Hành Động Ngôn Ngữ Phê Phán Trong Tiểu Phẩm Báo Chí Việt Nam Thời Kỳ Đổi Mới

Tài liệu nghiên cứu Hành động ngôn ngữ phê phán trong tiểu phẩm báo chí tiếng việt thời kì đổi mới từ năm 1986 đến nay, tổng hợp lý thuyết và thực hành, cung cấp kiến thức chuyên

Trường đại học

Học viện Khoa học xã hội

Chuyên ngành

Ngôn ngữ học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án tiến sĩ

2018

169
7
0

Phí lưu trữ

45 Point

Tóm tắt

I. Tổng Quan Nghiên Cứu Hành Động Ngôn Ngữ Phê Phán Báo Chí

Ngữ dụng học đã thu hút sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu Việt ngữ học, tập trung vào việc ứng dụng lý thuyết vào các loại văn bản khác nhau. Các nghiên cứu này nhằm nâng cao hiệu quả giao tiếp, làm nổi bật các đặc điểm về lập luận, hội thoại và hành động ngôn ngữ. Báo chí Việt Nam thời kỳ Đổi mới đã đạt được những thành tựu đáng kể, đặc biệt là sự phát triển của tiểu phẩm báo chí (TPBC). TPBC được đánh giá cao về khả năng đấu tranh tư tưởng và mang lại những trải nghiệm thú vị cho độc giả. Tuy nhiên, việc nghiên cứu TPBC thời kỳ Đổi mới, đặc biệt là về phương diện ngôn ngữ, vẫn còn nhiều hạn chế. Cần có những nghiên cứu chuyên sâu hơn về các hành động ngôn ngữ, thao tác lập luận, nghĩa hàm ẩn và các yếu tố văn hóa - xã hội chi phối việc sử dụng ngôn ngữ trong TPBC. Mặc dù đã có các công trình nghiên cứu về hành động ngôn ngữ phê phán (HĐNNPP) nói chung, nhưng chưa có công trình nào tập trung nghiên cứu chuyên sâu về HĐNNPP trong TPBC.

1.1. Nghiên Cứu Ngữ Dụng Học và Hành Động Ngôn Ngữ

Ngữ dụng học, một lĩnh vực mới của ngôn ngữ học, nghiên cứu ngôn ngữ trong bối cảnh sử dụng và giao tiếp. Lý thuyết về hành động ngôn ngữ là nền tảng của ngữ dụng học. Trong 30 năm qua, ngữ dụng học đã phát triển mạnh mẽ trên thế giới, với nhiều công trình nghiên cứu về các khía cạnh khác nhau của lĩnh vực này. Ở Việt Nam, các nhà nghiên cứu khoa học xã hội và nhân văn cũng đã quan tâm đến ngữ dụng học, ứng dụng các lý thuyết này vào nghiên cứu các loại văn bản khác nhau để nâng cao hiệu quả giao tiếp.

1.2. Tổng Quan Về Tiểu Phẩm Báo Chí Việt Nam Đổi Mới

Báo chí Việt Nam thời kỳ Đổi mới từ năm 1986 đã đạt được những thành tựu đáng ghi nhận trên nhiều phương diện. Trong đó, tiểu phẩm báo chí (TPBC) được đánh giá là thể loại phát triển mạnh mẽ cả về số lượng và chất lượng. Môi trường dân chủ của thời kỳ Đổi mới đã tạo điều kiện cho TPBC phát huy tối đa khả năng đấu tranh tư tưởng, mang lại cho độc giả những cảm nhận thú vị về nội dung và hình thức nghệ thuật. TPBC có một vị trí quan trọng trong đời sống báo chí Việt Nam đương đại.

II. Vấn Đề Nghiên Cứu Hành Động Ngôn Ngữ Phê Phán Trong Báo Chí

Thực tế nghiên cứu tiểu phẩm báo chí (TPBC) thời kỳ Đổi mới, đặc biệt là về phương diện ngôn ngữ, vẫn còn nhiều hạn chế và thiếu tính hệ thống chuyên sâu. Mặc dù đã có một số công trình nghiên cứu về ngôn ngữ báo chí (NNBC) nói chung và ngôn ngữ TPBC nói riêng, nhưng từ góc độ ngữ dụng học thì vẫn còn nhiều vấn đề cần được tiếp tục nghiên cứu một cách toàn diện hơn. Chẳng hạn như các hành động ngôn ngữ, các thao tác lập luận, nghĩa hàm ẩn, các nhân tố văn hóa - xã hội chi phối việc sử dụng các phương tiện ngôn ngữ trong TPBC được biểu hiện cụ thể ra sao. Hơn nữa, mặc dù đã có các công trình nghiên cứu về hành động ngôn ngữ phê phán (HĐNNPP) nói chung, song chưa có công trình nào nghiên cứu chuyên sâu về HĐNNPP trên thể loại TPBC.

