với sự thụt lùi, tha hóa của quan hệ sản xuất, của đạo đức xã hội. Quá trình đấu tranh cách 13 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com mạng đó dẫn đến sự ra đời và từng bước xác lập vị thế của một nền đạo đức mới, đạo đức cộng sản chủ nghĩa. Đây là thành quả phát triển cao của sự phát triển câc hình thái đạo đức. Sự phát triển các nền đạo đức của xã hội biến đổi từ trạng thái có đối kháng giai cấp, có sự bất bình đẳng, nô dịch áp bức bóc lột giữa người và người chuyển sang nền đạo đức có sự bình đẳng, sự đoàn kết, nương tựa giúp đợ lẫn nhau giữa người với người trong xã hội mới.
Đạo đức tư sản hình thành dựa trên sự phát triển của chủ nghĩa cá nhân một cách vị kỷ, kích thích những dục vọng thấp hèn, những bản năng “con” trong con người thì đạo đức mới phát triển cá nhân trong mối quan hệ với cộng đồng xã hội, hạn chế những dục vọng thấp hèn trong con người. Đạo đức cộng sản mới nâng con người lên đúng vị trí làm người của mình. Như vậy, xét từ quan hệ giữa kinh tế và đạo đức, ta thấy rõ mối quan hệ phụ thuộc giữa chúng diễn ra một cách biện chứng, trong đó kinh tế đóng vai trò quyết định sự phát triển của đạo đức theo đúng các mối quan hệ mà chủ nghĩa duy vật biện chứng đã chỉ ra là quan hệ giữa tồn tại xã hội với ý thức xã hội, giữa cơ sở hạ tầng với kiến trúc thượng tầng.Mac đã chỉ rõ phương thức sản xuất đời sống vật chất quyết định các quá trình sinh hoạt xã hội, chính trị và tinh thần nói chung. Không phải ý thức con người quyết định tồn tại của họ, trái lại tồn tại của họ quyết định ý thức của họ.
Lênin cũng nhấn mạnh: “chủ nghĩa duy vật lịch sử thừa nhận rằng tồn tại xã hội không phụ thuộc vào ý thức xã hội của loài người. Trong hai trường hợp đó ý thức chỉ là phản ánh của tồn tại, nhiều lắm cũng chỉ là phản ánh gần đúng, ăn khớp” [52. 104] Như vậy, chúng ta phải lấy sự tồn tại của con người để phản ánh ý thức của con người chứ không phải ngược lại. Quá trình phát triển sản xuất là quá trình không ngừng giải phóng con người về lĩnh vực vật chất lẫn tinh thần (trong đó có đạo đức).
Xã hội càng phát triển thì con người càng có điều kiện 14 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com để hoàn thiện mình. Tuy nhiên sự tác động của kinh tế đến đạo đức không phải chỉ 1 chiều, mà còn có cả chiều nghịch. Thực tế chứng minh rằng, có khi kinh tế phát triển cao nhưng đạo đức có khi lại thoái hóa, thụt lùi, hoặc thoái hóa cục bộ. Điển hình rõ nét là nước Mỹ với nền kinh tế dẫn đầu thế giới nhưng sự phát triển đạo đức cũng không phải là phát triển lành mạnh.
Thái Lan là nước có tốc độ phát triển kinh tế mạnh hàng đầu Đông Nam Á nhưng cũng là nước có tỉ lệ nhiễm HIV/ AIDS cao nhất thế giới. Điều đó có nghĩa, điều kiện kinh tế là quan trọng, quyết định chế độ chính trị, xã hội, song yếu tố đạo đức và vai trò nhân tố chủ quan là hết sức to lớn. Nhà tương lai học Alvin Toffler cho rằng trong lịch sử nhân loại, nhiều nước kém phát triển chỉ là về kinh tế thôi, còn văn hóa không phải là kém phát triển.