Tổng quan luận án

Luận án tiến sĩ ngữ văn (chuyên ngành Ngôn ngữ học, mã số 9.20) với đề tài "Hành động ngôn ngữ phê phán trong tiểu phẩm báo chí tiếng Việt thời kì Đổi mới (từ năm 1986 đến nay)" được tác giả Hà Văn Hậu thực hiện tại Học viện Khoa học Xã hội thuộc Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam, dưới sự hướng dẫn khoa học của TS. Vũ Thị Sao Chi và GS. Nguyễn Đức Tồn (bảo vệ năm 2018).

  • Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu: Báo chí Việt Nam thời kỳ Đổi mới (từ năm 1986 đến nay) ghi nhận sự phát triển mạnh mẽ về thể loại tiểu phẩm báo chí (TPBC). Với đặc thù phản ánh các hiện tượng, sự kiện tiêu cực có thật trong đời sống xã hội qua bút pháp châm biếm, đả kích, hành động ngôn ngữ phê phán (HĐNNPP) trở thành một trong những hành động ngôn ngữ chủ đạo trong thể loại này. Mặc dù lý thuyết ngữ dụng học đã được ứng dụng vào nhiều thể loại văn bản và đã có những nghiên cứu về hành động phê phán nói chung, song chưa có công trình nào đi sâu khảo sát hệ thống, chuyên biệt về HĐNNPP trong thể loại tiểu phẩm báo chí tiếng Việt từ góc độ ngữ dụng học kết hợp với các nhân tố văn hóa - xã hội.

  • Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu:

    • Mục đích nghiên cứu: Làm sáng tỏ những đặc điểm của HĐNNPP với tư cách là một hành động ngôn ngữ tiêu biểu trong thể loại TPBC, từ đó góp phần chỉ ra đặc điểm của ngôn ngữ báo chí nói chung và ngôn ngữ TPBC nói riêng từ góc độ ngữ dụng học.
    • Nhiệm vụ nghiên cứu:
      1. Hệ thống hóa các vấn đề lý thuyết cơ bản về hành động ngôn ngữ (HĐNN trực tiếp, HĐNN gián tiếp, HĐNNPP trực tiếp, HĐNNPP gián tiếp) và thể loại TPBC để làm cơ sở lý luận.
      2. Khảo sát, miêu tả và phân tích các cách thức, phương tiện ngôn ngữ thực hiện HĐNNPP trực tiếp và HĐNNPP gián tiếp trong TPBC tiếng Việt thời kỳ Đổi mới.
      3. Phân tích sự chi phối của các nhân tố văn hóa - xã hội (quan điểm, lập trường tư tưởng chính trị, phép lịch sự, truyền thống văn hóa ứng xử của người Việt, đặc thù giao tiếp báo chí cách mạng, nội dung chủ đề phê phán) tới việc sử dụng HĐNNPP trong TPBC.
  • Đối tượng, phạm vi và nguồn ngữ liệu:

    • Đối tượng nghiên cứu: Hành động ngôn ngữ phê phán trong thể loại tiểu phẩm báo chí tiếng Việt thời kì Đổi mới.
    • Phạm vi nghiên cứu: Tập trung khảo sát cách thức thực hiện HĐNNPP, các phương tiện ngôn ngữ biểu đạt và sự chi phối của các nhân tố văn hóa - xã hội đối với HĐNNPP.
    • Nguồn ngữ liệu: Khảo sát trên 1.015 tác phẩm TPBC tiêu biểu thời kỳ Đổi mới (từ năm 1986 đến thời điểm thực hiện luận án) đăng tải trên các ấn phẩm báo in và báo điện tử chính thống: Nhân dân, Lao động, Giáo dục và Thời đại, Tiền phong, Thể thao & Văn hóa, An ninh thế giới (cuối tháng), Đời sống pháp luật, Nông thôn ngày nay, Tuổi trẻ TP. Hồ Chí Minh, các tạp chí Nhà báo và Công luận, Người làm báo, Làng Việt cùng một số trang thông tin điện tử chính thức.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Luận án tổng thuật có hệ thống các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước trên ba mảng nội dung chính:

  1. Nghiên cứu về lý thuyết hành động ngôn ngữ:

    • Trên thế giới: Luận án điểm lại lý thuyết nền tảng của J. L. Austin (1962) trong How to do things with words (phân chia 3 hành vi: tạo lời, mượn lời, ở lời; 5 nhóm hành vi ở lời: phán xét, hành xử, cam kết, trình bày, ứng xử; thuyết minh về phát ngôn ngôn hành và điều kiện may mắn). Kế thừa sự phát triển của J. R. Searle (1969, 1975) với 12 tiêu chí phân loại, 5 lớp hành vi ở lời (tái hiện, điều khiển, cam kết, biểu cảm, tuyên bố), 4 điều kiện thỏa mãn và khái niệm hành động ngôn ngữ gián tiếp (indirect speech acts). Ngoài ra, tác giả điểm qua quan điểm của D. M. Harnis, O. Ducrot và G. Yule (1996) về cấu trúc hành động tạo ngôn, ngôn trung, dụng ngôn.
    • Tại Việt Nam: Các nghiên cứu lý luận và ứng dụng ngữ dụng học của Hoàng Phê (1989), Đỗ Hữu Châu (1992, 2009), Cao Xuân Hạo (1991), Hồ Lê (1995), Nguyễn Đức Dân (1998), Nguyễn Thiện Giáp (1998), Đỗ Việt Hùng, Nguyễn Văn Hiệp, Nguyễn Văn Khang...
  2. Nghiên cứu về hành động ngôn ngữ phê phán:

    • Tài liệu quốc tế: Các công trình của Tracy, Dussen và Robinson (1987) về 5 đặc tính phong cách của lời phê phán và khảo sát chủ đề, đối tượng phê phán; House và Kasper (1981); Tracy và Eisenberg (1990); Wajnryb (1993, 1995) về tiếp nhận lời phê phán; Toplak và Katz (2000) về hiệu quả giao tiếp của lời phê phán trực tiếp và gián tiếp.
    • Tài liệu trong nước: Các nghiên cứu liên ngôn ngữ và đối chiếu của Nguyễn Thị Thủy Minh (2005) về chuyển di ngữ dụng của người Việt học tiếng Anh; Hoàng Thị Xuân Hoa (2008) về hành động phê bình giao văn hóa Việt - Mỹ; Đoàn Trần Thùy Vân (2010) về hành động phê phán trong truyện ngắn tiếng Anh và tiếng Việt; Lê Thị Thúy Hà (2015) về tính lịch sự trong hành động ngôn từ phê phán đối chiếu Việt - Anh.
  3. Nghiên cứu về ngôn ngữ báo chí và ngôn ngữ tiểu phẩm báo chí:

    • Về ngôn ngữ báo chí chung: Các công trình của Frank Dance, Leonard Ray Teel và Ron Taylor (2004), Line Ross (2004), Philip Gaillard (2007), Đinh Trọng Lạc (1993), Nguyễn Trọng Báu (1995), Đức Dũng (1998), Hà Minh Đức (2000), Đinh Văn Đức (1999, 2003), Hữu Đạt (2000), Vũ Quang Hào (2001), Hoàng Anh (2003, 2008), Nguyễn Tri Niên (2004), Nguyễn Đức Dân (2007), Trần Thanh Nguyện (2011), Hồ Xuân Mai (2014), Dương Xuân Sơn (2012, 2013), Trần Thế Phiệt (2014)...
    • Về các bình diện chuyên sâu: Nghiên cứu thể loại và phong cách của Trịnh Thị Bích Liên (2009), Cao Thị Xuân Phượng (2011), Mai Xuân Huy (2005), Trần Thu Nga (2007), Huỳnh Thị Chuyên (2014), Nguyễn Hòa (1999), Nguyễn Thị Thanh Hương (2003), Phạm Hữu Đức (2008), Nguyễn Hồng Sao (2010), Nguyễn Đức Tồn (1999), Trịnh Sâm (2008), Đinh Kiều Châu (2014, 2016)...

Khoảng trống nghiên cứu luận án giải quyết: Các công trình trước đây chủ yếu khảo sát hành động phê phán trong giao tiếp đời thường, hội thoại kịch, tác phẩm văn học hoặc đối chiếu liên văn hóa. Luận án của Hà Văn Hậu là công trình đầu tiên khảo sát trực tiếp và toàn diện HĐNNPP trong một thể loại báo chí cụ thể là tiểu phẩm báo chí tiếng Việt thời kỳ Đổi mới, miêu tả chi tiết cả hai phương thức thực hiện trực tiếp và gián tiếp gắn liền với bối cảnh văn hóa - xã hội Việt Nam.


Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý thuyết và khung phân tích

  • Lý thuyết hành động ngôn ngữ: Luận án vận dụng mô hình phân tích cấu trúc phát ngôn gồm hai thành phần: nội dung mệnh đề ($p$) và hiệu lực ở lời/lực ngôn trung ($F$). Phân biệt phát ngôn ngôn hành (PNNH) tường minh và PNNH nguyên cấp; biểu thức ngôn hành (BTNH) tường minh (có chứa động từ ngôn hành - ĐTNH) và BTNH nguyên cấp (không chứa ĐTNH); xác định các phương tiện chỉ dẫn lực ngôn trung (IFIDs) gồm từ ngữ ngữ vi, tiểu từ tình thái, ngữ điệu, dấu câu, trật tự từ và quan hệ ngữ nghĩa giữa các thành tố trong mệnh đề.
  • Khái niệm hành động ngôn ngữ phê phán (HĐNNPP): Kế thừa khung giải thích nghĩa của Anna Wierzbicka (1987), tác giả xác lập khung phân tích HĐNNPP với 3 luận đề kiểm chứng:
    1. Tôi nhận thấy $Y$ có hành vi sai trái, đi ngược lại quy luật chung của tự nhiên hoặc chuẩn mực chung của xã hội, hay nguyên tắc, quy định chung của cộng đồng;
    2. Tôi đưa ra lời đánh giá thấp, bộc lộ quan điểm, thái độ phản đối, không đồng tình đối với hành vi đó của $Y$;
    3. Tôi nghĩ rằng người nghe sẽ nhận thức ra hành vi sai trái, tiêu cực này của $Y$ để từ đó đấu tranh, bài trừ, xóa bỏ hành vi sai trái, tiêu cực đó.
  • Định nghĩa HĐNNPP của luận án: Là hành động đánh giá thấp, bộc lộ quan điểm không đồng tình, phản đối của người phát ngôn ($Sp_1$) đối với hành vi nào đó bị coi là xấu, sai trái, tiêu cực của $Y$ (người bị phê phán), nhằm mục đích tác động tới nhận thức, thái độ, hành vi của người tiếp nhận phát ngôn ($Sp_2$) để hướng họ tới sự đấu tranh, bài trừ, xóa bỏ hành vi sai trái, tiêu cực đó.
  • Thang độ lực ngôn trung của các tiểu nhóm HĐNNPP: Phân cấp từ thấp/nhẹ đến rất cao/rất mạnh: Chê / chê trách $\rightarrow$ Phê bình $\rightarrow$ Phê phán $\rightarrow$ Chỉ trích $\rightarrow$ Phản đối $\rightarrow$ Lên án.
  • Bốn điều kiện thỏa mãn HĐNNPP:
    1. Điều kiện nội dung mệnh đề: $Sp_1$ nhận diện $Y$ có hành vi sai trái, tiêu cực gây hậu quả xấu.
    2. Điều kiện chuẩn bị: $Sp_1$ không hài lòng và nhận thấy $Sp_2$ chưa nhận thức đầy đủ nên có trách nhiệm phê phán.
    3. Điều kiện chân thành: $Sp_1$ tin rằng việc phê phán sẽ góp phần thay đổi hành vi của $Y$ theo hướng tích cực.
    4. Điều kiện căn bản: $Sp_1$ tự ràng buộc trách nhiệm về tính đúng đắn của điều phê phán.

Phương pháp và thủ pháp nghiên cứu

  • Phương pháp luận: Chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử.
  • Phương pháp nghiên cứu:
    • Phương pháp phân tích: Kết hợp phân tích nội ngôn (phương tiện từ vựng, ngữ pháp, cấu trúc biểu thức ngôn hành) và phân tích ngoại ngôn (ngữ cảnh giao tiếp báo chí, bối cảnh văn hóa - xã hội).
    • Phương pháp miêu tả: Miêu tả diện mạo, cấu trúc và cách thức vận hành của HĐNNPP trong văn bản.
    • Phương pháp nghiên cứu liên ngành: Kết hợp ngôn ngữ học với lý luận báo chí, văn hóa học và xã hội học.
  • Thủ pháp nghiên cứu: Thống kê, phân loại; phân tích, tổng hợp, hệ thống hóa; cải biên / thay thế giả định; so sánh, đối chiếu.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lý thuyết của đề tài