2.1. Hạn Chế Trong Nghiên Cứu Ngôn Ngữ Tiểu Phẩm Báo Chí

Việc nghiên cứu ngôn ngữ tiểu phẩm báo chí (TPBC) thời kỳ Đổi mới còn nhiều hạn chế và thiếu tính hệ thống chuyên sâu. Mặc dù đã có một số công trình nghiên cứu về ngôn ngữ báo chí (NNBC) nói chung và ngôn ngữ TPBC nói riêng, nhưng từ góc độ ngữ dụng học thì vẫn còn nhiều vấn đề cần được tiếp tục nghiên cứu một cách toàn diện hơn. Cần có những nghiên cứu sâu hơn về các hành động ngôn ngữ, thao tác lập luận, nghĩa hàm ẩn và các yếu tố văn hóa - xã hội chi phối việc sử dụng ngôn ngữ trong TPBC.

2.2. Thiếu Nghiên Cứu Chuyên Sâu Về Hành Động Ngôn Ngữ Phê Phán

Mặc dù đã có các công trình nghiên cứu về hành động ngôn ngữ phê phán (HĐNNPP) nói chung, song chưa có công trình nào nghiên cứu chuyên sâu về HĐNNPP trên thể loại TPBC. Do đặc điểm nổi bật của thể loại TPBC là phản ánh các hiện tượng, sự kiện, sự việc tiêu cực có thật trong đời sống xã hội qua bút pháp châm biếm, đả kích để phê phán, nên HĐNNPP là một trong số HĐNN chủ đạo trong thể loại này.

III. Cách Phân Tích Hành Động Ngôn Ngữ Phê Phán Trong Tiểu Phẩm

Đi sâu tìm hiểu về hành động ngôn ngữ phê phán (HĐNNPP), một HĐNN tiêu biểu trong thể loại tiểu phẩm báo chí, chúng tôi mong muốn làm sáng tỏ HĐNN này trên các phương diện: cách thức và các phương tiện ngôn ngữ thực hiện hành động phê phán; sự chi phối của các nhân tố văn hóa - xã hội tới việc sử dụng HĐNNPP. Từ đó luận án hi vọng góp thêm vào quá trình nghiên cứu về ngôn ngữ báo chí nói chung và ngôn ngữ TPBC nói riêng những khía cạnh tri thức mới mẻ, nhằm giúp cho việc sử dụng ngôn ngữ khi viết báo đạt hiệu quả cao. Đồng thời, các kết quả nghiên cứu của luận án cũng sẽ là nguồn tài liệu tham khảo hữu ích cho công tác giảng dạy các học phần liên quan đến tiếng Việt nói chung và các học phần liên quan đến NNBC, trong đó có ngôn ngữ TPBC nói riêng ở các trường đại học, cao đẳng đào tạo ngành Ngữ văn và Báo chí.

3.1. Phương Pháp Tiếp Cận Hành Động Ngôn Ngữ Phê Phán

Nghiên cứu hành động ngôn ngữ phê phán (HĐNNPP) trong tiểu phẩm báo chí (TPBC) cần tiếp cận trên nhiều phương diện, bao gồm cách thức thực hiện, phương tiện ngôn ngữ sử dụng và sự chi phối của các yếu tố văn hóa - xã hội. Việc phân tích sâu sắc các yếu tố này sẽ giúp làm sáng tỏ đặc điểm của HĐNNPP trong TPBC và đóng góp vào nghiên cứu ngôn ngữ báo chí (NNBC) nói chung.

3.2. Ứng Dụng Nghiên Cứu Vào Giảng Dạy và Thực Tiễn Báo Chí

Kết quả nghiên cứu về hành động ngôn ngữ phê phán (HĐNNPP) trong tiểu phẩm báo chí (TPBC) có thể được sử dụng làm tài liệu tham khảo hữu ích cho công tác giảng dạy các học phần liên quan đến tiếng Việt và ngôn ngữ báo chí (NNBC) tại các trường đại học, cao đẳng. Đồng thời, nghiên cứu này cũng có thể cung cấp kiến thức hữu ích cho các phóng viên và biên tập viên trong quá trình tác nghiệp.

IV. Mục Tiêu và Nhiệm Vụ Nghiên Cứu Hành Động Ngôn Ngữ Phê Phán

Luận án hướng đến mục đích làm sáng tỏ những đặc điểm của hành động ngôn ngữ phê phán (HĐNNPP) với tư cách là một HĐNN tiêu biểu trong thể loại tiểu phẩm báo chí, từ đó góp phần chỉ ra đặc điểm của ngôn ngữ báo chí nói chung, ngôn ngữ TPBC nói riêng từ góc độ ngữ dụng học. Luận án đặt ra những nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể như sau: Hệ thống hóa các vấn đề lý thuyết cơ bản về HĐNN và về thể loại TPBC để làm cơ sở lý luận cho đề tài. Cụ thể là các vấn đề về HĐNN, HĐNN trực tiếp và HĐNN gián tiếp; HĐNNPP trực tiếp và HĐNNPP gián tiếp; lý thuyết về văn bản báo chí, ngôn ngữ báo chí, TPBC.

4.1. Làm Sáng Tỏ Đặc Điểm Hành Động Ngôn Ngữ Phê Phán

Mục tiêu chính của luận án là làm sáng tỏ những đặc điểm của hành động ngôn ngữ phê phán (HĐNNPP) trong tiểu phẩm báo chí (TPBC). Nghiên cứu này sẽ góp phần chỉ ra đặc điểm của ngôn ngữ báo chí (NNBC) nói chung và ngôn ngữ TPBC nói riêng từ góc độ ngữ dụng học.

4.2. Hệ Thống Hóa Lý Thuyết Về Hành Động Ngôn Ngữ và Tiểu Phẩm

Luận án cần hệ thống hóa các vấn đề lý thuyết cơ bản về hành động ngôn ngữ (HĐNN) và về thể loại tiểu phẩm báo chí (TPBC) để làm cơ sở lý luận cho đề tài. Cụ thể là các vấn đề về HĐNN trực tiếp và gián tiếp, HĐNNPP trực tiếp và gián tiếp, lý thuyết về văn bản báo chí, ngôn ngữ báo chí (NNBC) và TPBC.

V. Phương Pháp Nghiên Cứu Hành Động Ngôn Ngữ Phê Phán Báo Chí

Để triển khai nhiệm vụ nghiên cứu, luận án dựa trên cơ sở phương pháp luận là chủ nghĩa duy vật biện chứng, chủ nghĩa duy vật lịch sử để đánh giá, phân tích việc sử dụng hành động ngôn ngữ phê phán (HĐNNPP) trong các tiểu phẩm báo chí (TPBC) được khảo sát. Một số phương pháp nghiên cứu chính sẽ được luận án sử dụng như sau: Phương pháp phân tích: phân tích nội ngôn (phân tích các phương tiện ngôn ngữ được sử dụng để thực hiện HĐNN trong TPBC, các thành phần cấu thành biểu thức ngôn hành và phát ngôn ngôn hành của HĐNNPP trực tiếp và HĐNNPP gián tiếp. Phân tích ngoại ngôn (ngữ cảnh, các yếu tố văn hóa - xã hội,.) nhằm xác định đích ngôn trung của HĐNNPP trong tương quan với nội dung ý nghĩa của toàn bộ đoạn văn - văn bản, sự kiện và thực tế văn hóa - xã hội tạo sinh văn bản; Phương pháp miêu tả: Phương pháp này được sử dụng để miêu tả các cách thức và phương tiện ngôn ngữ được sử dụng để thực hiện HĐNNPP trong TPBC.