Chương này dành 50 trang để tổng quan tình hình nghiên cứu ngữ dụng học, lý thuyết HĐNN, HĐNNPP và ngôn ngữ báo chí/tiểu phẩm báo chí; đồng thời xây dựng toàn bộ khung lý thuyết nền tảng cho luận án. Tác giả làm rõ bản chất thể loại TPBC là thể loại vừa mang tính thông tin thời sự, vừa mang tính châm biếm, nghệ thuật; chỉ ra HĐNNPP thuộc lớp hành động biểu cảm (theo Searle) hoặc ứng xử (theo Austin) và xác lập các tiêu chí phân biệt HĐNNPP trực tiếp và gián tiếp trong văn bản báo chí.

Chương 2: Hành động ngôn ngữ phê phán trực tiếp trong tiểu phẩm báo chí tiếng Việt thời kì Đổi mới (từ năm 1986 đến nay)

Khảo sát trên 1.015 tác phẩm tiểu phẩm báo chí, tác giả nhận diện được 72 lượt xuất hiện HĐNNPP trực tiếp (chiếm tỷ lệ rất nhỏ so với HĐNNPP gián tiếp).

Chương 2 tập trung phân tích:

  • Biểu thức ngôn hành phê phán (BTNHPP) trực tiếp: Phân tích các kiểu loại BTNHPP tường minh (sử dụng động từ ngôn hành phê phán như phê bình, lên án, phản đối, chỉ trích...) và BTNHPP nguyên cấp (sử dụng các từ ngữ đánh giá tiêu cực mang tính định danh trực tiếp).
  • Các thành phần trong BTNHPP trực tiếp: Khảo sát tần số hiển thị của chủ thể phát ngôn ($Sp_1$), đối tượng tiếp nhận ($Sp_2$), đối tượng bị phê phán ($Y$) và nội dung mệnh đề phê phán ($NDMĐPP$).
  • Thành phần mở rộng trong phát ngôn phê phán trực tiếp: Khảo sát các thành phần nêu cơ sở của sự phê phán (chứng cứ, sự việc thực tế, quy định pháp luật) và các thành phần mang tính rào đón nhằm giảm thiểu mức độ đe dọa thể diện.

Chương 3: Hành động ngôn ngữ phê phán được thực hiện gián tiếp trong tiểu phẩm báo chí tiếng Việt thời kì Đổi mới (từ năm 1986 đến nay)

Khảo sát thực tế cho thấy HĐNNPP gián tiếp là phương thức biểu đạt áp đảo trong TPBC thời kỳ Đổi mới với 1.152 lượt xuất hiện. Tác giả phân loại và miêu tả chi tiết các nhóm hành động ngôn ngữ được dùng làm vỏ bọc gián tiếp:

Nhóm hành động ngôn ngữ thực hiện gián tiếp Số lượng HĐNN ghi nhận Bảng thống kê phương tiện chuyên dụng trong luận án
Hành động trần thuật - phê phán (thuộc nhóm tái hiện) 661 Bảng 3.5 (trang 127)
Hành động hỏi - phê phán (thuộc nhóm điều khiển) 123 Bảng 3.6 & Bảng 3.7 (trang 137, 138)
Hành động than phiền - phê phán (thuộc nhóm biểu cảm) 84 Bảng 3.2 (trang 93)
Hành động mỉa mai - phê phán (thuộc nhóm biểu cảm) 48 Bảng 3.3 (trang 101)
Hành động phủ định - phê phán (thuộc nhóm biểu cảm) 11 Bảng 3.4 (trang 106)
Các nhóm hành động gián tiếp khác 225 Tổng hợp tại Bảng 3.1 & Bảng 3.8 (trang 87, 141)
Tổng cộng HĐNNPP gián tiếp 1.152 Bảng 3.1 & Bảng 3.8

Chương 3 chỉ ra rằng:

  • Hành động trần thuật - phê phán chiếm ưu thế lớn nhất (661 lượt), thực hiện chức năng kể lại sự việc tiêu cực, dùng lối nói nghịch lý, tương phản để người đọc tự rút ra kết luận phê phán.
  • Hành động hỏi - phê phán (123 lượt) khai thác các câu hỏi tu từ, hỏi vặn, hỏi để khẳng định sự vô lý nhằm bộc lộ lực ngôn trung phê phán.
  • Các hành động than phiền, mỉa mai, phủ định thể hiện rõ sắc thái cảm xúc, tạo tiếng cười châm biếm sâu cay.
  • Luận án lý giải nguyên nhân HĐNNPP gián tiếp chiếm tỷ lệ áp đảo là do văn hóa giao tiếp tế nhị của người Việt (tránh đe dọa thể diện trực tiếp), đặc trưng của thể loại tiểu phẩm (dùng hình tượng, ngụ ý, châm biếm) và định hướng tư tưởng của báo chí cách mạng.

Kết quả và những đóng góp mới

Đóng góp mới về mặt lý luận

  1. Xác lập vị trí chủ đạo của HĐNNPP: Chứng minh trên cứ liệu thực tế rằng HĐNNPP là hành động ngôn ngữ chủ đạo, chi phối cấu trúc diễn ngôn của thể loại tiểu phẩm báo chí tiếng Việt thời kỳ Đổi mới.
  2. Xây dựng khung khái niệm và phân loại hoàn chỉnh: Đưa ra định nghĩa khoa học về HĐNNPP dựa trên khung phân tích vị từ ngữ nghĩa; xác lập thang độ lực ngôn trung (6 bậc từ chê trách đến lên án) và mô hình hóa các điều kiện thỏa mãn của HĐNNPP.
  3. Làm rõ cơ chế ngữ dụng của HĐNNPP trực tiếp và gián tiếp: Miêu tả chi tiết cấu trúc biểu thức ngôn hành, các phương tiện chỉ dẫn lực ngôn trung (IFIDs), phương tiện mở rộng (rào đón, nêu cơ sở) và cơ chế giải mã hàm ngôn trong các hành động trần thuật - phê phán, hỏi - phê phán, than phiền - phê phán, mỉa mai - phê phán.
  4. Gắn kết ngữ dụng học với nhân tố văn hóa - xã hội: Lý giải mối quan hệ tương tác giữa các chiến lược ngôn ngữ với tâm lý tiếp nhận, truyền thống văn hóa ứng xử của người Việt, phép lịch sự và định hướng tư tưởng của báo chí Việt Nam.

Đóng góp mới về mặt thực tiễn

  1. Bộ ngữ liệu thực nghiệm quy mô lớn: Thu thập và xử lý định lượng 1.015 tiểu phẩm báo chí tiêu biểu từ năm 1986 đến 2018, nhận diện 1.224 phát ngôn phê phán (72 phát ngôn trực tiếp và 1.152 phát ngôn gián tiếp).
  2. Ứng dụng trong đào tạo và sáng tạo báo chí: Cung cấp tài liệu tham khảo cho việc giảng dạy các học phần Ngữ dụng học, Ngôn ngữ báo chí, Phong cách học tại các trường đại học đào tạo ngành Ngữ văn, Báo chí - Truyền thông; hỗ trợ các phóng viên, biên tập viên nâng cao kỹ năng sử dụng ngôn từ khi sáng tác tiểu phẩm báo chí.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Luận án giới hạn phạm vi ngữ liệu trong thể loại tiểu phẩm báo chí tiếng Việt thời kỳ Đổi mới (1986 - 2018) trên các báo in và tạp chí chính thống, chưa mở rộng sang toàn bộ các thể loại báo chí khác hoặc các dạng thức truyền thông mạng xã hội phi chính thống.
  • Hướng nghiên cứu tiếp:
    • Mở rộng khảo sát HĐNNPP trên các thể loại báo chí khác như phóng sự, bình luận, xã luận, thư bạn đọc.
    • Vận dụng mô hình phân tích ngữ dụng học của luận án để nghiên cứu các hành động ngôn ngữ khác (khen ngợi, thuyết phục, tranh luận) trong diễn ngôn báo chí tiếng Việt.