5.1. Phân Tích Nội Ngôn và Ngoại Ngôn Trong Tiểu Phẩm Báo Chí

Luận án sử dụng phương pháp phân tích nội ngôn để phân tích các phương tiện ngôn ngữ được sử dụng để thực hiện hành động ngôn ngữ (HĐNN) trong tiểu phẩm báo chí (TPBC). Đồng thời, phương pháp phân tích ngoại ngôn được sử dụng để phân tích ngữ cảnh và các yếu tố văn hóa - xã hội nhằm xác định đích ngôn trung của hành động ngôn ngữ phê phán (HĐNNPP).

5.2. Miêu Tả Cách Thức và Phương Tiện Ngôn Ngữ Phê Phán

Phương pháp miêu tả được sử dụng để miêu tả các cách thức và phương tiện ngôn ngữ được sử dụng để thực hiện hành động ngôn ngữ phê phán (HĐNNPP) trong tiểu phẩm báo chí (TPBC). Việc miêu tả chi tiết các yếu tố này sẽ giúp làm rõ đặc điểm của HĐNNPP trong TPBC.

VI. Đóng Góp Mới và Ý Nghĩa Của Nghiên Cứu Hành Động Ngôn Ngữ

Thông qua việc nghiên cứu ngôn ngữ trong tiểu phẩm báo chí tiếng Việt từ góc độ ngữ dụng học, luận án đã xác định hành động ngôn ngữ phê phán (HĐNNPP) là HĐNN chủ đạo trong TPBC tiếng Việt thời kì Đổi mới (từ năm 1986 đến nay); Chỉ ra các cách thức, chiến lược thực hiện HĐNNPP được sử dụng trong TPBC, đồng thời chỉ ra những đặc điểm về lượng và chất của HĐNNPP trực tiếp và gián tiếp trong TPBC tiếng Việt thời kì Đổi mới. HĐNNPP là một hành động nhạy cảm, có mức độ đe dọa thể diện cao. HĐNNPP là HĐNN được thực hiện bằng hai hình thức đó là hình thức trực tiếp và gián tiếp. Trong hai hình thức đó, HĐNNPP trực tiếp xuất hiện với tần số thấp hơn nhiều so với HĐNNPP gián tiếp.

6.1. Xác Định Hành Động Ngôn Ngữ Phê Phán Là Chủ Đạo

Luận án đã xác định hành động ngôn ngữ phê phán (HĐNNPP) là HĐNN chủ đạo trong tiểu phẩm báo chí (TPBC) tiếng Việt thời kì Đổi mới (từ năm 1986 đến nay) thông qua việc nghiên cứu ngôn ngữ trong TPBC từ góc độ ngữ dụng học.

6.2. Phân Tích Chiến Lược và Đặc Điểm Hành Động Ngôn Ngữ Phê Phán

Luận án chỉ ra các cách thức và chiến lược thực hiện hành động ngôn ngữ phê phán (HĐNNPP) được sử dụng trong tiểu phẩm báo chí (TPBC). Đồng thời, luận án cũng chỉ ra những đặc điểm về lượng và chất của HĐNNPP trực tiếp và gián tiếp trong TPBC tiếng Việt thời kì Đổi mới.

06/06/2025
Hành động ngôn ngữ phê phán trong tiểu phẩm báo chí tiếng việt thời kì đổi mới từ năm 1986 đến nay

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lí luận Chương 2. Hành động ngôn ngữ phê phán trực tiếp trong tiểu phẩm báo chí tiếng Việt thời kì Đổi mới (từ năm 1986 đến nay) Chương 3. Hành động ngôn ngữ phê phán được thực hiện gián tiếp trong tiểu phẩm báo chí tiếng Việt thời kì Đổi mới (từ năm 1986 đến nay) 5 Chƣơng 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN 1.

Tổng quan tình hình nghiên cứu 1. Nghiên cứu về dụng học Ngữ dụng học, chuyên ngành mới của ngôn ngữ học nghiên cứu ngôn ngữ trong sử dụng, trong quan hệ với ngữ cảnh sử dụng, giao tiếp. Trong đó, có thể nói rằng, “xương sống” của ngữ dụng học chính là lý thuyết về HĐNN. Trên thế giới, trong khoảng 30 năm qua, ngữ dụng học đã phát triển vô cùng mạnh mẽ và ngày càng có một vị trí đặc biệt trong ngôn ngữ học.

Số lượng chuyên khảo về ngữ dụng học cũng như các công trình nghiên cứu đề cập tới những phương diện, góc độ khác nhau của bộ môn này ngày một gia tăng. Ở Việt Nam, ngữ dụng học cũng đã được các nhà nghiên cứu thuộc các ngành khoa học xã hội và nhân văn quan tâm nghiên cứu. Bên cạnh việc tìm hiểu sâu về mặt lý luận thì các nhà nghiên cứu đã quan tâm tới việc ứng dụng các lý thuyết này vào nghiên cứu từng kiểu loại văn bản để nâng cao hiệu quả giao tiếp, hiệu quả tác động của văn bản cũng như chỉ ra các đặc điểm về lập luận, về hội thoại, về các HĐNN,… được sử dụng trong các thể loại văn bản. Trong phạm vi luận án này, chúng tôi chỉ tập trung vào nghiên cứu một lĩnh vực của ngữ dụng học đó là lý thuyết HĐNNPP, trên cơ sở soi chiếu việc sử dụng ngôn ngữ từ một thể loại văn bản cụ thể, đó là thể loại TPBC.

Nghiên cứu về hành động ngôn ngữ Con người chúng ra nói không phải đơn thuần chỉ là nói, mà chính là chúng ta đang hành động. Hoạt động lời nói là một phần trong các hoạt động của con người. Vấn đề này đã được Hêghen đề cập:“Lời nói thực chất là những hành động diễn ra giữa những con người, cho nên nó không phải là trống rỗng”[130]. Lý thuyết HĐNN là một lĩnh vực của ngữ dụng học nghiên cứu các HĐNN.

Theo các nhà dụng học, hành động được thực hiện bằng ngôn ngữ được gọi là hành động ngôn ngữ hay còn được gọi bằng các thuật ngữ tương ứng: hành vi ngôn ngữ, hành động nói, hành động ngôn từ, hành động ngôn tại, hành động ngôn tác, hành động ngôn trung,.Trong luận án này, chúng tôi thống nhất sử dụng thuật ngữ hành động ngôn ngữ. Tuy nhiên khi trích dẫn ý kiến của các tác giả nghiên cứu về vấn đề này thì có thể giữ nguyên cách sử dụng thuật ngữ của tác giả được trích dẫn. Theo tìm hiểu của chúng tôi, cho tới nay đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về HĐNN. Bao quát tình hình chung, chúng tôi thấy, các nhà nghiên cứu đi theo hai hướng chính sau: i) Những nghiên cứu có tính lý thuyết về HĐNN; ii) Những nghiên 6 cứu có tính ứng dụng về HĐNN.

Dưới đây, chúng tôi sẽ trình bày lần lượt các hướng nghiên cứu này. Những nghiên cứu có tính lý thuyết về hành động ngôn ngữ * Trên thế giới Những nghiên cứu có tính lý thuyết về HĐNN, tiêu biểu có các nhà nghiên cứu như: J.Yule,… Về HĐNN, John. L Austin (1962) là nhà nghiên cứu đã phát hiện ra bản chất hành động của sự nói năng, tức bản chất hành động của ngôn ngữ. Austin trong cuốn How to do things with word (Hành động như thế nào bằng lời nói) đã khẳng định và xây dựng một hệ thống lý thuyết về HĐNN.

Với lý thuyết này, Austin đã thấy được bản chất xã hội và khía cạnh liên nhân của các phát ngôn. Theo ông, "nói cũng chính là làm" [156], tức là khi chúng ta nói năng cũng có nghĩa là chúng ta hành động; chúng ta thực hiện một loại hành động đặc biệt mà phương tiện đó chính là ngôn ngữ. Khi ta nói là ta đã thực hiện một hành động bằng lời, trong đó phát ngôn sẽ có những dấu hiệu tường minh và nguyên cấp để biểu thị lực ngôn trung của phát ngôn, hay ý nghĩa đích thực của phát ngôn. Austin cho rằng, người ta thực hiện ba HĐNN khi nói ra một phát ngôn, gồm: hành vi tạo lời, hành vi mượn lời và hành vi ở lời.

Trong đó, hành vi tạo lời là hành vi sử dụng các yếu tố của ngôn ngữ như ngữ âm, từ, các kiểu kết hợp từ thành câu,… để tạo ra phát ngôn về hình thức và nội dung. Hành vi mượn lời là những hành vi mượn phương tiện ngôn ngữ nào đó ở người nghe, người nhận hoặc ở chính người nói. Hành vi ở lời là hành vi người nói thực hiện ngay khi nói năng. Hiệu quả thuộc về ngôn ngữ, có nghĩa là chúng gây ra một phản ứng ngôn ngữ tương ứng ở người nhận.