Giá trị tham khảo

  • Đối với giảng viên và nghiên cứu sinh/học viên: Là tài liệu tham khảo cho các chuyên đề Ngữ dụng học ứng dụng, Phân tích diễn ngôn, Ngôn ngữ học xã hội và Ngôn ngữ báo chí tại các khoa Ngữ văn, Báo chí và Truyền thông.
  • Đối với phóng viên, biên tập viên báo chí: Cung cấp hệ thống các phương tiện ngôn ngữ, chiến lược rào đón, cách thức tổ chức câu hỏi tu từ và kết cấu trần thuật mỉa mai giúp nâng cao hiệu quả tác động của tác phẩm tiểu phẩm báo chí mà vẫn đảm bảo tính văn hóa và chuẩn mực chính trị - xã hội.

Câu hỏi thường gặp

1. Luận án xác định hành động ngôn ngữ phê phán (HĐNNPP) thuộc lớp hành động nào theo lý thuyết ngữ dụng học?

Theo phân loại của J. L. Austin (1962), HĐNNPP thuộc lớp hành vi Ứng xử (behavitives - phản ứng với cách xử sự của người khác); theo phân loại của J. R. Searle (1975), HĐNNPP được xếp vào lớp hành vi Biểu cảm (expressives - bộc lộ thái độ, đánh giá tâm lý đối với trạng thái sự việc).

2. Tương quan tần số xuất hiện giữa HĐNNPP trực tiếp và HĐNNPP gián tiếp trong ngữ liệu khảo sát là bao nhiêu?

Trong 1.015 tiểu phẩm báo chí khảo sát, tác giả ghi nhận tổng cộng 1.224 hành động phê phán, trong đó:

  • HĐNNPP trực tiếp xuất hiện 72 lượt (tần số rất thấp).
  • HĐNNPP gián tiếp xuất hiện 1.152 lượt (chiếm ưu thế tuyệt đối).

3. Trong nhóm HĐNNPP gián tiếp, kiểu hành động nào được sử dụng nhiều nhất và số lượng là bao nhiêu?

Hành động trần thuật - phê phán (thuộc nhóm hành động tái hiện) được sử dụng nhiều nhất với 661 lượt, chiếm đa số trong tổng số 1.152 HĐNNPP gián tiếp, tiếp theo là hành động hỏi - phê phán với 123 lượt.

4. Luận án phân chia thang độ lực ngôn trung của các tiểu nhóm HĐNNPP như thế nào?

Luận án sắp xếp 6 tiểu nhóm hành động phê phán theo thang độ tăng dần của cường độ lực ngôn trung: $$\text{Chê / Chê trách (Thấp/nhẹ)} \rightarrow \text{Phê bình (Trung bình)} \rightarrow \text{Phê phán / Chỉ trích (Cao/mạnh)} \rightarrow \text{Phản đối / Lên án (Rất cao/rất mạnh)}$$

5. Vì sao thể loại tiểu phẩm báo chí tiếng Việt thời kỳ Đổi mới lại chuộng phương thức phê phán gián tiếp hơn trực tiếp?

Luận án giải thích do HĐNNPP là hành động có mức độ đe dọa thể diện cao (face-threatening act). Việc sử dụng các phương thức gián tiếp (trần thuật châm biếm, hỏi tu từ, than phiền, mỉa mai) vừa phù hợp với truyền thống văn hóa giao tiếp tế nhị, lịch sự của người Việt, vừa phát huy tối đa đặc trưng thi pháp của thể loại tiểu phẩm báo chí (tạo tiếng cười châm biếm, kín đáo, sâu cay nhưng vẫn đạt mục đích đấu tranh tư tưởng).


Kết luận

Luận án tiến sĩ của tác giả Hà Văn Hậu là công trình nghiên cứu hệ thống về hành động ngôn ngữ phê phán trong tiểu phẩm báo chí tiếng Việt thời kỳ Đổi mới dưới góc độ ngữ dụng học. Dựa trên việc khảo sát 1.015 tác phẩm và phân tích 1.224 phát ngôn ngôn hành, luận án đã làm rõ cấu trúc biểu thức ngôn hành, các phương tiện ngôn ngữ chuyên dụng cùng cơ chế vận hành của HĐNNPP trực tiếp (72 trường hợp) và gián tiếp (1.152 trường hợp). Công trình đã lý giải thuyết phục sự chi phối của các nhân tố văn hóa, xã hội và thể loại đối với sự lựa chọn chiến lược ngôn ngữ, đóng góp thiết thực cho lý luận ngôn ngữ học ứng dụng và thực tiễn hoạt động báo chí tại Việt Nam.