Hành vi ở lời cũng chính là đối tượng nghiên cứu chủ yếu của ngữ dụng học [12]. Nói đến các hành vi ở lời, Austin phân ra thành 5 nhóm lớn, gồm: 1) Phán xét; 2) Hành xử; 3) Cam kết; 4) Trình bày và 5) Ứng xử. Trong đó hành động phê phán được Austin xếp vào nhóm Ứng xử. Nhóm hành vi phản ứng với cách xử sự của người khác, đối với các sự kiện có liên quan, đồng thời chúng cũng là cách biểu hiện thái độ đối với hành vi hay số phận của người khác, chẳng hạn: xin lỗi, cảm ơn, khen ngợi, chào mừng, phê phán, chia buồn, nguyền rủa, chống lại,… Tiếp đó, nhà nghiên cứu John Searle (1969) đã tiếp tục phát triển hệ thống lý thuyết HĐNN này.

Searle là người đã chỉ ra hạn chế trong cách phân loại của Austin đó là không nêu ra các tiêu chí phân loại, đồng thời không thấy rõ sự khác biệt giữa hành vi ngôn ngữ và động từ thể hiện hành vi ngôn ngữ. Searle cho rằng, trước hết là 7 phải phân loại các hành vi ở lời và cần xác lập được một hệ thống các tiêu chí thích hợp với các hành vi ngôn ngữ, để tránh sự chồng chéo giữa các phạm trù [12]. Searle đã đưa ra 12 điểm khác biệt, đồng thời là 12 tiêu chí để phân loại hành vi ngôn ngữ. Searle đã phân loại hành vi ở lời ra thành 5 lớp lớn, đó là các hành vi: 1) Tái hiện; 2) Điều khiển; 3) Cam kết; 4) Biểu cảm; 5) Tuyên bố [12].

Nhìn chung, các tiêu chí phân loại của Searle sẽ giúp phân loại được các động từ nói năng (hành động ở lời) thành các phạm trù lớn, rồi lại chia nhỏ thành những loại và tiểu loại. Về việc sử dụng hành động ở lời: Hành động ở lời có thể được sử dụng trực tiếp hoặc có thể được sử dụng theo lối gián tiếp. - Tất cả những HĐNN mà các tác giả nghiên cứu đều là về các HĐNN (hành động ở lời) chân thực, nghĩa là những HĐNN được thực hiện đúng với đích ở lời, đúng với điều kiện sử dụng chúng; - Hiện tượng người giao tiếp sử dụng trên bề mặt hành động ở lời này nhưng lại nhằm hiệu quả của một hành động ở lời khác là hiện tượng sử dụng HĐNN theo lối gián tiếp. Theo Đỗ Hữu Châu: “Một hành vi sử dụng gián tiếp là một hành vi trong đó người nói thực hiện một hành vi ở lời này nhưng lại nhằm làm cho người nghe dựa vào những hiểu biết ngôn ngữ và ngoài ngôn ngữ chung cho cả hai người, suy ra hiệu lực ở lời của một hành vi khác” [12, tr.

Hành động ở lời gián tiếp được Austin nhắc đến một cách sơ lược và được Searle nghiên cứu kĩ và sâu hơn. Thuật ngữ hành động ngôn ngữ gián tiếp (indirect speech acts) do Searle đặt ra. Các HĐNN gián tiếp là một trong những phương thức tạo ra tính mơ hồ về nghĩa trong lời nói. Tuy nhiên, không phải người nói tùy tiện muốn dùng hành động ở lời trực tiếp nào để tạo ra hành động ở lời gián tiếp nào cũng được.

Quy tắc sử dụng gián tiếp các hành động ở lời hoặc vấn đề một hành động ở lời trực tiếp có thể được dùng để tạo ra những hành động gián tiếp nào là vấn đề chưa được giải quyết đến nơi đến chốn, cần tiếp tục có những nghiên cứu tiếp theo. Theo Đỗ Hữu Châu, cũng giống như mọi sự phân loại khác, sự phân loại HĐNN ở lời bao giờ cũng nhằm hai mục tiêu: một là, phát hiện ra các đặc tính quan yếu của các hành vi ở lời (là mục tiêu chủ yếu); hai là, sắp xếp chúng thành từng loại. Về cách phân loại hành động ở lời, chúng tôi còn nhận thấy có các nhà nghiên cứu D. M Harnis cũng tiến hành phân loại HĐNN ở lời.

Cách phân loại của các nhà nghiên cứu này chỉ khác với Searle chủ yếu ở: 1) việc lựa chọn tiêu chí nào là tiêu chí bậc một để phân loại; 2) việc lựa chọn các tiêu chí bổ sung cho tiêu chí bậc một và trật tự vận dụng các tiêu chí đó để phân chia loại lớn thành các tiểu loại. Như vậy, cách phân loại của các nhà nghiên cứu này đều thống nhất với Searle ở mục tiêu thứ nhất, đó là phát hiện ra đặc tính quan yếu của 8 hành động ở lời, thống nhất về đặc tính quyết định hành động ở lời. Điểm khác giữa họ là cách sắp xếp các hành động hay các nhóm hành động trong bảng phân loại của mình, tức chỉ khác ở mục tiêu thứ hai. (Dẫn theo Đỗ Hữu Châu, [12, tr.

Nhà nghiên cứu O. Ducrot nói rõ thêm về các hành động ở lời. "Hành động ở lời khác với hành động mượn lời ở chỗ chúng thay đổi tư cách pháp nhân của người đối thoại; chúng đặt người nói và người nghe vào những nghĩa vụ và quyền lợi mới so với tình trạng trước khi thực hiện hành động ở lời của họ" (Dẫn theo Đỗ Hữu Châu [12, tr. Nhà nghiên cứu G.

Yule (1996) trong cuốn Dụng học [45, tr.97] đã đưa ra giả thuyết ngôn hành những vấn đề của ngữ dụng học: chỉ xuất khoảng cách, quy chiếu và suy luận, tiền giả định và dẫn ý, cộng tác và hàm ý, lịch sự và tương tác, hội thoại, diễn ngôn và văn hóa… đồng thời tác giả này cũng đã đề cập đến hành động nói và sự kiện nói, trong đó có bàn đến các vấn đề như: phương tiện chỉ ra lực ngôn trung, điều kiện may mắn, giả thuyết ngôn hành, phân loại hành động nói,…Theo G.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu "Nghiên Cứu Hành Động Ngôn Ngữ Phê Phán Trong Tiểu Phẩm Báo Chí Việt Nam Thời Kỳ Đổi Mới" khám phá cách thức mà ngôn ngữ được sử dụng để phê phán và phản ánh các vấn đề xã hội trong bối cảnh Việt Nam đang chuyển mình. Nghiên cứu này không chỉ giúp người đọc hiểu rõ hơn về các chiến lược ngôn ngữ mà còn chỉ ra tầm quan trọng của việc sử dụng ngôn ngữ phê phán trong việc nâng cao nhận thức xã hội. Độc giả sẽ tìm thấy những lợi ích từ việc nắm bắt các phương pháp giao tiếp hiệu quả, từ đó có thể áp dụng vào thực tiễn trong các lĩnh vực như truyền thông, giáo dục và nghiên cứu xã hội.

Để mở rộng thêm kiến thức về ngôn ngữ và văn hóa, bạn có thể tham khảo các tài liệu liên quan như Luận văn khảo sát thực trạng từ điển đồng nghĩa tiếng việt hiện nay, nơi bạn sẽ tìm thấy thông tin về từ vựng và ngữ nghĩa trong tiếng Việt. Ngoài ra, Luận văn từ ngữ chỉ sự vật và hiện tượng tự nhiên trong thành ngữ tiếng việt sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về cách mà ngôn ngữ phản ánh thế giới tự nhiên qua thành ngữ. Cuối cùng, Nghiên cứu đối chiếu thành ngữ việt anh có yếu tố chỉ tiền bạc sẽ cung cấp cái nhìn sâu sắc về sự tương đồng và khác biệt trong cách diễn đạt giá trị kinh tế giữa hai ngôn ngữ. Những tài liệu này sẽ là cơ hội tuyệt vời để bạn khám phá sâu hơn về ngôn ngữ và văn hóa.